i
TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
BÀI GIẢNG
CƠ SỞ KỸ THUẬT THÔNG TIN QUANG
Nhóm biên soạn: TS. Nguyễn Đức Nhân
ThS. Trần Thủy Bình
ThS. Ngô Thu Trang
ThS. Lê Thanh Thủy
HÀ NỘI 12-2013
PTIT
ii
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi ra đời cho đến nay thông tin quang đã trở thành hệ thống truyền dẫn
trọng yếu trên mạng lưới viễn thông. Trước đây, nhắc đến hệ thống truyền dẫn quang
thì chúng ta thường nghĩ ngay đến các hệ thống truyền dẫn với tốc độ rất cao, dung
lượng lớn đóng vai trò như các mạng đường trục của viễn thông. Nhưng giờ đây,
thông tin quang còn được phát triển nhanh chóng ở cả cấp độ mạng truy nhập. Có thể
thấy rằng để đáp ứng nhu cầu truyền tải do sự bùng nổ thông tin, hệ thống viễn thông
cần phải phát triển cả về qui mô và cấu trúc mạng.
Mạng truyền dẫn dựa trên hệ thống truyền thông sợi quang là xương sống của
Chương 5: Giới thiệu về các vấn đề cơ bản trong thiết kế hệ thống thông tin
quang bao gồm hệ thống thông tin quang số và hệ thống thông tin quang tương
tự. Ngoài các vấn đề khi thiết kế hệ thống đơn kênh, một số khái niệm và
nguyên lý của hệ thống đa kênh cũng được giới thiệu.
PTIT
iii
Chúng tôi hy vọng rằng cuốn bài giảng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho
sinh viên chuyên ngành viễn thông và những người quan tâm. Với một khối lượng lớn
kiến thức nhưng nhóm tác giả cũng cố gắng chắt lọc để giới thiệu tới bạn đọc trong
một số lượng trang sách nhất định để giúp bạn đọc nắm bắt những vấn đề cơ bản nhất
của kỹ thuật thông tin sợi quang. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của
các quí thầy cô, các bạn sinh viên và những người quan tâm để hoàn thiện hơn cuốn
tài liệu này.
PTIT
iv
MỤC LỤC
DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vii
Chương 1 Tổng quan hệ thống thông tin quang 1
1.1 Lịch sử phát triển thông tin quang 1
1.2 Một số khái niệm cơ bản trong thông tin quang 6
1.2.1 Băng tần phổ quang 6
1.2.2 Ghép kênh 9
1.2.3 Đơn vị công suất 10
1.3 Mô hình tổng quát hệ thống thông tin quang 11
2.7 Cáp sợi quang 75
PTIT
v
2.7.1 Chế tạo sợi quang 75
2.7.2 Cáp sợi quang 77
2.7.3 Hàn và kết nối sợi quang 80
Chương 3 Bộ phát quang 85
3.1 Một số vấn đề cơ bản trong vật lí quang bán dẫn 85
3.1.1 Quá trình phát xạ và hấp thụ 85
3.1.2 Các vật liệu bán dẫn 89
3.1.3 Tiếp giáp p-n 95
3.1.4 Tái hợp không bức xạ 97
3.2 Nguồn LED 99
3.2.1 Cấu tạo và phân loại nguồn LED 100
3.2.2 Đặc tính của LED 104
3.3 Laser laser bán dẫn (LD) 110
3.3.1 Cấu tạo cơ bản của nguồn laser bán dẫn 110
3.3.2 Đặc tính của LD 116
3.3.3 Các nguồn LD đơn mode 119
3.4 Điều biến nguồn quang 123
3.5 Một số vấn đề trong thiết kế bộ phát quang 124
3.5.1 Ghép nối nguồn - sợi quang 124
3.5.2 Mạch kích thích nguồn quang 125
3.5.3 Ổn định nguồn quang 129
Chương 4 Bộ thu quang 130
4.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 130
4.1.1 Đáp ứng của bộ thu 130
4.1.2 Hiệu suất lượng tử 131
4.1.3 Độ rộng băng tần nguồn thu 132
4.6.3 Kỹ thuật thu heterodyne 172
4.6.4 Tỷ số tín hiệu trên nhiễu 172
Chương 5 Hệ thống thông tin quang sợi 174
5.1 Cấu trúc hệ thống thông tin quang 174
5.1.1 Tuyến điểm – điểm 174
5.1.2 Hệ thống thông tin quang số 175
5.1.3 Hệ thống thông tin quang tương tự 179
5.2 Cơ sở thiết kế hệ thống 183
5.2.1 Hệ thống bị giới hạn bởi suy hao 185
5.2.2 Hệ thống bị giới hạn bởi tán sắc 185
5.2.3 Quỹ công suất quang 187
5.2.4 Quỹ thời gian lên 188
5.3 Bù công suất 190
5.3.1 Bù công suất do nhiễu mode 190
5.3.2 Bù công suất do nhiễu phần mode 192
5.3.3 Bù công suất do tán sắc 194
5.3.4 Bù công suất do chirping 195
5.3.5 Bù công suất do nhiễu phản xạ 198
5.4 Hệ thống đa kênh 201
5.4.1 Hệ thống thông tin quang WDM 201
5.4.2 Hệ thống thông tin quang OTDM 203
5.4.3 Hệ thống thông tin quang SCM 204
5.4.4 Hệ thống ghép kênh theo mã (CDM) 205
PTIT
vii
DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
DFB
Distributed Feedback Phản hồi phân bố
DR
Dynamic Range Dải động
DR
Distributed Reflector Bộ phản xạ phân bố
DWDM
Dense WDM WDM mật độ cao
E
ELED
Edge emitting LED LED phát xạ cạnh
F
FET
Field Effect Transistor Transistor hiệu ứng trường
FPA
Fabry – Perot Amplifier Bộ khuếch đại Fabry –
Perot
FPLD
Fabry – Perot Laser Diode Laser diode có khoang
cộng hưởng Fabry – Perot
FWHM
Full Width at Half Maximum Độ rộng toàn phần tại nửa
lớn nhất
FWM
Four Wave Mixing Trộn bốn sóng
G
GI
MESFET
Metal Semiconductor Field Effect
Transistor
Transistor trường bán dẫn
kim loại
MFD
Mode Field Diameter Đường kính trường mode
MOSFET
Metal Oxide Silicon Field Effect
Transistor
Transistor trường oxit Silic
kim loại
MQW
Multiple Quantum Well Giếng lượng tử
MZ
Mach – Zehnder Bộ điều chế Mach –
Zehnder
N
NA
Numerical Aperture Khẩu độ số
NF
Noise Figure Hình ảnh nhiễu
NLS
Nonlinear Schroedinger Schroedinger phi tuyến
O
OA
Step Index Chỉ số chiết suất phân bậc
SMF
Single Mode Fiber Sợi quang đơn mode
SNR
Signal – to – Noise Ratio Tỉ số tín hiệu trên nhiễu
SPM
Self Phase Modulation Tự điều chế pha
W
WDM
Wavelength Division Multiplexing Ghép kênh theo bước sóng PTIT
1
Chương 1 Tổng quan hệ thống thông tin
quang 1.1Lịch sử phát triển thông tin quang
Hình 1-1 Sự tăng trưởng về tích tốc đô-khoảng cách BL trong khoảng thời gian 1850 đến
2000. Mỗi dấu tròn đen đánh dấu sự xuất hiện của một công nghệ mới.
Thông tin quang là kỹ thuật truyền thông tin bằng ánh sáng và từ xa xưa con
người đã sử dụng phương thức này để báo tin cho nhau ở khoảng cách xa. Tuy
nhiên sự phát triển các hệ thống thông tin liên lạc trước 1980 đều dựa trên cơ chế
truyền dẫn điện và trải qua quá trình phát triển từ điện báo, điện thoại cho đến cáp
đồng, viba số. Theo thời gian những thay đổi về mặt kỹ thuật công nghệ tạo ra sự
tăng trưởng nhanh về năng lực truyền dẫn thông tin. Năng lực của một hệ thống
là thế hệ thông tin quang đầu tiên nhưng hiệu năng của hệ thống đã cao hơn nhiều
so với các hệ thống truyền dẫn cáp đồng truyền thống thời đó.
PTIT
3 Hình 1-3 Sự tăng về tích BL trong giai đoạn 1975 đến 2000 qua một số thế hệ hệ thống
thông tin quang. Các ký hiệu khác nhau mô tả cho các thế hệ kế tiếp nhau.
Khoảng cách lặp có thể được tăng lên đáng kể khi hệ thống sợi quang hoạt
động tại vùng bước sóng gần 1,3 µm mà ở đó suy hao của sợi nhỏ hơn 1 dB/km.
Thêm nữa các sợi quang lúc đó có đặc tính tán sắc nhỏ nhất trong vùng bước sóng
này. Do đó đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển các laser và các linh kiện thu
bán dẫn InGaAsP hoạt động gần 1,3 µm. Thế hệ các hệ thống thông tin sợi quang
thứ hai đã trở nên sẵn sang vào đầu thập kỷ 1980, nhưng tốc độ bít của các hệ thống
ban đầu bị giới hạn dưới 100 Mb/s vì tán sắc trong các sợi đa mode. Giới hạn này
được khắc phục bằng cách sử dụng sợi đơn mode và sợi này sớm đưa vào sử dụng
trong các hệ thống thương mại hóa giai đoạn đó. Vào năm 1987, các hệ thống thông
tin sợi quang thứ hai hoạt động tại tốc độ lên tới 1,7 Gb/s với khoảng cách lặp
khoảng 50 km đã sẵn có cung cấp cho thương mại.
Khoảng cách lặp của các hệ thống sợi quang thế hệ thứ hai bị giới hạn bởi
suy hao sợi quang tại bước sóng hoạt động 1,3 µm (điển hình 0,5 dB/km). Các suy
hao của các sợi quang nhỏ nhất ở gần 1,55 µm. Một mức suy hao cỡ 0,2 dB/km đã
thực hiện được trong vùng phổ này. Tuy nhiên việc đưa vào các hệ thống sợi quang
thế hệ thứ ba hoạt động tại 1,55 µm bị chậm lại đáng kể bởi tán sắc lớn của sợi
quang gần 1,55 µm. Các laser bán dẫn InGaAsP thông thường đã không thể sử dụng
được vì sự trải rộng xung quang xảy ra như là kết quả của sự dao động đồng thời
của một vài mode phát xạ dọc từ laser. Vấn đề tán sắc có thể được khắc phục hoặc
bằng các sợi dịch tán sắc được thiết kế để có tán sắc nhỏ nhất tại vùng 1,55 µm hoặc
bằng giới hạn phổ laser chỉ có một mode dọc phát xạ đơn. Cả hai tiếp cận này đã
được thực hiện trong suốt thập kỉ 1980. Vào năm 1985, các thực nghiệm tại phòng
PTIT
5 Hình 1-4 Sơ đồ hệ thống mạng cáp quang biển tại khu vực châu Á
Hệ thống thông tin sợi quang thế hệ thứ năm được quan tâm bởi sự mở rộng
dải bước sóng mà một hệ thống WDM có thể hoạt động đồng thời. Cửa sổ bước
sóng quen thuộc được gọi là băng tần C bao trùm dải bước sóng 1,53 – 1,57 µm. Nó
sẽ được mở rộng ở cả hai phía bước sóng ngắn và bước sóng dài để hình thành các
băng tần S và L tương ứng. Kỹ thuật khuyếch đại Raman có thể khuyếch đại tín
hiệu ở cả 3 băng tần bước sóng mà các bộ khuyeechs đại EDFA không thực hiện
được. Thêm nữa, một loại sợi quang mới được gọi là sợi khô đã được phát triển để
suy hao của sợi là nhỏ trên toàn bộ vùng bước sóng trải rộng từ 1,3 đến 1,65 µm.
Việc sử dụng các sợi quang như vậy và các chế độ khuyeechs đại mới có thể cho
phép các hệ thống sợi quang hoạt động với hàng ngàn kênh WDM. Tiêu điểm của
hệ thống thế hệ thứ năm hiện tại là tăng hiệu suất phổ của các hệ thống WDM. Ý
tưởng là để sử dụng các định dạng điều chế tiên tiến trong đó thông tin được mã hóa
sử dụng cả biên độ và pha của sóng mang quang. Mặc dù các định dạng như vậy đã
được phát triển và sử dụng thông dụng trong các hệ thống vô tuyến, nhưng việc sử
dụng trong các hệ thống sợi quang chỉ được chú ý đến nhiều sau năm 2001. Nhờ sử
dụng các định dạng điều chế tiên tiến đã cho phép hệ thống tăng hiệu suất phổ bị
giới hạn dưới 0,8 b/s/Hz trong hệ thống thế hệ thứ tư tăng lên > 8 b/s/Hz. Trong một
thí nghiệm năm 2010, một kỷ lục mới đã được thiết lập để truyền dẫn 64 Tb/s trên
khoảng cách 320 km bằng việc sử dụng 640 kênh WDM trên cả hai băng tần C và L
PTIT
6
với khoảng cách kênh 12,5 GHz. Mỗi kênh chứa 2 tín hiệu 107 Gb/s được ghép
phân cực với dạng điều chế sử dụng là điều chế biên độ cầu phương (QAM).
Hệ thống thông tin quang sợi đã trải qua hơn 30 năm phát triển với nhiều kỹ
sóng l nhân với tần số n:
=
ln
(1.2)
trong đó tần số n được đo theo Hz. Tiếp theo, quan hệ giữa năng lượng của một
photon (hạt ánh sáng) và tần số (hoặc bước sóng) của nó được xác định qua định
luật Planck:
=ℎ
n
(1.3)
trong đó tham số h = 6,63x10
-34
J-s = 4,14 eV-s là hằng số Planck. Theo bước sóng
(được đo theo µm), năng lượng theo đơn vị electron volt được xác định:
(
)
=
,
l
()
(1.4)
Các hệ thống thông tin có thể được phân biệt qua các vùng phổ sóng điện từ
sử dụng. Hình 1-5 cho thấy các vùng phổ cụ thể cho các hệ thống thông tin vô tuyến
và quang sợi. Đối với các hệ thống thông tin vô tuyến các băng tần sử dụng trải
rộng từ băng tần cao HF tới VHF và tới UHF với các tần số sóng mang cỡ bậc 10
7
,
10
9
1.2.2Ghép kênh
Ghép kênh là kỹ thuật kết hợp nhiều kênh tín hiệu khác nhau để truyền đồng
thời qua hệ thống truyền dẫn nhằm sử dụng hiệu quả dung lượng truyền dẫn của hệ
thống. Đối với hệ thống thông tin sợi quang có dung lượng truyền dẫn lớn thì chức
năng ghép kênh luôn đi kèm với hệ thống này. Các kỹ thuật ghép kênh thường được
sử dụng bao gồm ghép kênh theo thời gian (TDM) và ghép kênh theo tần số (FDM).
Trong trường hợp TDM các bit dữ liệu của các kênh khác nhau được ghép
xen trong miền thời gian để tạo thành luồng bit tổng, hay nói cách khác mỗi kênh sẽ
được gán vào những khe thời gian xác định để truyền đồng thời qua hệ thống cùng
với các kênh khác. Kỹ thuật TDM được sử dụng cho các tín hiệu số trong các mạng
viễn thông và hình thành các phân cấp số khác nhau trong quá trình phát triển.
Trong thời gian đầu phát triển các hệ thống truyền dẫn số, phân cấp số cận đồng bộ
(PDH) được hình thành xác định các mức và số lượng kênh thoại được ghép. Phân
cấp PDH như cho thấy trong hình 1-6 có sự khác biệt giữa các khu vực và được sử
dụng cho cả hệ thống thông tin quang sợi và vô tuyến. Sự thiếu một tiêu chuẩn
thống nhất về phân cấp số trong công nghiệp viễn thông đã đòi hỏi sự ra đời một
tiêu chuẩn phân cấp số mới gọi là mạng quang đồng bộ (SONET) và sau đó gọi là
phân cấp số đồng bộ SDH. Bảng cho
Hình 1-8 Phân cấp số cận đồng bộ PDH
Bảng 1-1 Bảng tốc độ truyền dẫn theo phân cấp số đồng bộ SONET/SDH
PTIT
10 Trong trường hợp FDM, các kênh được ghép trong miền tần số trong đó mỗi
kênh được mang bởi một sóng mang riêng biệt. Các tần số sóng mang cách nhau
một khoảng tần lớn hơn độ rộng băng tần của kênh để tránh sự chồng phổ. FDM có
Đơn vị dBm biểu thị mức công suất P như là một tỉ lệ logarithm của P so với 1 mW.
Mức tham chiếu 1 mW được chọn đơn giản vì các giá trị điển hình mức công suất
phát nằm trong dải này (chữ m trong dBm bao hàm mức tham chiếu là 1 mW). Như
vậy dBm được coi là thang đo decibel cho mức giá trị công suất tuyệt đối và một
PTIT
11
quy tắc quan trọng là 0 dBm = 1 mW. Do đó, các giá trị công suất dương theo dBm
là lớn hơn 1 mW và các giá trị âm theo dBm là nhỏ hơn 1 mW. Bảng cho một số ví
dụ mức công suất quang theo hai đơn vị đo tương ứng.
Bảng 1-2 Bảng ví dụ chuyển đổi mức công suất giữa đơn vị tuyến tính và dBm 1.3Mô hình tổng quát hệ thống thông tin quang
1.3.1Sơ đồ khối tổng quát hệ thống thông tin quang
Hình 1-9 cho thấy sơ đồ khối tổng quát của một hệ thống thông tin quang.
Hệ thống tổng quát bao gồm một bộ phát, một kênh thông tin và một bộ thu, đây
được xem là ba phần tử cơ bản và chung nhất cho tất cả các hệ thống thông tin. Các
hệ thống thông tin quang có thể được phân thành hai loại: có môi trường dẫn
(guided) và không dẫn (unguided). Trong trường hợp hệ thống quang có môi trường
dẫn, chùm quang từ bộ phát bị giam hãm về không gian khi lan truyền và được thực
hiện qua việc sử dụng sợi quang trong thực tế.
Hình 1-9 Sơ đồ khối tổng quát hệ thống thông tin quang
Trong trường hợp các hệ thống thông tin quang không môi trường dẫn, chùm
quang từ bộ phát trải rộng trong không gian tương tự hệ thống vô tuyến. Tuy nhiên,
các hệ thống này ít phù hợp cho các ứng dụng quảng bá như hệ thống vô tuyến vì
các chùm quang chủ yếu tập trung theo một hướng được chiếu phía trước (kết quả
PTIT
12
Bộ phát quang có vai trò chuyển đổi tín hiệu điện thành dạng tín hiệu quang
và đưa tín hiệu quang vào sợi để truyền dẫn. Hình 1-10 cho thấy sơ đồ khối tổng
quát của một bộ phát quang, trong đó bao gồm một nguồn quang, một bộ điều chế,
và một bộ ghép nối với sợi quang. Các nguồn laser bán dẫn (LD) hoặc diode phát
PTIT
13
quang (LED) được dùng như những nguồn quang vì khả năng tương thích của
chúng với kênh sợi quang. Tín hiệu quang được tạo ra bằng việc điều biến sóng
mang quang. Có hai phương thức điều biến: điều biến trực tiếp và điều biến ngoài.
Ở phương thức điều biến trực tiếp tín hiệu điện được đưa vào để biến đổi dòng bơm
trực tiếp nguồn quang thông qua mạch kích thích mà không cần sử dụng bộ điều
biến ngoài. Phương thức điều biến trực tiếp mặc dù hiệu quả về chi phí nhưng bị
giới hạn về tính năng khi điều biến dữ liệu ở tốc độ cao.
Hình 1-10 Sơ đồ khối bộ phát quang
Phương thức điều chế ngoài thường hay sử dụng cho hệ thống tốc độ cao. Ở
đây nguồn quang thường sử dụng là laser diode phát ra ánh sáng liên tục, còn tín
hiệu điện điều biến sóng mang quang thông qua bộ điều biến ngoài. Nhờ sử dụng bộ
điều biến ngoài, ngoài định dạng điều biến cường độ (IM) thì các định dạng điều
biến tiên tiến khác như PSK, FSK hay QAM cũng có thể được thực hiện dễ dàng
như trong các hệ thống thông tin quang thế hệ năm.
Trong bộ phát quang bộ ghép nối thường là một vi thấu kính để hội tụ tín
hiệu quang đầu ra vào trong sợi quang với hiệu suất ghép cao nhất. Các vấn đề về
bộ phát quang sẽ đề cập chi tiết trong chương 3.
c. Bộ thu quang
Bộ thu quang thực hiện chức năng chuyển đổi tín hiệu quang thu được tại
đầu ra tuyến sợi quang thành tín hiệu điện. Hình 1-11 cho thấy sơ đồ khối một bộ
thu quang trong đó bao gồm một bộ ghép nối, một bộ tách sóng quang và một bộ
giải điều chế. Bộ ghép nối để tập trung tín hiệu quang thu được vào bộ tách sóng
rộng nên một dung lượng lớn thông tin có thể được truyền qua hệ thống
giúp làm giảm số đường truyền vật lý cần thiết.
- Kích thước nhỏ và trọng lượng nhẹ: Trọng lượng nhẹ và kích thước nhỏ
của sợi quang cho phép dễ dàng triển khai lắp đặt trên các hệ thống cáp
khác nhau. Đặc điểm này cũng cho thấy hệ thống quang sợi cũng triển
khai dễ dàng trong các hệ thống quân sự, hàng không, vệ tinh và tầu
thuyền.
- Không bị can nhiễu điện từ: Do sợi quang được làm từ vật liệu điện môi
không dẫn điện, nên sợi quang không bị ảnh hưởng bới các hiệu ứng giao
thoa điện từ cũng như không bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện có thể ghép cặp
với đường truyền.
PTIT
15
- Độ an toàn được tăng cường: Các sợi quang cho mức độ an toàn cao khi
vận hành vì chúng không có các vấn đề về đấu đất, đánh tia lửa điện và
điện thế cao như trong hệ thống cáp đồng.
- Bảo mật thông tin cao: Sợi quang cho phép một mức độ bảo mật thông
tin cao vì tín hiệu quang bị giam hãm tốt bên trong sợi quang khi truyền
mà không bức xạ ra ngoài gây rò rỉ thông tin.
Nhược điểm:
- Các hệ thống thông tin quang sợi có chi phí lặp đặt ban đầu lớn do vậy
mà chúng thường triển khai trên các mạng khoảng cách lớn và dung
lượng cao để đảm bảo hiệu quả về chi phí đầu tư.
- Do sợi quang có kích thước nhỏ và làm từ vật liệu điện môi trong suốt
như thủy tinh nên việc hàn nối trở nên khó khăn hơn và đòi hỏi phải có
kỹ năng để đảm bảo chất lượng mối hàn.
- Sợi quang dễ bị tác động bởi ứng suất căng, uốn cong nên đòi hỏi cần
phải chú ý cẩn thận trong khi triển khai sử dụng.
Tuy có một số nhược điểm nhưng những lợi ích rất lớn mà hệ thống thông
thuật đo cụ thể và YY liên quan đến năm phát hành. Các tiêu chuẩn này cũng được
gọi là Các thủ tục đo kiểm định quang sợi (FOTP), do đó TIA/EIA-455-XX trở
thành FOTP-XX. Các tiêu chuẩn này bao gồm một loạt các phương pháp được
khuyến nghị cho việc đo kiểm định phản ứng của sợi quang, cáp, linh kiện thụ động
và các thành phần quang điện đối với các yếu tố môi trường và các điều kiện hoạt
động. Ví dụ, TIA/EIA-455-60-1997 hoặc FOTP-60 là một phương pháp được ban
hành năm 1997 về đo độ dài của cáp sợi quang.
Các tiêu chuẩn hệ thống liên quan đến các phương pháp đo kiểm tuyến và
mạng truyền dẫn. Các tổ chức chính là Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ (ANSI), Tổ
chức cho các kỹ sư điện và điện tử (IEEE), ITU-T và Telcordia Technologies. Cụ
thể cho hệ thống quang sợi là các tiêu chuẩn đo kiểm và các khuyển nghị từ ITU-T.
Trong loạt khuyến nghị G (trong dải số G.650 và cao hơn) liên quan đến cáp sợi
quang, bộ khuyeechs đại quang, ghép kênh bước sóng, mạng truyền tải quang
(OTN), tính khả dụng và độ tin cậy hệ thống, quản lý và điều khiển các mạng quang
thụ động (PON). Loạt khuyến nghị L của ITU-T giải quyết việc xây dựng, lắp đặt,
hỗ trợ bảo dưỡng, giám sát và đo kiểm cáp và các phần tử khác trong hệ thống sợi
quang được triển khai ngoài thực địa. PTIT