Giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội - Pdf 12

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
KCNC Khu công nghệ cao
BQL Ban quản lý
CNH- HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
UBND Uỷ ban nhân dân
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GO Giá trị sản xuất
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A

Luận văn tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Trong quá trình thực hiện chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nền kinh tế quốc dân và thực hiện chính sách mở cửa, chủ động tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng các khu công nghiệp và cụm công
nghiệp ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có vai trò hết sức quan
trọng không những để nâng cao khả năng thu hút đầu tư từ ngoài nước mà
còn nhằm nhanh chóng tạo nên một khu vực công nghiệp năng động có trình
độ công nghệ cao, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế quốc dân
và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
Mô hình khu công nghiệp và cụm công nghiệp có nhiều dạng khác nhau
như khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghiệp tập trung, cụm công
nghiệp vừa và nhỏ. Chúng đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới và

CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Lý luận về khu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm về khu công nghiệp
Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định số
36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, hiện nay có 3 khái niệm do Nhà nước
quy định về khu công nghiệp, xuất phát từ đặc điểm sản xuất quản lý của
chúng.
• Khu công nghiệp (industrial zone, industrial park, industrial estate) là
khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho các sản xuất công nghiệp, có ranh giới
địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh
nghiệp chế xuất.
Từ định nghĩa về KCN cho phép rút ra một số kết luận sau:
- KCN là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách bằng đường bao
hữu hình hoặc vô hình.
- Được phân bố tập trung với hạt nhân là các doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp (hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến, tư liệu sản xuất) và hệ thống
doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp dịch vụ cho sản xuất công
nghiêp.
- Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công
nghiẹp sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo một cơ chế tổ chức
quản lý thống nhất của Ban quản lý KCN. Trong đó KCN có doanh nghiệp
phát triển hạ tầng KCN có trách nhiệm đảm bảo hạ tầng kỹ thuật và xã hội
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
3
Luận văn tốt nghiệp
của cả khu trong suốt thời gian tồn tại KCN.

loại hình công nghệ đầu hiện đang được chú trọng ở Việt Nam.
Trong khu công nghệ cao có thể có nhà ở, công trình thương mại dịch vụ
cao, nghỉ ngơi, giải trí.
Khu công nghệ cao là một khu công nghệ đặc biệt, số lượng hạn chế.
Hiện nay Việt Nam mới đang triển khai 2 khu công nghệ cao tại thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thực tế hiện nay xuất hiện thêm một số khái niệm hay mô hình
công nghiệp mới như KCN địa phương, KCN nông thôn. Đây là các KCN
phục vụ chủ yếu cho các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trong nước
với hoạt động không chỉ đơn thuần là sản xuất mà còn gắn liền với các hoạt
động khác như thương mại, dịch vụ, nhà ở.
Khu công nghiệp về cơ bản là một khu chức năng của đô thị. Hiện nay
mô hình quản lý phát triển khu công nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là mô
hình về Công ty đầu tư xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công
nghiệp và Ban quản lý khu công nghiệp.
• Cụm công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập, có quy
mô nhỏ hơn khu công nghiệp. Các cụm công nghiệp thường có quy mô nhỏ,
diện tích chỉ khoảng 10-15ha, có thể không có tường rào phân cách. Điều
hành hoạt động cụm công nghiệp là các công ty hoặc cấp hành chính tỉnh,
huyện, xã. Các tiêu chí về cơ sở hạ tầng không nhiều và đôi khi rất đơn giản.
1.1.2. Phân loại khu công nghiệp
Ở Việt Nam, khu công nghiệp thường được phân loại như sau:
- Phân loại theo đặc điểm quản lý: Có 3 loại KCN:
+ KCN tập trung: Là KCN có thể đa ngành, chuyên ngành hoặc là những
KCN có quy mô và diện tích khác nhau được hình thành với các điều kiện
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
5
Luận văn tốt nghiệp
khác nhau.

năm 2020, số KCN có quy mô đến 100ha chiếm tỷ lệ khoảng 28,2%, KCN có
quy mô 100 – 300ha chiếm tỷ lệ 31,5%, KCN có quy mô lớn hơn 300ha
chiếm tỷ lệ lớn nhất đến 40,3%.
Trong một đô thị có thể có nhiều khu công nghiệp với quy mô khác nhau
tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển công nghiệp cũng như quy mô đất đai, hệ
thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội kèm theo.
1.1.3.Đặc điểm của khu công nghiệp
KCN và KCX là công cụ để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư
trong nước và nước ngoài để tạo ra năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng
nhu cầu về hàng hoá của thị trường trong nước và quốc tế. Với cơ cấu được
hình thành trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, KCN và KCX bao gồm
những đặc điểm chủ yếu sau:
- KCN có cơ sở kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong
nước và nước ngoài tạo môi trường thuận lơị, hấp dẫn cho phép các nhà đầu
tư sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để thành lập các nhà máy, xí
nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ ưu đãi về thủ tục xin và cho thuê đất, miễn
hoặc giảm thuế. Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu thu hút từ nước
ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước. ở các nước, Chính phủ thường bỏ
vốn xây dựng cơ sở hạ tầng như san lấp mặt bằng, làm đường giao thông. ở
Việt Nam, Nhà nước không có đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Vì vậy,
việc đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở khu công nghiệp được hiểu là tiến hành
kêu gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước kể cả xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế
thị trường. Bởi vậy cơ chế quản lý trong KCN lấy điều tiết thị trường làm
chính.
- KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn là một vương
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
7
Luận văn tốt nghiệp
quốc độc lập như KCX. Do vậy, các chế độ quản lý hành chính, các quyết

trưởng GDP của khu công nghiệp.
- Phát triển trình độ công nghệ của mỗi ngành công nghiệp, mỗi địa
phương và toàn bộ đất nước.
- Phát triển đồng bộ các tiêu chí kinh tế, công nghệ với bảo đảm yêu cầu
bảo vệ môi trường, tài nguyên và sinh thái.
- Phát triển năng lực sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên cơ sở bảo đảm các yếu tố tăng
cường chuỗi cung ứng giá trị gia tăng, hạ thấp chi phí bình quân trên đơn vị
sản phẩm trong dài hạn và phát triển các yếu tố cạnh tranh bền vững của
chúng.
- Phát triển các điều kiện kinh tế xã hội trong và ngoài hàng rào khu
công nghiệp trong mối liên kết với khu vực, cộng đồng dân cư, tổ chức nguồn
nhân lực và thúc đẩy quá trình đô thị hoá ở các địa phương và cả nước.
1.2.2.Các tiêu chí phát triển công nghiệp
 Số lượng các khu cong nghiệp và số dự án đầu tư :
Số lượng các KCN trên địa bàn phản ánh khả năng quy hoạch xây dựng
KCN để thu hút vốn đầu tư vào địa phương.
Số các dự án đầu tư vào từng KCN cho phép xác định khả năng thu hút
các nhà đầu tư và đồng thời chỉ tiêu này còn cho phép so sánh hiệu quả khai
thác các dự án đầu tư giữa các KCN với nhau.
 Vị trí của khu công nghiệp:
Đây là tiêu chí rất quan trọng đánh giá sự thành công của khu công
nghiệp. Khu công nghiệp đảm bảo vị trí thuận lợi, gần cảng biển, cảng hàng
không, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội thuận lợi, có nguồn nhân lực dồi dào,
hấp dẫn các nhà đầu tư, chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công
nghiệp thấp và được các ngành trong nước hỗ trợ...thì sự phát triển của khu
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
9
Luận văn tốt nghiệp
công nghiệp rất thuận lợi và ngược lại, những khu công nghiệp không đáp

có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư.
Những vùng, địa phương ở xa các đô thị lớn, cảng biển thì phát triển
KCN theo các mục tiêu sau: với mục tiêu phát huy nội lực nhằm khai thác các
thế mạnh của địa phương và giải quyết lao động cho địa phương thì hình
thành KCN có quy mô từ 50 – 100ha, chủ đầu tư hạ tầng KCN là doanh
nghiệp trong nước. Với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình
thành các KCN có quy mô từ 100 -200ha, chủ đầu tư phát triển hạ tầng là
doanh nghiệp trong nước.
- Về nguồn vốn:
+Tổng vốn đầu tư: chỉ tiêu này dùng để xác định tổng số vốn đã được
các nhà đầu tư đầu tư vào KCN, đồng thời là tiêu chí đánh giá, so sánh hiệu
quả thu hút vốn giữa các KCN với nhau.
+Tỷ lệ vốn trên đơn vị diện tích đất KCN (vốn/ha)
Chỉ tiêu này được dùng để so sánh, đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư
trên 1 đơn vị diện tích đất giữa các KCN với nhau để từ đó chúng ta có thể so
sánh đánh giá tính hấp dẫn thu hút vốn của các KCN một cách chính xác hơn.
- Về lao động:
+Số lao động trên 1 đơn vị diện tích đất KCN (lao động /ha)
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết
việc làm giữa các KCN với nhau. Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được
lợi ích của việc xây dựng các KCN trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp
và lao động dư thừa ở các địa phương và KCN.
+Tỷ lệ lao động có chuyên môn, tay nghề: phản ánh trình độ chuyên
môn và tay nghề của những người lao động trong KCN. Từ đó, đánh giá được
trình độ khoa học công nghệ của dự án đi vào hoạt động trong KCN. Chỉ tiêu
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
11
Luận văn tốt nghiệp
này được xác định bằng công thức:
 Quy hoạch sử dụng đất trong khu công nghiệp:

phí triển khai xây dựng KCN có thể kéo dài 15 – 20 năm, nhanh cũng phải
mất 10 năm, còn nếu sau 10 – 15 năm mà vẫn còn trống đa phần diện tích
KCN thì có thể kết luận KCN đó gặp thất bại.
- Giai đoạn 2: giai đoạn trưởng thành, được đặc trưng bởi sự phát triển
các mối liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả giữa doanh nghiệp
trong và ngoài KCN, bởi định hướng này càng rõ nét việc nâng cao hàm
lượng khoa học của các công nghệ và sản phẩm của KCN.
- Giai đoạn 3: giai đoạn hoà nhập, tức KCN mất dần tính khép kín và
vượt trội cả về các ưu đãi lẫn chất lượng cạnh tranh so với các vùng khác
trong nước. Khi đó KCN mất đi ý nghĩa ban đầu.
 Hệ số thoả mãn các nhu cầu về đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu chí này đánh giá chất lượng hạ tầng kỹ thuật xã hội của khu công
nghiệp. Tiêu chí này được thể hiện qua việc đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng
kỹ thuật xã hội của các nhà đầu tư đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất
các loại sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao có yêu cầu ngặt nghèo về
chất lượng điện, nước, lao động.
 Năng lực sản xuất của khu công nghiệp:
Qua việc đánh giá giá trị sản lượng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu,
nghĩa vụ nộp thuế, năng suất, trình độ công nghệ, số lao động, thu nhập bình
quân lao động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệ, tiêu chí này đánh
giá hiệu quả kinh tế xã hội của khu công nghiệp. Tiêu chí này phụ thuộc rất
nhiều vào tiêu chí quy mô và loại hình khu công nghiệp. Tiêu chí này là cơ sở
để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của khu công nghiệp đối với nền kinh tế
của địa phương.
 Chất lượng xử lý nước thải và bảo vệ môi trường:
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
13
Luận văn tốt nghiệp
Khu công nghiệp là nơi tập trung số lượng lớn các nhà máy công nghiệp.
Tại đây, nếu chất thải công nghiệp không được xử lý tốt sẽ làm cho môi

hoạch phát triển KCN đáp ứng các hoạt động sản xuất công nghiệp để phát
triển khả năng tương hỗ, giảm chi phí cho lưu thông, mở rộng khả năng tiếp
cận thị trường là tất yếu. Căn cứ vào bài học kinh nghiệm trong nước và các
nước trên thế giới và khu vực đã trải qua cho thấy, tổ chức các hoạt động sản
xuất công nghiệp vào các KCN tập trung là hướng đi duy nhất.
KCN, KCX chính là một cửa mở, một nhịp cầu thông thương giữa thị
trường trong nước với thị trường nước ngoài, một vùng tạo nên phản xạ 2
chiều, cung cấp nhiều thông tin về thị trường cho các doanh nghiệp trong
nước. Nếu xây dựng thành công, KCN và KCX sẽ trở thành một mô hình kinh
tế năng động, có hiệu quả cao. Đây sẽ là nơi đào tạo cán bộ kỹ thuật, công
nhân lành nghề và cán bộ quản lý có trình độ cao, đủ sức vươn xa hơn ra thị
trường thế giới. Với mật độ công nghiệp cao, cơ cấu kinh tế năng động, kỹ
thuật cao, công nghệ mới, các khu này sẽ có tác dụng rút ngắn khoảng cách
giữa thị trường trong nước với thị trường thế giới và làm thay đổi bức tranh
kinh tế của đất nước.
1.2.3.2.Mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp và thành phố
Công nghiệp ngày nay đã trở thành nhân tố quan trọng trong việc hình
thành và phát triển các điểm dân cư. Trong các nước công nghiệp phát triển,
các xí nghiệp có thể chiếm từ 30- 60% đất xây dựng và ảnh hưởng tích cực
đến sự hình thành bố cục quy hoạch kiến trúc của thành phố. Do vậy việc bố
trí và tổ chức quy hoạch tổng thể các xí nghiệp công nghiệp có ảnh hưởng rất
lớn đối với vấn đề tổ chức không gian kiến trúc đô thị.
Từ khi công nghiệp hình thành và phát triển, đời sống tinh thần của xã
hội đổi mới. Công nghiệp tạo ra một nguồn lực dồi dào cho dân cư đô thị, đời
sống được cải thiện một xã hội văn minh, khoa học kỹ thuật được phát triển.
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
15
Luận văn tốt nghiệp
Công nghiệp phát triển một bộ mặt của thành phố thay đổi, bên cạnh khu
dân cư đầy chất trữ tình và ấm cúng là các nhà máy với những không gian sản

- Tiết kiệm đất sản xuất nông nghiệp cho năng suất cao, nên sử dụng các
khu đất hoang hoá để dùng cho phát triển công nghiệp.
- Kết hợp yêu cầu phát triển an ninh quốc phòng trong từng trường hợp
cụ thể của từng khu vực.
- Phát triển khu công nghiệp là sự kết hợp chặt chẽ với quy hoạch và quy
trình đô thị hoá, phân bố dân cư, hình thành mạng lưới đô thị hài hoà trên các
vùng, tránh tập trung xây dựng các đô thị, khu công nghiệp quá lớn.
1.3.1.2.Kết hợp cải tạo các khu công nghiệp cũ và phát triển các khu
công nghiệp mới theo một kế hoạch mà phù hợp cho phát triển kinh tế theo
vùng
- Đối với các khu công nghiệp và cơ sở công nghiệp cũ hiện có, cần đầu
tư chiều sâu, tận dụng năng lực cải tạo, đổi mới công nghệ nâng cao chất
lượng sản phẩm. Về kết cấu hạ tầng cần nâng cấp cải tạo để khắc phục ô
nhiễm môi trường, phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng các nhà máy mới, cải
tạo các nhà máy cũ trong khu công nghiệp.
- Đối với khu công nghiệp mới quy hoạch xây dựng cần đầu tư đồng bộ
từ đầu các điều kiện kết cấu hạ tầng cả trong và ngoài khu công nghiệp để
phát huy nhanh hiệu quả đầu tư.
- Phát triển các hình thức khu công nghiệp đa dạng phong phú, có những
cơ chế mềm cho từng khu công nghiệp để nhằm thu hút mạnh vốn đầu tư
trong nước và nước ngoài. Xây dựng một số khu công nghiệp kỹ thuật cao
làm hạt nhân cho sự phát triển công nghiệp gắn với công nghệ mới hiện đại.
- Phát triển hệ thống khu công nghiệp – cụm - điểm công nghiệp tại các
thị xã, thị trấn, thị tứ phục vụ cho công nghiệp chế biến các sản phẩm nông,
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
17
Luận văn tốt nghiệp
lâm, ngư nghiệp, đây là mô hình quan trọng trong việc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá nông thôn Việt Nam.
1.3.1.3.Khai thác thế mạnh của các vùng, miền để phát triển khu công

 Khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp nằm xen kẽ trong các khu
dân cư:
Đây là giải pháp sử dụng cho KCN, cụm công nghiệp có quy mô chiếm
đất nhỏ với mức độ độc hại cấp IV, V. Chúng có thể là các xí nghiệp công
nghiệp xây dựng mới, nhưng phần lớn tồn tại trong trường hợp trước kia khu
đất công nghiệp nằm ven đô thị, hiện đô thị đựơc mở rộng nên các xí nghiệp
công nghiệp này nằm xen vào các khu dân cư. Một số xí nghiệp công nghiệp
phải di chuyển, số còn lại phải cải tạo lại, chuyển sang sản xuất loại sản phẩm
khác để phù hợp với quy định về mức độ độc hại.
 KCN, cụm công nghiệp nằm tách biệt ngoài đô thị:
Đây là các KCN, cụm công nghiệp bố trí nằm ngoài đô thị không phải
do mức độ độc hại mà do yêu cầu về tổ chức hoạt động hay nhu cầu về vận
chuyển. Do nằm cách biệt với đô thị nên các KCN và cụm công nghiệp này
đòi hỏi phải tổ chức hệ thống hạ tầng xã hội kèm theo. Chúng có thể phụ
thuộc vào đô thị hiện có hoặc phát triển thành một khu vực độc lập và trong
nhiều trường hợp là tiền đề để hình thành một đô thị mới. KCN và cụm công
nghiệp nằm ngoài đô thị gồm:
- KCN hoặc cụm công nghiệp khai thác khoáng sản, nhiên liệu như các
cụm công nghiệp khai thác than, dầu khí.
- KCN hoặc cụm công nghiệp các xí nghiệp bảo quản, chế biến tại khu
vực nông thôn, miền núi, duyên hải để khai thác nguồn nguyên liệu nông, lâm
nghiệp, thuỷ sản tại chỗ, hạn chế khối lượng vận chuyển nguyên liệu.
- KCN hoặc cụm công nghiệp nằm trên các tuyến đường ra sân bay, cảng
để thuận tiện cho việc nhập nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm.
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
19
Luận văn tốt nghiệp
- KCN hoặc cụm công nghiệp với hệ thống giao thông quốc gia và cảnh
quan tự nhiên tại các vùng ngoại ô. Đây là các KCN, cụm công nghiệp thuộc
loại hình công nghệ kỹ thuật cao, phát triển đồng bộ cùng với các loại hình

không. Hà Nội có đường Quốc lộ 1 Bắc Nam đi qua, Quốc lộ 3 đi Thái
Nguyên, Bắc Cạn. Hà Nội có 2 cảng sông chính là cảng Khuyến Lương và
cảng Phà Đen cho phép tàu có trọng tải 2000-3000 tấn cập cảng. Sân bay
quốc tế Nội Bài với 44 chuyến bay quốc tế và nội địa / ngày, mỗi năm phục
vụ 1, 5 triệu lượt khách.
Vũ Thuý Hương Lớp: Kế hoạch A
21

Trích đoạn HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status