MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ, LƯỢC ĐỒ, SƠ ĐỒ 3
MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Mục tiêu của đề tài 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
7. Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHÂN VĂN KHU VỰC ĐẦM PHÁ 10
1.1. Cơ sở lí luận 10
1.1.1. Một số khái niệm 10
1.1.1.1. Khái niệm du lịch 10
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch 11
1.1.1.3. Các loại hình du lịch 13
1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 13
1.1.2.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn 13
1.1.2.2. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn 14
1.1.2.3. Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn 19
1.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn đối với phát triển du lịch 20
1.1.3.1. Vài trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch nhân văn 20
1.1.3.2. Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn 20
2.2.2.3. Kết quả đánh giá 63
2.3. Hiện trạng khai thác tiềm năng du lịch nhân văn khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 64
2.3.1. Công tác tổ chức quy hoạch phát triển du lịch đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 64
2.3.2. Công tác tổ chức hoạt động du lịch khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 65
2.3.3. Tình hình phát triển du lịch nhân văn khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai 68
2.3.4. Đánh giá chung thực trạng hoạt động du lịch nhân văn khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu
Hai 70
2
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU
LỊCH NHÂN VĂN KHU VỰC ĐẦM PHÁ TAM GIANG – CẦU HAI 72
3.1. Cơ sở định hướng 72
3.1.1. Các chiến lược phát triển 72
3.1.2. Những dự báo chủ yếu 74
3.2. Định hướng cụ thể 76
3.2.1. Định hướng phát triển loại hình và sản phẩm du lịch Tam Giang – Cầu Hai 76
3.2.2. Định hướng tổ chức không gian khai thác du lịch nhân văn 76
3.3. Giải pháp thực hiện 81
3.3.1. Xây dựng chương trình du lịch hợp lí, hấp dẫn dựa vào tính đa dạng, đặc trưng của sản
phẩm du lịch 81
3.3.2. Về tổ chức quản lý 83
3.3.3. Về bảo tồn, khai thác và phát huy tài nguyên du lịch nhân văn 84
3.3.4. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 85
3.3.5. Giải pháp xây dựng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật 86
3.3.6. Giải pháp vốn đầu tư và cơ chế chính sách 86
3.3.7. Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch 87
3.3.8. Xây dựng ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1. Những kết quả đạt được 89
2. Hạn chế của đề tài 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai (TGCH) là một địa vực nước lợ với hệ tự nhiên
mang tính đặc thù. Động thực vật phong phú, đa dạng mang tính bản địa vùng đầm
phá kết hợp với đặc điểm nổi bật vùng sóng nước là tiềm năng tự nhiên rất lớn cho
phát triển du lịch sinh thái.
Tuy vậy, hoạt động du lịch ở khu vực phá TGCH mới được quan tâm. Tour du
lịch đầm phá đầu tiên được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Hiệp hội Bảo
4
tồn Thiên nhiên Hà Lan (IUCN-NL) tài trợ thông qua Quỹ dự án nhỏ về du lịch bền
vững và đa dạng sinh học. Hiện đã có vài dự án xây dựng khu du lịch sinh thái, một
số hoạt động mang tính sự kiện. Ngày thường, hoạt động du lịch ở khu vực phá
TGCH ít thu hút du khách do sản phẩm du lịch chưa nhiều.
Một thực tế cho thấy, vùng đầm phá TGCH ngày càng cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước do cuộc sống mưu sinh của cư dân
quanh phá qua bao đời nay. Nhìn chung, cuộc sống người dân nơi đây mức sống
thấp, gặp nhiều khó khăn. Nhưng chính cuộc sống gắn với sóng nước Tam Giang,
cư dân bản địa ven phá có những phong tục tập quán riêng, có các lễ hội, các làng
nghề truyền thống gắn với thiên nhiên. Đây chính là tiềm năng nhân văn có thể khai
thác kết hợp với tài nguyên tự nhiên sẵn có góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch,
tính đặc thù, hấp dẫn du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, khám phá tự
nhiên, tìm hiểu bản sắc văn hóa địa phương.
Phát triển du lịch vùng phá TGCH vừa giải quyết công ăn việc làm cho người
dân, cải thiện cuộc sống vừa bảo tồn tính đa dạng sinh học đầm phá, bảo vệ môi
trường sống. Không những thế, để phát triển các lợi thế của vùng đầm phá và ven
biển, đầm phá TGCH sẽ kết nối với Cố đô Huế tạo thành quần thể tổng hợp về du
lịch sinh thái, văn hóa, du lịch biển. Từ vùng TGCH sẽ hình thành các khu du lịch
nghỉ dưỡng, du lịch chữa bệnh, du lịch thể thao, bên cạnh đó còn kết nối các khu
bảo tồn, làng nghề, hình thành tuyến du lịch biển và đầm phá.
Với những lí do trên, tôi chọn: “Nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng và giải pháp
phát triển du lịch nhân văn khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, Thừa Thiên
Huế” làm luận văn Thạc sĩ.
lãnh thổ trong hoạt động du lịch.
5.1.2. Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp thể hiện qua sự nhìn nhận đối tượng nghiên cứu một cách
đồng bộ và toàn diện, xem xét sự kết hợp có quy luật nhiều yếu tố tạo thành.
TNDL nhân văn của khu vực đầm phá TGCH là kết quả tác động tổng hợp của
quá trình hình thành, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và điều kiện tự nhiên đầm
phá. Đặc điểm của mỗi thành phần trong đó cũng chịu tác động của tất cả các thành
phần khác. Vì vậy, trên mỗi lãnh thổ du lịch, TNDL phải được xem xét trong sự tác
động tổng hợp các loại tài nguyên.
6
5.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Các đối tượng địa lí du lịch tồn tại trên những lãnh thổ nhất định. Một lãnh thổ
có nguồn lực riêng để phát triển du lịch. Trong đó, mỗi không gian lãnh thổ có sản
phẩm du lịch đặc trưng.
Ở khu vực đầm phá TGCH, người dân có điều kiện sống riêng, cuộc sống gắn
liền với thiên nhiên sông nước. Do đó, bên cạnh phong phú về tự nhiên, tài nguyên
nhân văn phục vụ du lịch cũng có nhiều nét riêng. Sự phân hóa này góp phần đa
dạng các loại hình và sản phẩm du lịch của địa phương.
5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một trong những xu hướng, mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội ở nhiều quốc gia hiện nay. Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển
nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát
triển để thỏa mãn nhu cầu của những thế hệ tương lai. Các nguồn lực phát triển du
lịch nếu được nghiên cứu khai thác cần hợp lí, sử dụng được nhiều lần mà chất
lượng có thể được nâng cao. Vì thế, ngành du lịch có khả năng phát triển bền vững,
tạo hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đồng thời tài nguyên và môi trường được bảo vệ.
Đây là quan điểm rất quan trọng trong nghiên cứu, đánh giá nguồn lực, thực
trạng phát triển cũng như đưa ra một số định hướng, giải pháp đề xuất một số tuyến,
điểm du lịch, các loại hình du lịch trên một lãnh thổ.
5.1.5. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các giá trị nhân văn khu vực đầm phá TGCH được hình thành, tồn tại trong
một thời gian khá dài, chứa đựng nhiều giá trị vật chất và tinh thần, tính khách quan
bên ngoài lẫn những bí ẩn. Để nghiên cứu giá trị cũng như đánh giá sự phát triển
của khu di tích, lễ hội, làng nghề… chúng tôi đã có nhiều trao đổi với các chuyên
gia văn hóa, du lịch qua đó thu nhận những kiến thức và kinh nghiệm liên quan
nhằm làm tăng thêm tính khoa học cho vấn đề được nghiên cứu.
6. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Du lịch đang phát triển với tốc độ nhanh chóng trong những thập niên vừa qua
đã đem lại nhiều cơ hội về việc làm, tăng thu nhập kinh tế, giải quyết sự nghèo đói,
tiến bộ xã hội. Để phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển du lịch nói riêng ở
khu vực đầm phá TGCH có nhiều nghiên cứu. Trong đó, có một số đề tài tiêu biểu:
“Những đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái đầm phá Tam Giang – Cầu Hai” của
Trần Đức Mạnh và Đỗ Nam; “Thách thức từ việc nuôi trồng thủy sản đầm phá Tam
8
Giang – Cầu Hai hiện nay và một số giải pháp khắc phục” của Lê Văn Thăng. Các
nghiên cứu chủ yếu về tự nhiên và môi trường khu vực đầm phá.
Một số đề tài nghiên cứu khác: “Tổng quan về một số yếu tố môi trường và đa
dạng sinh học đầm phá Tam Giang – Cầu Hai của Võ Văn Phú; “Sử sụng bảo vệ và
bảo tồn đa dạng sinh học đầm phá Tam Giang – Cầu Hai” của Đỗ Công Thung;
“Cần có chiến lược phát triển kinh tế bền vững đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
trong giai đoạn mới” của Nguyễn Thị Thu Lan. Các đề tài đã đề cập nguồn lợi thủy
sản, tính đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên đầm phá.
Các nghiên cứu trên cho thấy tính phong phú, đa dạng, đặc thù tự nhiên vùng
đầm phá. Từ đó, khai thác và bảo vệ các giá trị tài nguyên thiên nhiên vào các mục
đích phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.
Một số nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch đầm phá: “Cơ sở khoa học
của việc tổ chức không gian du lịch dải ven biển Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng -
Quảng Nam”, luận án Tiến sĩ của Nguyễn Tưởng, đã xác định cơ sở lí luận cho việc
tổ chức không gian du lịch; “Đánh giá tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế
phục vụ du lịch”, luận án Tiến sĩ của Lê Văn Tin, đã khảo sát điều kiện tự nhiên, tài
lại của từng cá nhân hoặc của một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong
khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa
bệnh [22]. Ngày nay, người ta thống nhất rằng về cơ bản, tất cả các hoạt động di
chuyển của con người ở trong hay ngoài nước trừ việc đi cư trú chính trị, tìm việc
làm và xâm lược, đều mang ý nghĩa du lịch.
Theo khoản 1, Điều 4, chương 1, Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “Du lịch là
các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một khoảng thời gian nhất định” [1].
Thực tế do có sự tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dưới các góc độ khác
nhau mà các định nghĩa khác nhau về du lịch. Vì thế, để xem xét du lịch một cách
toàn diện và đầy đủ, cần phải cân nhắc tất cả các chủ thể (thành phần) tham gia vào
hoạt động du lịch. Theo phương diện này, du lịch có thể hiểu là: “Tổng hợp các
hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch,
các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình
thu hút và tiếp đón phục vụ khách du lịch”.
Tóm lại, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần
tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Đó là một hệ thống động, rất
nhạy cảm với những biến đổi của môi trường bên trong và bên ngoài điểm đến
cũng như nhu cầu của du khách. Hơn nữa nó còn mang tính tổng hợp, tính đa
ngành bởi có rất nhiều đơn vị, nhiều ngành, nhiều đối tác liên quan đến việc
cung cấp các dịch vụ cho du khách. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành
kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa.
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch và tiềm năng du lịch
* Khái niệm tài nguyên du lịch:
TNDL có những đặc điểm gắn với sự phát triển của ngành du lịch. Có nhiều
khái niệm về TNDL.
11
Theo Pirojnik: “TNDL là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những
thành phần của chúng, tạo điều kiện phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con
12
- TNDL bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể.
- TNDL là những loại tài nguyên có thể tái tạo.
- TNDL có tính sở hữu chung.
- Việc khai thác TNDL gắn chặt chẽ với vị trí địa lí.
- Việc khai thác TNDL thường có tính mùa vụ.
- TNDL mang tính diễn giải và cảm nhận.
* Khái niệm tiềm năng du lịch:
Trong hoạt động du lịch, có nhiều giáo trình định nghĩa về tiềm năng du lịch.
Trên khía cạnh thuật ngữ thì tiềm năng du lịch là “những TNDL chưa khai thác
hoặc chưa được khai thác hết, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu tư tôn tạo và
đưa vào sử dụng” [12]. Về khía cạnh có tính nghiệp vụ cụ thể: “Tiềm năng du lịch
của một nước (hoặc vùng lãnh thổ) là những điều kiện tự nhiên và di sản lịch sử
thuận lợi cho việc xây dựng những cơ sở du lịch. Ngoài ra, tiềm năng du lịch còn có
trong các công trình xây dựng lớn và đẹp, những quần thể kiến trúc hiện đại. Tiềm
năng có thể được khai thác một phần hoặc chưa được khai thác do những hạn chế
nhất định” [18].
Phân chia tiềm năng du lịch, người ta thường chia theo các loại: Tiềm năng ở
dạng tài nguyên tự nhiên, tiềm năng ở dạng lịch sử, tiềm năng ở những công trình
đương đại xuất hiện do quá trình xây dựng kinh tế và văn hóa đã và đang diễn ra…
1.1.1.3. Các loại hình du lịch
Có nhiều cách phân loại các loại hình du lịch.
- Theo nhu cầu của khách du lịch, có các loại hình du lịch: Du lịch chữa bệnh,
Du lịch nghỉ ngơi, Du lịch thể thao, Du lịch văn hóa, Du lịch công vụ, Du lịch tôn
giáo, Du lịch thăm hỏi.
- Theo phạm vi lãnh thổ: Du lịch trong nước, Du lịch quốc tế.
- Theo hình thức tổ chức: Du lịch có tổ chức, Du lịch cá nhân.
1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
1.1.2.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn
TNDL nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, do con người sáng tạo
hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
TNDL nhân văn vật thể gồm:
- Di sản văn hóa thế giới:
Các di sản văn hóa là sự kết tinh cao những giá trị sáng tạo văn hóa của mỗi
quốc gia. Các quốc gia có di sản văn hóa được UNESCO công nhận là Di sản văn
14
hóa thế giới vừa là niềm tôn vinh cho quốc gia đó, đồng thời tôn vinh giá trị lịch sử
- văn hóa vô giá của Di sản văn hóa, tạo ra sức hấp dẫn cao cho du khách, đặc biệt
là khách du lịch quốc tế.
- Các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng cấp quốc gia và địa phương: chứa
đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa,
kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Di tích lịch sử văn hóa là tài
nguyên nhân văn quý giá được hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở địa
phương và quốc gia. Đây là TNDL được nhiều du khách tham quan, nghiên cứu,
thực hiện các nghi lễ tâm linh.
- Các di tích khảo cổ:
Các di tích khảo cổ là những Di sản văn hóa lịch sử bị vùi lấp trong lòng đất
hoặc hiện diện trên mặt đất, được phát hiện khi các nhà khoa học hoặc các cá nhân
nghiên cứu, khai quật thấy. Các di tích khảo cổ hay di chỉ khảo cổ bao gồm: di chỉ
cư trú, di chỉ mộ táng, những công trình kiến trúc cổ, những đô thị cổ, những tàu
thuyền đắm.
- Các di tích lịch sử:
Mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều có quá trình lịch sử, xây đựng và bảo vệ địa
phương riêng, được ghi dấu bằng những di tích lịch sử. Đây là những địa điểm,
những công trình kỷ niệm, những vật kỷ niệm, những cổ vật nghi dấu những sự kiện
lịch sử, những cuộc chiến đấu, những danh nhân, những anh hùng một thời kì nào
đó trong lịch sử của mỗi địa phương, của mỗi quốc gia.
Các di tích lịch sử thường bao gồm:
+ Di tích ghi dấu về dân tộc học: Những giá trị văn hóa lịch sử gắn với ăn, ở,
sinh hoạt của các tộc người.
học, ngữ văn truyền miệng, diễn xứng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết
nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn hóa ẩm thực,
về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.
TNDL nhân văn phi vật thể bao gồm các dạng sau:
- Di sản văn hóa thế giới truyền miệng và phi vật thể.
- Các lễ hội truyền thống.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân sau thời gian
lao động vất vả. Đây là dịp để mọi người thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên, những người
có công với địa phương, với đất nước, có liên quan đến những nghi lễ tôn giáo, tín
ngưỡng, ôn lại những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống hoặc hướng về một sự
16
kiện lịch sử - văn hóa, kinh tế trọng đại của địa phương, của đất nước hoặc là những
hoạt động vui chơi giải trí, là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng.
Lễ hội là tài nguyên nhân văn quý giá, là quốc hồn, quốc túy của dân tộc.
Cùng với tài nguyên nhân văn khác tạo giá trị văn hóa đa dạng, phong phú, đặc sắc
ở mỗi vùng đất, mỗi quốc gia.
Mỗi vùng, mỗi đất nước đều có các lễ hội độc đáo, gắn liền với cuộc sống, sản
xuất của người dân. Nếu được bảo tồn, các lễ hội truyền thống có những nét đặc sắc
thu hút khách du lịch.
Các lễ hội là tài nguyên nhân văn quý giá phục vụ cho mục đích phát triển du
lịch bao gồm: Lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại có quy mô lớn còn bảo tồn
được giá trị văn hóa lịch sử truyền thống phong phú, đa dạng, đặc sắc.
Lễ hội thường bao gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội.
- Nghề và làng nghề thủ công truyền thống
“Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi
hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định. Trong đó,
bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối
liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hoá” [2].
Như vậy, khái niệm làng nghề được hiểu là những làng ở nông thôn có các
ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu
triết học và nhu cầu ăn uống tạo nét đẹp riêng và được nâng lên thành nghệ thuật.
Mỗi địa phương, vùng, miền, quốc gia đều có điều kiện tự nhiên, đặc điểm
kinh tế - xã hội riêng, văn hóa riêng nên cũng có nhiều món ăn, đồ uống, đặc sản
riêng. Nghệ thuật ẩm thực là giá trị văn hóa của mỗi quốc gia được sáng tạo, bảo
tồn, bồi đắp qua nhiều thời đại, tạo dấu ấn riêng cho du khách.
- Văn hóa ứng xử, phong tục tập quán.
Văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất khác lạ, tốt đẹp ở các
địa phương, các quốc gia trở thành TNDL nhân văn quý giá, góp phần tạo sự đa
dạng, độc đáo cho sản phẩm du lịch, hấp dẫn du khách.
+ Văn hóa ứng xử, truyền thống văn hóa tốt đẹp, lối ứng xử thân thiện, văn
minh lịch sự giữa người với người, giữa người với thiên nhiên tạo ra môi trường du
lịch hấp dẫn.
+ Những tập quán như ăn, ở, ma chay, cưới hỏi, sản xuất của người dân địa
phương là những giá trị văn hóa mà nhiều du khách muốn tìm hiểu, trải nghiệm.
Đặc biệt trong tình hình phát triển của cuộc sống hiện đại thì những cái đó dần mất
đi nên trở thành sản phẩm du lịch mới lạ đối với nhiều du khách.
18
- Thơ ca và văn học
Các tác phẩm thơ ca, văn học là quốc hồn, quốc túy của mỗi quốc gia. Thơ ca,
văn học là nghệ thuật sử dụng ngôn từ để phản ánh cái đẹp, tình yêu của con người
với thiên nhiên, quê hương đất nước… Những câu chuyện, những áng văn thơ cũng
tạo sự hấp dẫn riêng cho du khách.
- Văn hóa gắn với các tộc người
TNDL gắn với văn hóa các tộc người bao gồm những điều kiện sinh sống, sản
xuất, phương thức sản xuất, kiến trúc, trang trí nhà ở, nghề thủ công truyền thống,
văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, lễ hội, các phong tục, tập quán với những sắc
thái riêng của các tộc người trên những địa bàn sinh sống của họ.
- Các hoạt động văn hóa thể thao, kinh tế - xã hội có tính sự kiện, các phát
minh, các sáng kiến khoa học.
Các đối tượng trên nếu được đưa vào hoạt động du lịch cũng thu hút khách du
mô, khả năng phát triển du lịch một địa phương phụ thuộc nhiều vào số lượng, chất
lượng và sự kết hợp các loại tài nguyên. TNDL nhân văn đã có sẵn do các thế hệ
trước để lại trong quá trình phát triển lịch sử ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia, cũng
có những tài nguyên được phát triển tạo dựng trong quá trình phát triển kinh tế và
du lịch để đáp ứng nhu cầu thưởng thức của du khách.
+ TNDL nhân văn là nguồn lực hàng đầu để phát triển du lịch, để xác định loại
hình du lịch phù hợp cũng như kết hợp khai thác các TNDL một cách hiệu quả.
- Vai trò:
+ TNDL nhân văn là yếu tố cơ bản tạo thành sản phẩm du lịch nhân văn.
TNDL có mối quan hệ chặt chẽ với các phân hệ khác và môi trường kinh tế – xã
hội. Do đó TNDL là nhân tố hàng đầu tạo sản phẩm du lịch. Cùng với TNDL tự
nhiên, du lịch nhân văn góp phần tạo tính đa dạng, độc đáo sản phẩm du lịch và đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao đối với khách du lịch.
+ TNDL nhân văn là cơ sở để phát triển các loại hình du lịch nhân văn, căn cứ
tài nguyên ở mỗi địa phương để khai thác hợp lí.
1.1.3.2. Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
Khảo sát đánh giá một số tài nguyên du lịch nhân văn tiêu biểu:
* Di tích lịch sử văn hóa
- Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan:
+ Xác định vị trí, diện tích lãnh thổ, tên gọi, di tích.
+ Giá trị về phong cảnh.
20
+ Khoảng cách giữa vị trí của di tích văn hóa với thị trường cung cấp khách
cũng như chủng loại và chất lượng đường giao thông, các loại phương tiện giao
thông có thể hoạt động.
+ Khoảng cách tới di tích văn hóa và tự nhiên khác.
- Lịch sử hình thành và phát triển gồm: Thời gian, đặc điểm của thời kì khởi
dựng và những lần trùng tu lớn.
- Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật, niên đại kiến trúc, mỹ thuật.
- Giá trị cổ vật (số lượng, chất lượng), vật kỉ niệm và bảo vật quốc gia.
tố tự nhiên và kinh tế - xã hội nuôi dưỡng làng nghề, nghệ thuật sản xuất, lựa chọn
nguyên liệu, cơ cấu chủng loại số lượng, chất lượng, giá trị thẩm mỹ, giá trị sử
dụng, môi trường làng nghề, việc tiêu thụ sản phẩm, đời sống dân cư từ sản xuất, tỉ
trọng thu nhập từ các nghề thủ công truyền thống so với các hoạt động kinh tế khác
của làng nghề, những giá trị văn hóa gắn với làng nghề.
- Các cơ chế, chính sách đầu tư cho phát triển làng nghề, nghề, du lịch làng
nghề và chính sách ưu đãi các nghệ nhân.
- Thực trạng đầu tư bảo vệ, khôi phục làng nghề, khai thác, phát huy giá trị văn
hóa của làng nghề đối với đời sống kinh tế - xã hội và hoạt động du lịch.
Cách đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
- Việc đánh giá TNDL nhân văn phải được tiến hành kiểm kê đánh giá về số
lượng, chất lượng của từng thành tố di tích và cấp bậc xếp loại, phương pháp đánh
giá cho từng di tích, các dạng TNDL nhân văn phi vật thể là cơ sở cho việc thực
hiện đánh giá tổng thể tài nguyên phát triển du lịch của vùng, của địa phương [35].
- Đánh giá TNDL nhân văn nói chung phải được tiến hành theo các kiểu: đánh
giá bằng cảm quan trên cơ sở kết quả điều tra về số lượng cũng như chất lượng tài
nguyên và đánh giá thông qua điều tra về sức hấp dẫn với du khách.
- Riêng đối với TNDL nhân văn vật thể đánh giá theo phương pháp xây dựng
thang điểm, bậc điểm để đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển du lịch và thực
trạng bảo vệ, phát huy giá trị từng di tích.
Đánh giá tổng hợp các TNDL nhân văn:
- Cùng với đánh giá chi tiết các loại TNDL nhân văn cần đánh giá tổng hợp về
TNDL nhân văn đối với phát triển du lịch của địa phương, của vùng.
- Sau khi điều tra, đánh giá một số loại tài nguyên tiêu biểu, tổng hợp các tài
nguyên, cần có nhận xét đánh giá chung về tiềm năng, thực trạng khai thác chung
của tài nguyên có khả năng khai thác vào hoạt động du lịch, cần được quan tâm đầu
tư tôn tạo, khai thác, bảo vệ. Việc đánh giá TNDL cũng cần xác định rõ hạn chế về
22
số lượng, chất lượng các loại tài nguyên cho mục đích du lịch, chỉ rõ những tác
động tích cực, tiêu cực đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.
23
Đảo Yas nổi tiếng là công viên Ferrari World với khu vui chơi giải trí rộng lớn và
du khách có thể thử tài với những chiếc xe Ferrari hấp dẫn, ngoài ra còn có các trung
tâm mua sắm náo nhiệt. Hiện nay Abu Dhabi còn xây dựng các đảo nhân tạo lớn.
* Thực tiễn hoạt động du lịch đầm phá Songkhala của Thái Lan
Đầm phá Song Khala có diện tích 1040 km
2
thuộc tỉnh Songkhala, nằm trên
bán đảo Mã Lai. Hiện nay, đầm phá Songkhala là một điểm đến hấp dẫn thu hút
nhiều du khách bởi du lịch văn hóa giàu bản sắc. Đây được xem là cái nôi văn hóa
và cuộc sống dân địa phương lâu đời mang nhiều nét riêng, đặc sắc được dựng và
tái hiện lại sinh động. Các cộng đồng xung quanh đã hình thành mạng lưới để bảo
tồn, khôi phục di sản văn hóa, bảo vệ tự nhiên và môi trường. Hoạt động du lịch
nhân văn ở đầm phá Songkhala với các điểm du lịch chính:
- Cầu Timnalamou: Đây là cây cầu dài nhất của Thái Lan, nối liền thành phố
Songkhala, Ko Yo và Amphoe Singha NaKhon.
- Viện Thaksin Khadi Suksa: bao gồm bảo tàng văn hóa dân gian, thư viện và
lưu trữ của miền nam Thái Lan. Nó cung cấp nhiều kiến thức để nhìn nhận quan
điểm tốt đẹp của Ko Yo và Songkhala.
- Chùa Khao kuti: Hàng năm người dân địa phương mang vải để treo lên chùa
vào các ngày trăng tròn. Từ ngôi đền nhìn xuống toàn cảnh cầu Timmnalamou.
- Ratchawat Ko Yo Vải Nhóm phát triển: Tổ chức vào năm 1995, được tăng
kinh phí cho sản xuất vải dệt thoi, tiếp thị và bảo quản dệt kỹ năng địa phương,
truyền thống mô hình.
- Suan Somrom - Local Vườn cây ăn quả: Một khu vườn trong đó sản xuất trái
cây, như sầu riêng, chôm chôm, nhãn… Người dân địa phương sản xuất santol với
mật ong vào tháng bảy và tháng tám.
- Old Nha: Những ngôi nhà trên Ko Yo được phân biệt bằng mái nhà và sàn
gạch, gạch được sản xuất tại địa phương.
- Chùa Thái Yo: Ngôi đền đầu tiên trên Ko Yo được xây dựng năm 1768. Sự
có sức thu hút du khách, để lại cho du khách nhiều ấn tượng tốt đẹp về nơi đến cũng
như tìm hiểu khám phá, trải nghiệm cuộc sống giàu bản sắc văn hóa.
1.2.2. Thực tiễn hoạt động du lịch khu vực đầm phá ở Việt Nam
Việt Nam có đường bờ biển dài với nhiều đầm phá ven biển. Ngoài hệ thống
đầm phá lớn nhất nước là TGCH còn có đầm Lăng Cô, Vũng lập An (An Cư) là tên
gọi khác của một lagoon ven bờ điển hình; đầm Nước Ngọt, Thị Nại, Trà Ổ… (Bình
Định), Phu Nha (Khánh Hòa) là vịnh bờ đá; đầm An Khê (Quãng Ngãi)… Với
nhiều đầm phá đó cùng những lợi thế tự nhiên và văn hóa bản địa nhiều khu vực
25