Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 1 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân MỞ ĐẦU
Nấm linh chi đã đƣợc nuôi trồng từ rất lâu, không những là nấm ăn mà nó còn là
một loại dƣợc liệu quý hiếm. Từ xa xƣa đến nay nấm Linh chi vẫn đƣợc xem là nguồn
thực phẩm cao cấp với mùi vị thơm đặc trƣng. Vì vậy nấm không chỉ là thức ăn ngon
mà còn là thực phẩm chức năng tốt cho sức khoẻ con ngƣời.
Cũng nhƣ nhiều loại nấm khác, nấm Linh chi có hàm lƣợng chất béo thấp. Thành
phần chất béo chủ yếu là axít béo chƣa no, rất thích hợp cho những ngƣời ăn kiêng,
chống béo phì. Hàm lƣợng protein cao chỉ sau thịt và đậu nành.
Ngoài những giá tri về dinh dƣỡng, nấm Linh chi còn có những dƣợc tính quý.
Những khảo sát dƣợc lý và lâm sàng hiện nay cho thấy Linh chi không có độc tính,
không có tác dụng phụ dù dùng dài ngày, không tƣơng kỵ với những dƣợc liệu khác
hoặc tân dƣợc trong điều tri và Linh chi cũng có nhiều công dụng:
o Linh chi đƣợc dùng trong điều tri viêm gan do virus.
o Hỗ trợ điều tri các bệnh ung thƣ.
o Chống dị ứng, chống viêm.
o Tác dụng nhƣ chống oxy hoá.
o Bảo vệ và chống ảnh hƣởng của các tia chiếu xạ.
o Nâng cao hệ miễn dịch trong điều trị nhiễm HIV.
o Điều hoà và ổn định huyết áp. Chống nhiễm mỡ xơ mạch và các biến chứng, giảm
cholesterol.
o Chữa loét dạ dày, tá tràng.
o Hỗ trợ trong điều tri tiểu đƣờng.
o Chống suy nhƣợc thần kinh kéo dài, mất ngủ.
o Chống stress gây căng thẳng.Và còn nhiều công dụng khác
Nhờ những giá tri dinh dƣỡng và dƣợc học mà ngày nay ở Việt Nam và trên toàn
thế giới việc nuôi trồng, tiêu thụ nấm Linh chi tăng mạnh. Các nƣớc sản xuất nấm Linh
chi chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam
với rất nhiều truyền thuyết. Ngƣợc dòng thời gian, các ghi chép sớm nhất về Linh chi là
từ thời Hoàng đế, cách đây hơn 2000 năm. Theo các sách kim điển thì Linh chi có tác
dụng làm trẻ hóa, sống lâu và ngừa đƣợc bách bệnh.
Trong truyền thuyết của ngƣời Trung Quốc thƣờng lƣa truyền các câu chuyện về
Linh chi chữa bệnh nan y, khá nhiều chuyện hấp dẫn và cảm động. Trong truyền thuyết
nổi tiếng “Bạch xà truyện” kể rằng vì muốn cứu sống ngƣời chồng mà xà tinh Bạch
nƣơng nƣơng đã không quản ngại hiểm nguy đến tận núi Nga My xa hàng ngàn dặm lấy
cắp tiên thảo của Nam Cực tiên ông. Cuối cùng mục đích của nàng đã đạt đƣợc, Hứa
Tiên đƣợc cứu sống và tiên thảo đó chính là Linh chi. Vào thời Hán Vũ đế, trên chiếc xà
ngang cung điện, một hôm bỗng mọc ra một cây nấm Linh chi, các vị đại thân đến chúc
mừng và tâu rằng: Linh chi mọc là dự báo điềm lành đến với nhà vua. Từ đó Hán Vũ đế
đã hai lần hạ chiếu ân xá phạm nhân.
về công dụng chữa bệnh của Linh chi, lần đầu tiên xuất hiện là trong y văn Hán
Vũ đế. Trong “Thần nông bản thảo kinh”, bộ sách nổi tiếng về thảo dƣợc ra đời cách
đây hơn 2000 năm đƣợc biên soạn từ thời hậu Hán (năm 25 đến 22 trƣớc công nguyên),
đề cập đến 365 dƣợc thảo thì Linh chi xếp vào loài Thƣợng dƣợc, ở vị trí số một sau đó
mới đến nhân sâm. Thần nông bản thảo kinh phân biệt Linh Chi theo màu sắc, có ghi:
Linh Chi có 6 loại: Xích chi, Thanh chi, Bạch chi, Hoàng chi, Hắc chi, Tử chi.
Đến thời Minh, Lý Thời Trân viết bản thảo cƣơng mục gồm 2000 loài thuốc thì
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 3 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân Linh Chi vẫn đƣợc xếp vào hàng đầu. Ông viết: “Dùng lâu ngƣời nhẹ nhàng, không già,
sống lâu nhƣ thần tiên”. Ông căn cứ vào tính vị, công năng, tác dụng mà phân Linh Chi
ra thành 6 loại:
1. Thanh chi: Còn có tên là Long chi: Toàn bình, không độc. Chủ trị sáng mắt, bổ
can khí, an thần, tăng trí nhớ.
2. Hồng chi: Còn có tên là Xích chi hay Đơn chi: Yị đắng, tính bình, không độc.
Chủ tậ xung trung kết (tức ngực) ích tâm khí, bổ trung, tăng trí nhđ, tăng trí tuệ.
Ngƣời Việt Nam thứ hai có nói đến Linh chi là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 -
1784) viết về Linh chi trong “Vân Đoài loại ngƣ” và “Kiến văn tiểu lục” đánh giá Linh
chi là “Một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” với những tác dụng lớn nhƣ kiện
não, bảo can, cƣờng tâm, kiên vị, cƣờng phế, giải độc, giải cảm và giúp con ngƣời sống
lâu tăng tuổi thọ.
Nấm Linh chi đƣợc Kỹ Sƣ Nguyễn Thanh đƣa từ Trung Quốc về Việt Nam với
một số chủng Linh chi đỏ quý Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr.) K a rs t v à đƣợc
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 5 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân nuôi trồng ra quả thể tại Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Ở (hình 1.1 và hình 1.2) là quả thể
nấm Lình chi đô.
Hình 1.2: Bề mặt dƣới của quả thể nấm Linh chi đỗ (Ganoderma lucidum).
Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định Linh chi là một loài nấm Lỉnh chi là một
loài cố tên khoa học là Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr.) Karst, tên thông dụng là Linh
chi (Việt Nam), Lingzhi (Trung Quốc), Reishi (Nhật Bản). Nấm có màu đỏ, hiện nay có
khoảng 45 thứ (varíete) Linh chi đƣợc xác định, nghĩa là chỉ có Linh chi đỏ ta đã cố 45
loạỉ cố màu sắc khác nhau thay đỗi từ vàng, vàng cam đến cam, đỏ cam, đỏ, đỏ sậm, đỏ
tia, Ngoài ra còn cố Lỉnh chi đen (Ganoderma sinense) nhƣ (hình 1.4), Linh chỉ tím
(Ganoderma japonicum) là hai loại hoàn toàn khác Linh chi đỏ. Linh chi vàng gặp ồ
Việt Nam là (Ganoderma colossum) nhƣ (hình 1.3) chƣa phát hiện ồ Trung Quốc và các
nƣớc Đông Nam Á khác.
Hình 1.1: Bề mặt trên của quả thể nấm Linh chi đổ (Ganoderma lucidum)
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 6 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân
Chi Ganoderma rất phong phú và phân bố khá rộng, nhất là ở vùng nhiệt đới ẩm,
một số dùng làm thực phẩm chức năng và dƣợc phẩm. Gặp hầu hết ở các nƣớc Châu Á ở
Việt Nam gặp rãi rác từ Bắc đến Nam.
1.1.1. Đặc điểm sinh học
về hình thái ngoài chúng cũng có ít nhiều sai khác. Quả thể có cuống dài hoặc
ngắn, thƣờng đính bên, đôi khi trở thành đính tâm do quá liền tán mà thành. Cuống nấm
thƣờng hình trụ, hoặc thanh mảnh (cỡ 0,3 - 0,8 cm đƣờng kính), hoặc mập khỏe (tđi 2 -
3,5 cm đƣờng kính). ít khi phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong quẹo (do biến dạng
trong quá trình nuôi trồng). Lđp vỏ cuống láng đỏ - nâu đỏ - nâu đen, bóng, không có
lông, phủ suốt lên mặt tán nấm.
Mũ nấm dạng thận - gần tròn, đôi khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng đồng tâm
và có tỉa rảnh phóng xạ, màu sắc từ vàng chanh - vàng nghệ - vàng nâu - vàng cam - đỏ
nâu - nâu tím, nhấn bóng, láng nhƣ vemi. Khi già, sẫm màu lđp vỏ láng lớp phấn đỏ nâu
trên bề mặt ngày càng nhiều và dày hơn. Kích thƣđc tai nấm biến động lớn, từ 5 - 12 cm,
dày 0,8 - 3,3 cm. Phần đính cuống hoặc gồ lên hoặc lõm nhƣ lõm rốn (hình 1.6)
Ngành
: Eumycota.
Lớp
: Basidiomycetes.
Bộ
: Polyporales.
Họ
: Ganodermataceea.
Chi
: Ganoderma
Loài
: Ganoderma lucidum
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 9 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân
Trang 10 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân phá vỏ hoặc không phá vỏ. Các sản phẩm này thƣờng đắt hơn các sản phẩm không có
bào tử. Tuy nhiên những bào tử đã phá lđp vỏ thì dễ bị oxy hóa nếu bảo quản không tốt,
còn nếu không phá vỏ thì cơ thể khó hấp thụ nếu dùng dƣới dạng viên nang.
Bảng 1.1: Biến động kích thƣớc bào tử đảm nấm Lỉnh chi chuẩn ở các mẫu
vật khác nhau.
Vỏ bào tử khá dày, cỡ 0,7 - 1,2 um có cấu trúc phức tạp, mặc dù kích thƣớc biến
đỗi nhƣng cấu trúc tinh vi của bào tử đảm có độ ổn định cao, dù là ở chủng nuôi trồng ở
Trung Quốc, Nhật Bản chủng nấm Linh chi Hà Bắc hay chủng Đà Lạt. Rõ ràng kiến tạo lỗ
thủng trên bề mặt lớp vỏ ngoài là phổ biến nhất ở các chủng nghiên cứu, và quan sát
thƣờng thấy mấu lồi nhỏ (đƣờng kính 0,5 - 1,5um) ở đầu đối diện với lỗ nảy mầm - tức là
Nguồn
Kích thƣớc bào tử
Vùng thu mẫu
1889Patouuillard
10- 1 2 x 6 - 8
Đông Dƣơng
1939 Imazeki
9,5- 11 X 5,5-7
Nhật Bản
1964 teng
8,5- 11,5x5-6,5
Trung Quốc
1972 Steyaert
8,5- 10,8- 13x5,5-8,5
Indonesia, úc Châu
1973 Pegler et al
8,5-11,5x5-7
Đài Loan
1994 Thu
9 -1 2 x 5 - 7
Hà Bắc Việt Nam
1994 Tham et al
8 - 10,5 X 5 - 7
Lạng Sơn Việt Nam
1996 Tham
7,5 - 11,5x5,5-7
Đà Lạt Việt Nam
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 11 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân ở đáy bào tử (có thể thấy rõ ở chủng nấm Linh Chi). Mới chỉ thấy Steyaert (1972), Futado
(1962), Hseu (1990), Buchanan và Wilkie (1994), chụp và vẽ mô tả cấu trúc này nhƣng
chƣa ai đƣa ra nhận xét và thuật ngữ nào.
Lỗ nảy mầm của bào tử đảm khá lớn, là đặc điểm quan trọng của loài Ganoderma
(đƣờng kính cỡ 3,2 - A,2ụ.m). Đã có nhiều thảo luận lý thú, đặc biệt là các thí nghiệm gieo
đảm bào tử để xác định chức năng của cấu trúc này. Đặc biệt Furtado và Steyaert thƣờng
lƣu ý, gọi vùng này là đỉnh bào tử, nhấn mạnh đặc điểm nở phồng dày lên của vùng này
của các loài Ganoderma.
Trên lớp vỏ ngoài thấy rõ các trụ chống chính là khái niệm “gai chống” do đa số
các tác giả nhận xét đỉnh các trụ nổi gồ thành các mụn cóc. Các trụ chống chính là tầng
cột theo phân loại của Erdtman (1952) - các trụ đƣợc nối vổi nhau bằng vách mỏng chông
từ tầng nền tới tầng phủ mỏng, trong suốt, bao bọc toàn bộ bên ngoài bào tử. Nhƣ thế tạo
thành các xoang rỗng ở lớp vỏ ngoài, nhờ đó tạo khả năng bảo vệ cao cho vỏ bào tử.
Lớp vỏ trong mỏng hơn, sát ngay bên dƣới tầng nền của lớp vỏ ngoài, thƣờng cảm
quan mạnh, do vậy thấy đậm màu dƣới kính hiển vi quang học. cấu trúc của lớp vỏ trong
khỉ ấy sẽ xuất hiện lđp phấn ánh xanh tím, cố thể chịu mƣa liên tục. Đáng chú ý là cấc
chủng nấm Linh chi thƣờng có màu nâu đỏ bóng sẫm màu hơn, trong khi chủng Linh chi
ở Đà Lạt thƣờng đỏ hồng - đỏ cam. Ở những vùng thấp (< 500 m) rõ ràng là ƣu thế của
các chủng chịu nhiệt độ cao (28 - 35) nhƣ ở vùng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông
Cửu Long (quanh thành phố Hồ Chí Minh).
Bởi thế, chủng Linh chi đỏ đƣợc chúng tôi chọn làm đối tƣợng để tìm hiểu và nuôi
trồng khảo cứu chính phục vụ cho bài tốt nghiệp. Và nghiên cứu chi tiết hơn về kỹ thuật
nuôi ƣổng Linh chỉ ỏ điều kiện khí hậu tại TP. Hồ Chí Minh.
1.1.3. Điều kiện sinh trƣởng và sinh sản
• Nhiệt độ thích hợp:
- Giai đoạn nuôi sợi: Từ 20°c đến 30°c
- Giai đoạn quả thể: Từ 22°c đến 28°c
• Độ ẩm:
- Độ ẩm cơ chất: Là lƣợng nƣớc bổ sung vào cơ chất để nấm có thể mọc đƣợc từ 60
đến 65%.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 13 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân - Độ ẩm không khí: Gọi là độ ẩm tƣơng đối không khí. Nó biểu hiện bảng phần trăm
của tì lệ độ ẩm tuyệt đối trên độ ẩm bảo hoà của không khí, độ ẩm không khí từ
80% đến 95%.
- Độ thông thoáng: Trong suốt quá trình nuôi sợi và phát triển quả thể, nấm Linh chi
đều cần có độ thông thoáng tốt.
• Ánh sáng:
- Giai đoạn nuôi sợi: Không cần ánh sáng.
- Giai đoạn phát triển quả thể: cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng có thể đọc sách đƣợc).
Cƣờng độ ánh sáng cân đối từ mọi phía.
• pH:
đây một số phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và vùng Đông Nam Á cũng bắt đầu tham gia vào
tiến trình này.
Vđi các phƣơng pháp cổ điển tníđc đây ngƣời ta đã phân tích các thành phần hoá
dƣợc tổng quát của Linh chi, cho thấy:
Nƣớc : 12 - 13%
(trong cao mềm của Việt Nam thì tới 22,32%)
Cellulose : 54 - 56%
Lignin : 13 - 14 %
Hợp chất nitơ :1,6 - 2,1 %
Chất béo (kể cả dạng xà phòng hoá) : 1,9 - 2%
(có thể có tới 0,4% trong cao)
HỢp chất Sterol toàn phần : 0,11 - 0,16%
Saponin toàn phần : 0,3 - 1,23%
Alcaloide và Glucoside tổng sô" : 1,82 - 3,06%
Từ những năm 1980 đến nay, ngƣời ta, bằng các phƣơng pháp hiện đại: phổ kế uv
(tử ngoại), IR (hồng ngoại) , phổ kế khối lƣợng - sắc ký khí (GC - MS), phổ kế cộng
hƣởng từ hạt nhân (đánh dấu với H - 3 và c - 13) (NMR) và đặc biệt là kỹ thuật sắc ký
lỏng cao áp (HPLC) và phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính xác gần 100 hoạt chất và
dẫn xuất trong nấm Linh chi. Dẩn liệu từ MedLine cho thấy cũng có đến gần con số 200
công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này (từ 1983 - 1993 ). Có thể khái quát trong (bảng
1.3) dƣđi đây:
Điều đáng lƣu ý là các nhóm hoạt chất chính gặp khá phổ biến ỏ nhiều loài
Ganoderma Kast. Và cả các loài Amauroderma Muƣ nhƣ luận điểm về tính thống
nhất của họ Ganodermataceae Donk về phƣơng diện hoá sinh học của (Lê Xuân Thám,
Đàm Nhuận, 1994).
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 15 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân
+
G. lucidum
+
+
+
Gsinense
+
+
+
G. tenue
+
+
+
G. tsugae
+
+
+
Amauroderma rude
+
+
+
A macer
+
+
+
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 16 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân
Ganoderans A, B, c
Polysaccharide
Hạ đƣờng huyết
Beta - D Glucan
Polysacc
Chông ung thƣ, tăng tính miễn dịch
BN - 3B; 1,2, 3, 4
Polysacc
D - 6
Polysacc
Tăng tổng hợp protein, tăng chuyển
hoá acid nucleic
***
Polysacc
TrỢ tim
Ganoderic acids R, s
Triterpenoide
ức chế giải phóng histamine
Ganoderic acids B, D, F, H, Y
Triterpen
Hạ huyết áp, ức chế ACE
Ganoderic acids
Triterpen
ức chế sinh tổng hợp Cholesterol
Ganodermadiol
Triterpen
Hạ huyết áp, ức chế ACE
Ganodermic acids Mf
Triterpen
3.7, 11, 12, 15, 23 - hexaoxo - 5 alpha - lanosta - 8 - en - oic acid (I)
3beta, 7beta - trihydroxy - 11, 25, 23 trioxo - 5 alpha - lanosta 8 - en - 26 oic acid(II)
7beta - hydroxyl - 11, 15, 23 - pentaoxo - 5 alpha - lanosta - 8 - en - oic acid (III)
3.7, 11, 15, 23 - pentaoxo - 5 alpha - alpha - lanosta - 8 - en - oic acid (IV)
24, 25, 26 - trihydroxy - 5 alpha - lanosta - 7, 9 (11) - dien -3- one(V)
Trong đó hợp chất đầu (I) là một chất mới tìm thấy đƣợc đặt tên là Ganosporeríc
A còn 4 chất sau lần đầu tiên thu nhận đƣợc từ bào tử G. lucidum. Các hợp chất
Lanostannoid có cấu trúc kiểu triterpen đƣợc phát hiện ngày một nhiều, năm 1986,
Arisawa, M, et al xác định cấu trúc 3 hợp chất mới.
- Ganodermenonol:
26 - hydroxyl - 5 alpha - lanosta -7,9,(11)24 - trien - 3 - one
- Ganodermadiol:
5 alpha - lanosta - 7,9,(11)24 - trien - 3 beta,26 diol
- Ganodermatriol:
5 alpha - lanosta - 7,9,(11)24 - trien - 3 beta, 26, 27 - triol
Trong nhóm các Ganodermic acid, Wang, C.N., et al (1989) đã chứng minh hiệu
Ganosporelacton A
Triterpen
Chống khối u
Ganosporelacton B
Triterpen
Chống khối u
Oleic acid dẫn xuất
Acid béo
ức chế giải phóng Histamine
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 18 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân lực ức chế kết tụ tiểu cầu ngƣời và xác định cấu trúc phân tử của ganodermic acid s.
Loạt nghiên cứu về polysaccharide không tan trong nƣớc của các tác giả Nhật Bản
(Sone, Y. et al, 1985; Takashi, M.et al, 1993, ) chứng tỏ hiệu lực chông khôl u rất rõ,
thậm chí làm tan khối u vđi tỷ lệ % với các loài G.applanatum và G. lucidum.
Gần đây Lin Zhibin và Lei sheng (1994) đã xác định trọng lƣợng phân tử của
Polysaccharide từ G.lucidum cho kết quả: 7.100 - 9.300. Nhiftig tổng kết xác đáng về vai
trò sinh - dƣợc học của nhóm hoạt chất này đã đƣợc R. Chang (1994) giới thiệu tại hội
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 19 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân thảo Bắc Kinh với báo cáo thực nghiệm của tác giả Đài Loan, Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Mặc dù còn ít nghiên cứu, song các alcaloïde ở Ganoderma capence (Lloyd) Teng
rất đáng lƣu ý. Chúng là các pyrroles đặc biệt (Yang, J, J và Yu, DQ, 1990); (Yu, J,G, et
al 1990).
ganoine:
N - isopentyl - 5 hydroxymethyl - pyrryl aldehyde
gnaodine:
N - phenylethyl - 5 hydroxymethyl - pyrryl aldehyde
ganoderpurine:
N9 - (anpha, anpha diemethyl - gama - oxybutyl) adenine
Từ đó đã tổng hợp các alkaloid tƣơng tự các mẫu tự nhiên có hiệu quả chống viêm
(1A và 1B):
1A: 1 - isopentyl 1 - 2 - formyl 5 - hydroxymethylpyrrole
IB: 1 - phenylethyl 1 - 2 - formyl - 5 hydroxymethylpyrrole
Tác dụng bảo vệ gan, chống tác hại của CCI, đƣợc chứng minh rõ ràng với các chế
phẩm chiết từ các loài linh chi.
Có lẽ đa dạng nhất và tác dụng dƣợc lý mạnh nhất là nhóm sapoine - triterpenoids
- các acid ganoderic. Lần đầu tiên Nishtoba et al (1984 - 1987) chứng minh các ganoderic
acid c là mới trong tự nhiên, sau đó Morigiwa et al. 1986, tìm ra thêm ganoderic acid B.
Chúng thể hiện hoạt lực ức chế giải phóng histamine, ức chế Angiotensine Conversion
Thanh chi: Còn có tên là
Long chi:
Xanh
Vị chua, Toàn bình, không độc. Chủ tri sáng mắt, bổ
can khí, an thần, tăng trí nhớ.
Hồng chi còn có tên là
Xích chi hay Đơn chi:
Đỏ
Vị đắng, tính bình, không độc. Chủ tri xung trung
kết (tức ngực) ích tâm khí, bổ trung, tăng trí nhớ,
tăng trí tuệ.
Hoàng chi còn có tên là
Kim chi:
Vàng
Cam (ngọt) bình, không độc. Chủ trị ích trùng khí,
an thần.
Bạch chi còn có tên là
Ngọc chi:
Trắn
g
Cay, bình, không độc. Chủ trị ích phế khí, làm
thông miệng, mũi, an thần.
Hắc chi còn có tên gọi là
Huyền chi:
Đen
Mặn, bình, không độc. Chủ tri ù tai, lợi khớp, bảo
thần (bảo vệ công năng của hệ thần kinh) ích tình
khí, làm dai gân cốt.
Tử chi còn có tên gọi là
Tím
Tháng
điều trị
Xơ cứng bì
MAW
173
79,1 %
3-6
Viêm da cơ
MAW
55
96,4 %
3-6
Hồng ban Lupus
MAW
84
82,1 %
3
Ruing tóc từng phần
MAW
232
78,9%
1-3
Giảm trƣơng lực teo cơ
MAW.SAW
35
74,3 %
3-6
Loạn dƣỡng cơ tiến triển
MAW.SAW
121
loạn chức năng, làm lành ác tổn thƣơng cơ quan, phục hồi hệ miễn nhiễm. Một khi hội đủ
ba điều kiện trên thì cơ thể khó bệnh, con ngƣời khó già trƣớc tuổi. Nếu biết cách áp dụng
Linh chi sẽ là một trong các phƣơng tiện hữu hiệu và an toàn để tăng cƣờng sức đề kháng
cơ thể trong cuộc sống đầy căng thẳng và ô nhiễm môi trƣờng của thế kỷ 21 ”
Linh chi đóng một vai trò quan trọng trong y học cổ truyền Trung Quốc dù dùng
độc vị hay phối hợp vđi các thảo dƣợc khác.
® Đối với bệnh ung bướu:
Theo “Linh chi phòng tri bệnh” thì “Linh chi có tác dụng nâng cao khả năng miễn
dịch cơ thể. Linh chi còn giúp cải thiện thể chất của bệnh nhân ung bƣđu, giảm nhẹ triệu
chứng”. Đa số bệnh nhân ung bƣớu sau khi uống Linh chi hoặc bào tử Linh chi triệu
chứng giảm thấy rõ, ăn uống và giấc ngủ đƣợc cải thiện, các triệu chứng nhƣ sốt nhẹ, ho,
tức ngực, đại tiện lỏng đều chuyển biến tốt, khối u bị ức chế, chức năng miễn dịch đƣợc
phục hồi. Tinh thần và thể lực đƣợc cải thiện, tuổi thọ kéo dài, một số trƣờng hợp ung
bƣớu đƣợc tri lành. Dùng Linh chi phối hợp vổi hoá trị, xạ tậ, nâng cao hiệu quả của hoá
tri và xạ trị.
® Đối với bệnh tim mạch:
Trƣđc đây ngƣời ta cho rằng không thể điều tri để giảm xơ vữa. Nhƣng gần đây, đã
có công trình chứng minh đƣợc, nếu điều tri tốt sẽ làm giảm kích thƣớc mảng xơ vữa,
giảm nguy cơ nhồi máu cơ tìm, giảm đột tử.
Linh chi có công dụng hạ huyết áp, hạ mỡ trong máu. Linh chi có tác dụng làm
giảm độ tạo huyết khối của máu và phòng ngừa tắc mạch máu, chủ yếu là nhờ:
- Linh chi có thể làm tăng lƣợng lipoprotein mật độ cao trong máu, từ đó dần
dần chuyển hoá, hoà tan và đào thải cholesterol mật độ thấp.
- Linh chi có thể nâng cao khả năng hoà tan của máu, làm tan các khôi tiểu cầu
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 24 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân trong máu nhằm ngăn ngừa tạo huyết khối và tắc mạch máu.
Linh chi làm giảm nồng độ mỡ trong máu, kể cả loại cholesterol xấu. Các thử
tế bào T, tế bào B ) nâng cao khả năng tái sinh của tế bào gan, xúc tiến phục hồi tổ chức
gan bị tổn thƣơng, phục hồi và nâng cao chức năng gan. Do vậy Linh chi điều tri các bệnh
viêm gan rất tốt, nhất là viêm gan cấp.
® Chống HIV:
Các chất chiết tan trong nƣớc của Linh chi có tác dụng chông HIY (Hattori et al,
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc Sĩ Nguyễn Thị Sáu
Trang 25 SVTH: Ngô Thị Thanh Vân 1997 Kim eet al, 1997). Gần nay Mekkawy (1998), Min et al (1998) cho biết ganoderiol F
và ganodermanontriol, acid ganoderic beta, ganodermanondiol, ganoderaia nontriol và
acid ganolucidic A và gucidumol B cũng có tác dụng chống HIV. Đặc biệt, có hai báo cáo
của Đại học Chulalongkom, Thái Lan và một báo cáo của Đại học Y dƣợc Toyama, Nhật
về thử nghiệm trên virus HIY. Theo Tiến sĩ Praphan Panuphak, nấm Linh chi đã đƣợc
micron hoá (micronized) thử nghiệm trên những bệnh nhân nhiễm HIV ở Thái Lan cho
thấy thuốc đƣợc dung nạp tốt nhƣng tác dụng lâm sàng chƣa rõ rệt.
Điều này gợi mở cho các nhà nghiên cứu Linh chi trên thế giới một hƣớng mới
trong việc khảo sát loại nấm đƣợc xem là trƣờng thọ này, ngoài những tác dụng đã biết và
làm chúng ta nhớ lại một thông tin đăng trên Sunday Morning Post 18 - 10 - 1992: Cơ
quan FDA của Hoa Kỳ cho phép đƣợc sử dụng Linh chi (một trong 7 loại đƣợc phép)
trong khi chờ những thuốc công hiệu hơn để ngăn ngừa và điều tri AIDS, mà Linh chi đã
đƣợc chứng minh có ảnh hƣởng phục hồi hệ miễn dịch của cơ thể. Dr. Anderew Weil cho
biết: “Linh chi kích thích hệ thông miễn dịch tốt nhất, Linh chi không độc và rất hữu dụng
trong lĩnh vực này”. Ông sử dụng nó trong ba năm cho các trƣờng hợp ung thƣ, các
trƣờng hợp nhiễm HIV, các điều kiện tiền HIV và cho việc suy giảm hệ miễn dịch một
cách tổng quát. Và gần đây là hữu ích trong các trƣờng hợp của triệu chứng mệt mỏi mạn
tính.
® Hiệu quả của Linh chỉ đối với mệt mỏi mạn tính:
Linh chi phục hồi, làm giảm mỏi mệt, phòng ngừa bệnh Linh chi từ xƣa đến nay
đƣợc trân trọng nhƣ thuốc chữa vạn bệnh nhƣng ngay cả những ngƣời không bệnh, Linh