ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THU HƢƠNG Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn
quốc gia Cúc Phƣơng LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Trần Đức Thanh
Hà nội - 2007
nghiên cứu của khách du lịch trong nƣớc và quốc tế.
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
2
Trong những năm gần đây, số lƣợng du khách đến Cúc Phƣơng ngày
càng tăng và đây cũng là một trong những vƣờn quốc gia có số lƣợng khách
đến vào loại cao nhất của Việt Nam. Mặc dù vậy, đời sống của nhân dân vùng
đệm còn rất nhiều khó khăn: dân số tăng nhanh, diện tích đất canh tác hạn
hẹp, sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghịêp, sản xuất lâm nghiệp và các ngành
nghề khác chƣa phát triển. Một bộ phận dân cƣ sống giáp ranh vẫn chƣa tập
trung vào sản xuất mà còn nặng về khai thác lâm sản trong rừng để sinh sống.
Những lợi ích của họ từ hoạt động du lịch và sự tham gia của họ vào du lịch
còn nhiều hạn chế và bất cập. Hầu hết họ vẫn đứng ngoài hoạt động kinh
doanh và phát triển du lịch. Cần nhanh chóng tìm ra cơ chế và biện pháp để
thu hút cộng đồng này vào hoạt động du lịch, góp phần xoá đói giảm nghèo,
bảo vệ môi trƣờng và các giá trị thiên nhiên quý giá của Vƣờn Quốc gia.
Mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng có thể
sẽ là một trong những giải pháp xã hội hoá du lịch hữu hiệu nhằm đạt đƣợc
mục tiêu kể trên.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm giải pháp thiết thực nhằm thu hút
cộng đồng địa phƣơng vào hoạt động du lịch, góp phần xoá đói giảm nghèo
cho ngƣời dân vùng đệm Vƣờn Quốc gia ở nƣớc ta.
Đề tài đặt ra mục tiêu cụ thể là tìm ra mô hình cụ thể nhằm phát triển
du lịch cho cộng đồng ngƣời dân các xã vùng đệm vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu đề ra, luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ
cộng đồng và kinh nghiệm du lịch vì ngƣời nghèo ở các nƣớc nhƣ Thái Lan,
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
4
Malaysia, Uruguay, Paraguay và một số bài học thành công về kinh nghiệm
phát triển loại hình du lịch ở nhà dân tại Pháp, Bỉ
Bên cạnh đó, luận văn cũng đã thu thập đƣợc khá nhiều thông tin thực
tế về hoạt động du lịch tại Cúc Phƣơng cũng nhƣ điều kiện văn hoá - kinh tế -
xã hội của cƣ dân vùng đệm. Đây là thông tin hữu ích để làm căn cứ xác lạp
các phƣơng án xây dựng mô hình phát triển du lịch.
4.2. Phƣơng pháp khảo sát thực địa
Mặc dù những thông tin thu thập đƣợc khá lớn, song một số thông tin
chƣa phù hợp, thiếu chính xác và lỗi thời. Do vậy, tác giả đã tiến hành 4 đợt
khảo sát nhằm bổ sung và cập nhật thông tin. Các đợt khảo sát này đều nhận
đƣợc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của Ban Quản lý Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng
và Uỷ ban nhân dân các xã thuộc vùng đệm, đặc biệt là Uỷ ban nhân dân xã
Cúc Phƣơng, Kỳ Phú, Yên Quang và nhân dân bản Khanh.
Những thông tin thu thập đƣợc từ các đợt khảo sát này về đặc điểm
kinh tế - văn hoá - xã hội; về lối sống và về phong tục tập quán là tài liệu
quan trọng làm căn cứ để xây dựng mô hình trong luận văn.
4.3. Phƣơng pháp điều tra xã hội học
Bằng cách sử dụng kết hợp giữa phƣơng pháp khảo sát thực địa với các
phƣơng pháp phỏng vấn và quan sát tham dự, tác giả đã có đƣợc những thông
tin vê nhận thức, về khả năng và nguyện vọng của ngƣời dân đối với việc
tham gia vào hoạt động du lịch Từ đó đã thấy đƣợc những thuận lợi và khó
khăn trong việc quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực và các biện pháp thu
hút các hình thức đầu tƣ vốn khi xây dựng các tổ hợp dịch vụ du lịch tại Cúc
Phƣơng nhằm xoá đói giảm nghèo cho ngƣời dân.
5. Đóng góp của luận văn
quốc gia trên thế giới. Vì vậy, đây là vấn đề đƣợc các Chính phủ, các nhà lãnh
đạo, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm các giải pháp hạn chế và tiến tới xoá
bỏ nạn nghèo đói trên phạm vi toàn cầu. Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có
thể sống một cuộc sống tƣơng ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.
Thƣớc đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi
tuỳ theo địa phƣơng và theo thời gian.
Theo Bách khoa toàn thƣ, Tổ chức Y tế Thế giới đã định nghĩa nghèo
dựa trên thu nhập cá nhân: Một ngƣời là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn
một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu ngƣời hàng năm (Per Capita
Incomme, PCI) của quốc gia. [1]
Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nƣớc
đang phát triển, Robert McNamara, nguyên giám đốc của Ngân hàng Thế
giới, đã đƣa ra khái niệm nghèo tuyệt đối nhƣ sau: Nghèo ở mức độ tuyệt đối
là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những ngƣời nghèo tuyệt đối là
những ngƣời phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong
tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vƣợt quá sức tƣởng tƣợng mang dấu ấn
của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức. [16]
Trong xã hội đƣợc coi là thịnh vƣợng, nghèo đƣợc định nghĩa dựa vào
hoàn cảnh xã hội của cá nhân: Nghèo tƣơng đối có thể đƣợc xem nhƣ là việc
cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những ngƣời
thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. [16]
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
8
Nghèo tƣơng đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ
thuộc vào cảm nhận của những ngƣời trong cuộc. Ngƣời ta gọi là nghèo
tƣơng đối chủ quan khi những ngƣời trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ
thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất
(tƣơng đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan
việc làm. Ngoài ra, những yếu tó nguy hiểm khác là phân bổ thu nhập quá mất
cân bằng, thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tính.
Còn ở Việt Nam, có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói
nhƣng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan nhƣ sau:
*Nguyên nhân lịch sử, khách quan
- Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc
chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ
hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất
mát trong chiến tranh, thƣơng tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến
tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài.
- Chính sách nhà nƣớc thất bại: sau khi thống nhất đất nƣớc việc áp
dụng chính sách tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo công thƣơng nghiệp và
chính sách giá lƣơng tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm
yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nƣớc và hộ gia đình
ở nông thôn cũng nhƣ thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm.
- Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà
nƣớc và tập thể của các tƣ liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã
làm thui chột động lực sản xuất.
- Việc huy động nguồn nhân lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ
đã làm cắt rời sản xuất với thị trƣờng, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công
nghiệp thiếu hiệu quả, thƣơng nghiệp tƣ nhân lụi tàn, thƣơng nghiệp quốc
doanh thiếu hàng hoá làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số
tăng cao.
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
10
- Lao động dƣ thừa ở nông thôn không đƣợc khuyến khích ra thành thị
lao động, không đƣợc đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
11
Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trƣởng tuy khá nhƣng chủ
yếu là do nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ
trong khi nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc còn thấp. Tín dụng chƣa thay đổi kịp
thời, vẫn còn ƣu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nƣớc có hiệu quả thấp,
không thế chấp, môi trƣờng sớm bị huỷ hoại, đầu tƣ vào con ngƣời ở mức cao
nhƣng hiệu quả còn hạn chế, số lƣợng lao động đƣợc đào tạo đáp ứng nhu cầu
thị trƣờng còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nƣớc.
Sự nghèo đói và HIV/AIDS có ảnh hƣởng rất lớn đến thiếu niên, nhi
đồng. Các em không đƣợc thừa hƣởng quyền có một tuổi thơ đƣợc thƣơng
yêu, chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đình hoặc đƣợc khích lệ phát triển
hết khả năng của mình. Khi trƣởng thành và trở thành cha mẹ, đến lƣợt con
cái các em có nguy cơ bị tức đoạt các quyền đó vì các hiểm hoạ đối với tuổi
thơ lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ngoài ra, tại Việt Nam còn có một số nguyên nhân chủ quan dãn đến
nghèo đói sau: sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn,
giữa các dân tộc cao; môi trƣờng sớm bị huỷ hoại trong khi đa số ngƣời nghèo
lại sống nhờ vào nông nghiệp; hiệu năng quản lý chính phủ thấp
1.1.3. Chuẩn đói nghèo
Phƣơng pháp xác định đƣờng đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng
cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và đƣợc thực hiện trong các cuộc
khảo sát mức sống dân cƣ Việt Nam (năm 1992 - 1993 và năm 1997 - 1998).
Đƣờng đói nghèo thấp gọi là đƣờng đói nghèo về lƣơng thực, thực phẩm.
Đƣờng đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đƣờng đói nghèo chung (bao
gồm cả mặt hàng lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm).
Đƣờng đói nghèo về lƣơng thực, thực phẩm đƣợc xác định theo chuẩn
mà hầu hết các nƣớc đang phát triển cũng nhƣ Tổ chức Y tế thế giới và các cơ
quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con
dƣới 20kg gạo (tƣơng đƣơng 70.000 đồng) ở khu vực đồng bằng và 25kg gạo
(tƣơng đƣơng 90.000 đồng) ở khu vực thành thị đƣợc coi là hộ nghèo. [5]
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
13
- Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nguồn lực tài chính
2001 - 2005 và mức sống thực tế của ngƣời dân ở từng vùng, Bộ Lao động,
Thƣơng binh và Xã hội Việt Nam đƣa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách
hộ nghèo từ cấp thôn, xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên để
hƣởng sự trợ giúp của Chính phủ từ Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia về xoá
đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ khác
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTG của Thủ tƣớng Chính phủ ngày
27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xoá
đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005, thì những hộ gia đình có thu nhập
bình quân đầu ngƣời ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000
đồng/ngƣời/ tháng (960.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu
vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu ngƣời
từ 100.000 đồng/ngƣời/tháng (1.200.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ
nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời từ
150.000 đồng/ngƣời/tháng (1.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ
nghèo. [22]
- Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ
ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2006 - 2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình
quân từ 200.000 đồng/ngƣời/tháng (2.400.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là
hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập 260.000
đồng/ngƣời/tháng (dƣới 3.120.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.
[23]
Còn tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình quân đầu
lịch cũng nhƣ đóng góp thêm các khoản thu nhập vào ngân sách của địa
phƣơng. Du lịch góp phần mang lại lợi nhuận cho nhiều ngành sản xuất và
cung cấp dịch vụ ăn uống, hệ thống giao thông, hàng thủ công mỹ nghệ và lực
lƣợng hƣớng dẫn viên. Du lịch cũng sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cung
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
15
cấp các loại hàng hoá và dịch vụ chƣa có tại địa phƣơng cũng nhƣ đƣa ra các
loại sản phẩm du lịch mới. Nhƣ vậy, hiệu quả kinh tế hoạt động du lịch mang
lại cho ngƣời dân là rất lớn góp phần đóng góp cho kinh tế địa phƣơng và xoá
đói giảm nghèo.
*Về văn hoá và xã hội
Việc cộng đồng dân cƣ thu hút đƣợc khách du lịch đến tham quan làm
cho diện mạo của địa phƣơng ngày thêm đổi mới và phát triển, nâng cao chất
lƣợng cuộc sống của cộng đồng dân địa phƣơng. Ngƣời dân có cơ hội đƣợc
tiếp xúc, giao lƣu và kết bạn với du khách đến từ các nƣớc, biệt thêm thông
tin về thế giới bên ngoài. Sự trải nghiệm, tiếp xúc với nhiều du khách từ các
nƣớc trên thế giới sẽ giúp con ngƣời mở rộng đƣợc hiểu biết và làm giàu kinh
nghiệm sống của mình.
Đồng thời, lợi ích đan xen trong nét văn hoá bản địa là làm sống lại
những di sản văn hoá và lịch sử và coi nó nhƣ một phần cuả phát triển du lịch.
Sự khám phá và thƣởng thức của khách du lịch đối với các giá trị văn hoá và
lịch sử địa phƣơng là động cơ thúc đẩy ngƣời dân địa phƣơng gìn giữ và bảo
tồn các giá trị nghệ thuật, lịch sử và kiến trúc cổ. Mặc dù việc tiếp xúc nhiều
với các nền văn hoá khác nhau có thể làm biến đổi các giá trị văn hoá hơn
mức cho phép. Tuy nhiên ảnh hƣởng về văn hoá xã hội của hoạt động du lịch
là vấn đề gây nhiều tranh cãi, trong bối cảnh du lịch đang phát triển với một
tốc độ chóng mặt. Điều quan trọng ảnh hƣởng đến tác động về mặt văn hoá xã
hội của du lịch là mối quan hệ giữa cộng đồng và khách ở hai nền văn hoá
góp phần nâng cao chất lƣợng của hoạt động du lịch.
* Về môi trƣờng
Với những địa phƣơng có tiềm năng về nguồn thiên nhiên phong phú
nhƣ biển, hồ, núi, hệ động thực vật phong phú và các điểm tham quan tự
nhiên thì việc tổ chức các tour tham quan dã ngoại do ngƣời dân địa phƣơng
tổ chức vừa giúp du khách thƣởng thức đƣợc cảnh đẹp của địa phƣơng vừa
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
17
giúp ngƣời dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ tài nguyên tự nhiên của địa
phƣơng và môi trƣờng thiên nhiên. Du lịch tại địa phƣơng phát triển giúp
ngƣời dân có nhận thức cao hơn về bảo vệ môi trƣờng và quan tâm hơn đến
các hoạt động gìn giữ môi trƣờng.
Du lịch có đóng góp trực tiếp cho việc bảo vệ các khu vực tự nhiên
nhạy cảm và khu vực dân cƣ sinh sống. Những khoản thu phí từ khách du lịch
khi vào tham quan các khu du lịch và các nguồn khác có thể đƣợc phân bổ
cho việc bảo vệ và quản lý các khu vực tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các
khu tự nhiên có nhiều loài động thực vật quý hiếm. Ngƣời dân phối hợp với
chính quyền địa phƣơng tăng cƣờng liên kết giữa phát triển du lịch với bảo vệ
tài nguyên và phát triển cộng đồng. Việc quản lý tốt tài nguyên thiên nhiên và
môi trƣờng cảnh quan của ngƣời dân địa phƣơngcó thể làm tăng những lợi ích
mà du lịch đem lại.
*Thay đổi hành vi cộng đồng
Phục vụ, tạo điều kiện cho du khách thƣởng thức các giá trị văn hoá,
những cảnh đẹp của quê hƣơng mình khiến cho ngƣời dân địa phƣơng biết
trân trọng và bảo vệ nguồn tài nguyên của địa phƣơng, những cái mà thƣờng
đƣợc cho là vốn có, không cần bảo vệ. Khi du lịch ngày càng phát triển, ngƣời
dân sẽ đƣợc hƣởng lợi từ những điều kiện cơ sở vật chất đƣợc đầu tƣ và sẽ có
nhiều lựa chọn hơn trong cuộc sống. Các hoạt động du lịch nhƣ tổ chức
du lịch nhằm đem lại lợi ích tối đa cho ngƣời nghèo, lợi ích này có thể là
kinh tế, văn hoá xã hội hay môi trƣờng góp phần xoá đói giảm nghèo khi tạo
cho họ cơ hội tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch cho khách du lịch. [20]
Nhƣ vậy, quan điểm của hoạt động du lịch vì ngƣời nghèo chính là tăng
cƣờng sự liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch và ngƣời nghèo để du lịch có
thể góp phần hơn nữa vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và ngƣời dân có thể
tham gia hoat động du lịch có hiệu quả hơn.
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
19
Các chiến lƣợc để thực hiện du lịch vì ngƣời nghèo tập trung tạo mọi
cơ hội để ngƣời nghèo tham gia vào du lịch bao gồm: tăng cƣờng sự tiếp cận
của ngƣời nghèo đến các lợi ích kinh tế do du lịch mang lại thông qua việc
ngƣời nghèo có đƣợc các cơ hội việc làm và kinh doanh trong du lịch; xây
dựng biện pháp quản lý và giải quyết các tác động tiêu cực về môi trƣờng, xã
hội liên quan đến du lịch; xây dựng các chính sách quy chế quản lý và phát
triển du lịch nhằm tăng cƣờng sự tham gia của ngƣời nghèo và khuyến khích
sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và ngƣời nghèo trong việc phát triển các sản
phẩm du lịch mới.
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) cũng có nhiều nỗ lực trong lĩnh
vực xoá đói giảm nghèo thông qua hình thức phát triển du lịch bền vững.
Năm 2002, tại Hội nghị ở Johannesburg, UNWTO đã đề xuất "Phát triển du
lịch bền vững nhƣ là một công cụ hữu hiệu cho giảm đói nghèo". Tổ chức
Phát triển Du lịch Bền vững nhằm Xoá đói Giảm nghèo (ST-EF Foudation)
đã đƣợc thành lập với nhiệm vụ hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho công cuộc
này.
Ở Việt Nam, du lịch cũng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc xác định là ngành
kinh tế mũi nhọn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
lại nhằm mục tiêu nâng cao cơ hội thu nhập cho ngƣời dân nghèo sinh sống
trong và xung quanh các trung tâm du lịch đã đƣợc xây dựng hoặc mới phát
triển. Ví dụ, các khách sạn và các nhà hàng lớn tìm mua các sản phẩm và dịch
vụ do ngƣời nghèo cung cấp, hỗ trợ đào tạo hay công ăn việc làm cho ngƣời
nghèo.
Ngoài ra, tổ chức này còn phân tích các lý do chứng minh du lịch là
một công cụ hữu hiệu để ngƣời dân địa phƣơng xoá đói giảm nghèo nhƣ sau:
Thứ nhất: do quá trình sản xuất và tiêu thụ trong hoạt động du lịch
thƣờng diễn ra đồng thời. Điều đó cũng có nghĩa, khi khách du lịch đến một
điểm du lịch nào đó, họ thƣờng mua trực tiếp các sản phẩm hay các mặt hàng
do ngƣời dân địa phƣơng cung cấp. Việc tiêu thụ tại chỗ này đảm bảo rằng,
ngƣời dân địa phƣơng trong đó có cả ngƣời nghèo sẽ có thu nhập cao hơn và
nó còn hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế địa phƣơng nhiều hơn.
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
21
Thứ hai: nhiều khu vực nghèo khó lại có lợi thế cạnh tranh hơn về chất
lƣợng tài nguyên du lịch so với các khu vực phát triển khác nhƣ các trung
tâm, đô thị Bởi, tại những khu vực này, các yếu tố nhƣ văn hoá, nghệ thuật,
âm nhạc, phong cảnh, thiên nhiên hoang dã và khí hậu hầu nhƣ vẫn giữ
nguyên vẹn các giá trị ban đầu của nó. Và, tất cả các yếu tố này mở ra cho các
địa phƣơng nghèo những cơ hội phát triển du lịch chất lƣợng cao và mang lại
thu nhập từ những sản phẩm có chất lƣợng cao ấy lại thƣờng cao hơn so với
các sản phẩm du lịch đại trà. Từ đó góp phần tăng thu nhập cho ngƣời dân
nghèo địa phƣơng góp phần cải thiện cuộc sống của họ và tăng thêm nguồn
ngân sách để phát triển cộng đồng.
Thứ ba: du lịch góp phần mở rộng địa bàn tạo công ăn việc làm cho
ngƣời dân địa phƣơng. Đặc biệt là các khu vực hẻo lánh nằm cách xa các
trung tâm hoạt động kinh tế, đó có thể là những nơi không có nhiều phƣơng
đồng.
Nhƣ vậy, có thể thấy rõ phát triển du lịch vì ngƣời nghèo là một công
cụ hết sức linh hoạt để tìm ra nhƣng giải pháp sáng tạo cho vấn đề xoá đói
giảm nghèo trong những bối cảnh phát triển du lịch khác nhau.
1.3.2. Các phƣơng thức của du lịch vì ngƣời nghèo
Có một số phƣơng thức để sự phát triển của hoạt động du lịch có thể
trực tiếp mang lại lợi ích cho ngƣời nghèo và ngƣợc lại, ngƣời nghèo có thể
đem lại lợi ích cho sự phát triển du lịch:
Tuyển dụng ngƣời nghèo vào làm việc tai các doanh nghiệp du lịch:
bằng cách hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho ngƣời nghèo trong mọi loại hình
kinh doanh du lịch nhƣ khu an dƣỡng, khách sạn, các hoạt động thu hút du
khách và các dịch vụ du lịch. Phƣơng pháp tiếp cận này đòi hỏi công tác
tuyển dụng và đào tạo tích cực, ngoài ra sẽ có chế độ khen thƣởng đối với các
doanh nghiệp du lịch có đội ngũ nhân viên địa phƣơng làm việc nhiệt tình, tận
tuỵ và ít thay đổi cán bộ.
"Xây dựng mô hình du lịch vì ngƣời nghèo tại vƣờn quốc gia Cúc
Phƣơng"
Lê Thu Hƣơng Học viên lớp cao học du lịch K2
23
Cung cấp hàng hoá và dịch vụ của ngƣời nghèo cho các doanh nghiệp
du lịch. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch mua hàng hoá và các
dịch vụ trực tiếp từ ngƣời dân nghèo địa phƣơng sẽ góp phần tối đa hoá lợi
ích kinh tế. Đồng thời, với việc sử dụng những sản phẩm có xuất xứ từ địa
phƣơng doanh nghiệp có thể giảm bớt chi phí hoạt động, đem đến cho khách
hàng hƣơng vị của địa phƣơng vào kiến tạo những mối quan hệ tích cực với
ngƣời dân ở đó, điều này sẽ khiến du khách trải nghiệm thực tế tốt hơn.
Phƣơng pháp tiếp cận này thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch
làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ và sản phẩm của địa phƣơng nhằm
đảm bảo mang đến cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ đạt chất lƣợng
đúng nhƣ mong muốn.
*
đã tiến hành Dự án phát triển du lịch cộng đồng
các xã Baan Huay Hee phía Tây Bắc tỉnh Mae Hong Son nơi đó là vùng dân
tộc thiểu số Karen.
Mục tiêu của dự án là:
- Nâng cấp chất lƣợng cuộc sống của dân cƣ
- Bảo tồn và củng cố nền văn hoá Karen
- Khuyến khích, động viên dân cƣ tự quyết định cách sinh sống của họ
- Đóng góp cho sự bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng
Du lịch Thái Lan phát triển mạnh từ thủ đô Bangkok đến hầu hết mọi
miền của đất nƣớc. Từ những năm 70, sự hấp dẫn của tài nguyên thiên nhiên,
văn hoá, lịch sử và sự thân thiện của những ngƣời dân đã làm cho miền Bắc
Thái Lan trở thành một điểm đến hấp dẫn với các bộ tộc vùng cao là Akha,
H
'
Mông, Karen, Lahu, Lisu, Shan, Mien và Haw Chinese. Đến năm 1990, du
lịch bộ tộc vùng cao đã chính thức đƣợc tổ chức. Trong thập kỷ vừa qua, Mae
Hong Son đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn với các đỉnh núi mờ sƣơng,
rừng rậm và nhiều loại văn hoá bộ tộc vùng cao.
*
PRLC: The Project for Recovery of Life and Culture