MỤC LỤC
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng dư nợ tín dụng tại SHB - HSC 2009 -
2011 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI3
1.1. Khái quát chung về Ngân hàng thương mại 3
1.1.1. Khái niệm 3
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại 4
1.1.2.1. Trung gian tài chính 4
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán 5
1.1.2.3. Trung gian thanh toán 6
1.2. Hoạt động Thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại 6
1.2.1. Khái niệm và điều kiện về hoạt động Thanh toán quốc tế 6
1.2.1.1. Khái niệm 6
1.2.1.2. Vai trò của Thanh toán quốc tế của NHTM 7
1.2.1.3. Điều kiện hoạt động TTQT 9
1.2.2. Các phương thức TTQT chủ yếu của NHTM 13
1.2.2.1. Phương thức chuyển tiền 13
1.2.2.2. Phương thức thanh toán nhờ thu 14
1.2.2.3. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 16
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TTQT 18
1.3.1. Nhân tố chủ quan 18
1.3.1.1. Nhân tố con người 18
1.3.1.2. Chính sách đối ngoại của ngân hàng 19
1.3.1.3. Chính sách phát triển dịch vụ của ngân hàng 19
1.3.1.4. Một số nhân tố chủ quan khác 19
1.3.2. Nhân tố khách quan 20
1.3.2.1. Chính sách kinh tế đối ngoại nói chung và chính sách ngoại
thương nói riêng của một nước 20
2.3 Đánh giá về hoạt động TTQT tại SHB qua các chỉ tiêu đo lường
53
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG
THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SHB 64
3.1. Định hướnưg phát triển cho hoạt động TTQT của SHB – HSC
64
3.2. Một số giải pháp mở rộng hoạt động TTQT 66
3.2.1 Giải pháp chung 66
3.2.1.1. Tiếp tục bồi dưỡng và nâng c,ao trình độ của cán bộ TTQT
66
3.2.1.2. Thiết lập và mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý ở nước
ngoài 67
3.2.1.3. Xây dựng chính sách khách hàng và hệ thống tiếp thị nhằm
thu hút khách hàng đến với ngân hàngd 67
3.2.1.4. Tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc
tế 70
3.2.2. Giải pháp cụ thể mở rộng hoạt động TTQT tại SHB – HSC 72
3.2.2.1 Đa dạng hóa các loại hình TTfQT 72
3.2.2.2 Phối hợp chặt chẽ các nghiệp vụ liên quan 73
3.3. Một số kiến nghị 73
3.3.1. Kiến nghị với Cjhính phủ và bộ ngành liên quan 73
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 74
k 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình kinh doanh của SHB - HSC 2009 - 2011
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng lợi nhuận SHB - HSC 2009 - 2011
Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn huy động 2009 – 2011
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng nguồn vốn huy động 2009 – 2011
TTQT của NHTM là một mắt xích ông thể thiếu trong toàn bộ dây chuyền thực
hiện một hợp đồng ngoại thương. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của
mình trong hoạt động TTQT, NHTM đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế, cho
khách hàng và cho bản thân các ân hàng. TTQT là mắt xích không thể thiếu trong
dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân. TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch
mua bán hàng hóa, dịch vụ ữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau.
TTQT góp phần giải quyết, mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của
quá trình sản xuất và đẩy nh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế.
Đối với khách hàng thì vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của
các NHTM giúp quá trình,thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành
nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Mặt khác hoạt
động TTQT làm tăng tính, thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ
TTQT, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các
doanh nghiệp có quan hệ, TTQT với các ngân hàng dưới hình thức các khoản ký
quỹ chờ thanh toán. Hoạt động TTQT cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại
của ngân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tín
của mình trên trường quc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của các ngân
1
hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường, tài chính quốc tế để đáp ứng nhu
cầu về vốn của ngân hàng. Do đó, việc kiện toàn, và nâng cao hiệu quả hoạt động
thanh toán quốc tế là yêu cầu thường xuyên bức thiết đối với mỗi ngân hàng
thương mại nói riêng và toàn bộ hệ thống ân hàng thương mại Việt Nam nói
chung. Đồng thời trong quá trình thực tập tại Hội sở chính Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Hà Nội, em nhận thấy thanh toán quốc tế được ngân hàng xem là một trong
những hoạt động chủ yếu trong hoạt động, kinh doanh của mình. Trong những
năm qua, hoạt động TTQT của SHB đã được chú trọng phát triển, đóng góp một
phần không nhỏ trong kết quả kinh doanh chung của ngân hàng, song bên cạnh đó
vẫn còn bộc lộ những mặt yếu kém cần được, khắc phục. Bởi vậy, việc nghiên cứu
để hoàn thiện, mở rộng hoạt động thanh ton quốc tế tại Hội sở chính là vô cùng
cần thiết.
nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ, nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan
hiếm. Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt là
“vốn – tiền”, trả lãi suất huy động vốn th hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh
lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của NHTM phục vụ mọi
nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chng, mọi loại hình doanh nghiệp và các tổ
chức khác trong xã hội.
Theo PGS.TS Phan Thị Lưu Hà, giáo trình “Ngân hàng thương mại”, NXB
Đại học Kinh tế quốc dân, 2007 “Ngân hà,ng thương mại là các tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài nh đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh trong, nền kinh tế”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997 ban hành ngày 12/12/1997 thì
“Ngân hàng thương mại là một, loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
3
hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác, có liên quan. Trong đó tổ chức tín
dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập, theo luật này và các quy định khác
của pháp luật liên quan để hoạt động kinh oanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với
nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán”.
Tóm lại, qua các khái niệm khác nau về ngân hàng thương mại đã được đề
cập ở trên, ta có thể khái quát lại như sau: “ NHTM là doanh nghiệp đặc biệt, kinh
doanh loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng, thanh
toán, tiết kiệm… nhằm, mục đích chính là đáp ứng nhu cầu về vốn của dân cư để
thu lợi nhuận.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Có thể nói, đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM, thể hiện tầm quan
trọng của nó đối với nn kinh tế. Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tài
chính bằng cách huy động nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội nhằm mục đích kích
thích quá trình, luân chuyển vốn để tái sản xuất mở rộng, đồng thời đưa tiết kiệm
cho tiền kim loại dựa trên số lượng, tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế,
dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu
thông và phương tiện cất trữ, nó trở, thành tiền giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền
quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc, Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in)
tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính là ngân hàng Trung ương. Từ đó
chấm dứt việc các ngân hàng thương, mại tạo ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển nhanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài, khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để
có được hàng hoá và các dịch vụ theo, yêu cầu.
Khi ngân hàng cho vay, số dư, trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng, để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay (hay tạo tín dụng), các ngân, hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng, này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên
5
khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân
hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới.
1.1.2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh, toán lớn nhất hiện nay của hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa
và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh, chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán khác nhau như: thanh toán
bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, cc loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện
tử, kết nối các quỹ và cung cấp, tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn
thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông
qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua các ngân hàng càng đạt
được hiệu quả cao khi qui mô sử, dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Bởi
vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý áp
các tài khoản tại các ngân hàng.
TTQT giữ, chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại. Nó
được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thương của một nước và
ngân hàng thương, mại được nhà nước giao cho độc quyền làm công tác thanh
toán này. Do vậy, các giao dịch thanh toán trong ngoại thương đều phải thông qua
ngân hàng. Đây lnghiệp vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ
ngân hàng, tạo sự an toàn và hiệu quả đối với NHTM và các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu.
1.2.1.2. Vai trò của Thanh toán quốc tế của NHTM
TTQT là khâu then chốt cuối cùng khép kín một chu kỳ mua bán hàng hóa
hay trao đổi dịch, vụ. Việc thanh toán tiền hàng được nhanh chóng, chính xác, an
toàn là đảm bảo giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa - tiền tệ giữa
người mua - ngời bán. Về mặt kinh doanh, thanh toán tiền hàng thể hiện chất
lượng kinh doanh, nói lên hiệu, quả kinh tế về tài chính trong hoạt động của doanh
nghiệp.
Đối với NHTM, TTQT thể hiện những vai trò quan trọng như sau:
Một là: TTQT tạo điều kiện, thu hút khách hàng, mở rộng thị trường.
Khách hàng tìm đến ngân hàng với mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu
về dịch vụ tài chính. Trong điều, kiện hiện nay, buôn bán kinh doanh, du lịch, đầu
7
tư,… đã vượt ra khỏi biên giới của, quốc gia, nhu cầu TTQT đối với các cá nhân,
tổ chức ngày càng lớn hơn. Mặt khác, trong cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các ngân
hàng, việc đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu của khách hàng là một trong những
mục tiêu mà các ngân hàng hướng, đến, nhằm thu hút khách hàng và chiếm lĩnh
thị trường.
Hai là: TTQT tạo khả năng tăng doanh thu và lợi nhuận.
Khi khách hàng đến với ngân hàng, ngày càng nhiều thì lợi ích của ngân
hàng ngày càng tăng. Không những doanh, thu của ngân hàng tăng lên tuyệt đối
mà những khoản thu phí cũng tăng do cung, cấp được nhiều hơn các dịch vụ cho
khách hàng, điều đó hỗ trợ cho hoạt động khác của ngân hàng thêm phát triển. Từ
hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng mở rộng trên lĩnh vực kinh doanh đối ngoại,
hòa nhập hệ thống tài chính ngân hàng toàn cu, giúp ngân hàng tạo dựng được uy
tín đối với quốc tế.
Vậy hoạt động TTQT của các NHTtrong thương mại quốc tế nói riêng và
kinh tế đối ngoại nói chung có một vị trí hết sức quan trọng. Nó là mắt xích không
thể thiếu trong toàn bộ dây chuyền bắt đầ,u từ khi chuẩn bị những bước đầu tiên
để sản xuất hàng hóa và bước cuối khi thu đồng tiền về tay người xuất khẩu.
1.2.1.3. Điều kiện hoạt động TTQT
Thanh toán quốc tế liên quan đến thnh toán tiền hàng trong ngoại thương nên
các bên phải thỏa thuận những điều kiện về thanh toán, gồm: điều kiện về tiền tệ,
điều kiện về địa điểm thanh toán, điều, kiện về thời gian thanh toán và điều kiện
về phương thức thanh toán.
a, Điều kiện về tiền tệ
Trong điều kiện về tiền tệ, các bên thỏa thuận những vấn đề như: đồng tiền
tính giá, đồng tiền thanh toán và bảo đảm rủi ro tỷ giá.
Trước hết, ta chú ý đến vấn đề, phân loại tiền tệ trong TTQT. Để phân loại
tiền tệ, có một số tiêu chí như:
- Căn cứ phạm vi sử dụng: tiền tệ bao gồm:
+ Tiền tệ quốc gia (National currency): đồng tiền của một nước do Ngân
hàng Trung ương phát hành theo luật pháp nước đó.
+ Tiền tệ quốc tế (International currency): được hình thành trên cơ sở các
hiệp định của các tổ chức tài chính, các khối kinh tế như: SDR, EUR, XOF …
9
+ Tiền tệ thế giới (World currency): đồng tiền đuợc tất cả các nước trên thế
giới công nhận và sử dụng làm phương tiện TTQT. Hiện nay, ,mới chỉ có vàng
được xem là tiền tệ thế giới.
- Căn cứ tính chất chuyển đổi: chúng ta có
+ Đồng tiền tự do chuyển đổi (Freely convertible currency),: đồng tiền được
tự do chuyển đổi không hạn chế sang các đồng tiền khác và ngược lại trong các
giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú.
+ Tiền tệ thanh toán, (Payment currency): là đơn vị tiền tệ được sử dụng để
thanh toán công nợ, thanh toán giá trị hợp đồng ngoại thương.
Tóm lại, việc phân loại, tiền tệ như thế chỉ mang tính tương đối vì trong thực
tiễn hiện nay, việc lựa chọn đồng tiền nào để tính toán và thanh toán phụ thuộc
vào nhiều yếu tố. Ngày na, việc các bên thanh toán bằng đồng tiền nào không thật
sự quan trọng vì thị trường ngoại hối đang ngày càng phát triển, liên kết toàn cầu,
cho phép chúng ta chuyển, đổi đồng tiền này sang đồng tiền khác một cách nhanh
chóng và thuận lợi.
Trong điều kiện về tiền tệ, ta còn phải, nghiên cứu đến điều kiện bảo đảm
hối đoái, bao gồm các biện pháp:
- Bảo đảm hối đoái bằng vàng.
- Bảo đảm hối đoái theo một đơn vị tiền tệ.
- Bảo đảm hối đoái theo, một “rổ tiền tệ”
Bảo đảm hối đoái giúp các nhà xuất khẩu và nhập khẩu không gặp trở ngại
trong việc chuyển đổi tiền tệ theo, tỷ giá chéo khi thanh toán. Đồng thời đó còn là
biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với nhà xuất khẩu khi có khoản thu bằng
ngoại tệ, đối với nhà nhập khẩu khi, có khoản thanh toán bằng ngoại tệ.
b, Điều kiện về địa điểm thanh toán
Địa điểm thanh toán là nơi người bán nhận được tiền còn người mua trả tiền.
Cả hai bên đều muốn thanh toán tại, nước mình để nhanh chóng và an toàn nhưng
việc thanh toán có thể tiến hành ở một nước thứ ba, là nước phát hành đồng tiền
thanh toán, Thực tế, quy định địa đ\iểm thanh toán phụ thuộc vào :
•Tương quan lực lượng giữa hai bên trong quan hệ hợp đồng.
•Phương thức thanh toán.
• Đồng tiền thanh toán là của n,ước nào.
c, Điều kiện về thời gian thanh toán
11
Điều kiện về thời hạn thanh toán quy định khi nào thì người nhập khẩu phải
trả tiền cho người xuất khẩu, nên ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ lu,ân chuyển vốn,
khả năng hạn chế rủi ro về lãi suất, tỷ giá, thanh khoản … đối với các bên tham
ngoài thông qua ngân hàng đại lý, còn người thụ hưỏng ủy thác cho ngân hàng
phục vụ mình thu hộ tiền ở ngư,ời mắc nợ ở nước ngoài thông qua một ngân hàng
đại lý. Để việc thanh toán diễn ra an toàn và chính xác thì bên ủy thác và ngân
hàng nhận ủy thác phải thỏa thu,ận một phương thức thanh toán quốc tế thích hợp.
Phương thức thanh toán quốc tế đó là toàn bộ nội dung, điều kiện và cách thức để
ngân hàng tiến hành chuyển tiề,n và trả tiền giữa người cư trú và người không cư
trú. Việc lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp phải được hai bên xuất
khẩu và nhập khẩu bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng ngoại thương.
1.2.2. Các phương thức TTQT chủ yếu của NHTM
Phương thức TTQT là toà,n bộ quá trình, điều kiện, quy định mà người mua
thực hiện để trả tiền, nhận hàng còn người bán nhận tiền và giao hàng trong
TMQT.
Có nhiều phương thức T,TQT khác nhau và lựa chọn phương thức phù hợp
để áp dụng phụ thuộc vào yêu cầu của người nhập khẩu. Đó là yêu cầu về chất
lượng, số lượng hàng hóa và, thời gian được nhận hàng. Bên cạnh đó còn phụ
thuộc vào mức độ tin tưởng giữa người mua và người bán.
Hiện nay, người ta áp dụng chủ yếu ba phương thức TTQT sau đây:
1.2.2.1. Phương thức chuyển tiền
Phương thức chuyển tiền, là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả
tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người
khác (người hưởng lợi) ở m,ột địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền
do khách hàng yêu cầu.
Trong phương thức này, người chuyển tiền và người nhận tiền thanh toán
trực tiếp với nhau, ngân hàng chỉ đóng vai trung gian thanh toán theo ủy nhiệm và
hưởng phí dịch vụ, vì thế ít chịu rủi ro; trừ khi ngân hàng cấp tín dụng cho người
có hợp đồng thanh toán. Thanh toán bằng phương thức này chủ yếu áp dụng trong
trường hợp hai bên mua bán có ,uy tín và tin tưởng lẫn nhau.
Có hai phương tiện chuyển tiền là:
13
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – MT): hình thức chuyển tiền mà lệnh
14
được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hoặc chấp nhận các điều kiện và các điều
khoản khác.
Các bên tham gia:
- Người xuất khẩu (Drawer): người ký phát hối phiếu.
- Người nhập khẩu (Drawee): người thanh toán hối phiếu.
- Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting Bank): ngân hàng phục vụ người
xuất khẩu và nhận sự ủy thác của người bán, làm thủ tục, chuyển chứng từ tới
ngân hàng phục vụ người nhập khẩu.
- Ngân hàng thu hộ (Collecting Bank): ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh
của ngân hàng chuyển chứng từ, ở nước ngư,ời nhập khẩu làm nhiệm vụ thu hộ
tiền.
Các ngân hàng chỉ có trách nhiệm thực hiện ủy thác nhờ thu của khách hàng
chứ không có bất kỳ nghĩa vụ hay cam kết, nào trong việc thanh toán cho nhà
nhập khẩu.
Trong phương thức nhờ thu, căn cứ vào tính chất chứng từ, người bán có
thể yêu cầu làm cơ sở nhờ thu hộ, người, ta phân thành hai loại là nhờ thu phiếu
trơn và nhờ thu kèm chứng từ
• Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection)
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức nhờ thu mà người xuất khẩu gửi hàng và
bộ chứng từ thương mại trực tiếp cho người nhập khẩu, sau đó sẽ ủy thác cho
ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở, người mua, căn cứ vào hối phiếu do
mình lập ra.
Trong phương thức này, rủi ro chủ yếu thuộc về người xuất khẩu vì việc
thanh toán phần lớn dựa trên chứng từ tài, chính. Người xuất khẩu có thể gặp rủi
ro như người nhập khẩu không chịu thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ,
chậm trễ… Người nhập khẩu cũng có thể gặp rủi ro nếu hối phiếu đến sớm hơn
chứng từ, người nhập khẩu sẽ phải thanh toán tiền, trong khi không biết được việc
nhập khẩu của người xuất khẩu có đúng hợp đồng hay không.
Phương thức nhờ thu phiếu trơn có chi phí thấp nhưng rủi ro lớn nên ít được
hành yêu cầu thông báo L/C.
- Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): ngân hàng mà ở đó L/C có
giá trị thanh toán hoặc chiết khấu hoặc chấp nhận thanh toán.
16
Tùy từng trường hợp còn có thể có, thêm ngân hàng xác nhận, ngân hàng
hoàn trả…
- Ngân hàng xác nhận (Confirming, Bank): ngân hàng cam kết thanh toán
cho nhà xuất khẩu thay cho ngân hàng phá,t hành L/C, áp dụng khi người thụ
hưởng không tin tưởng khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành L/C.
- Ngân hàng hoàn trả (Reimbursi,ng Bank): ngân hàng được ngân hàng phát
hành ủy nhiệm thực hiện thanh toán L/C cho ngân hàng được chỉ đinh thanh toán
hoặc chiết khấu, áp dụng khi ngân hà,ng phát hành và ngân hàng được chỉ định
thanh toán không có quan hệ tài khoản.
Các loại thư tín dụng thương mại,
• Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (irrevocable L/C) là lo,ại thư tín
dụng sau khi đã được mở ra và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng mở
L/C không sửa đổi hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiệu lực của nó, trừ khi có t,hoả
thuận khác của các bên tham gia L/C.
• Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (confirmed irrevocable
L/C) là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ được một ngân hàng ,khác xác nhận
đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C.
• Thư tín dụng không thể huỷ bỏ miễn truy đòi (irrevocable without
recourse L/C) là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân
hàng mở L/C không còn quyền đòi lại người xuất khẩu trong bất c,ứ trường
hợp nào.
• Thư tín dụng chuyển nhượng (transferable L/C) là thư tín dụng
không thể huỷ bỏ, trong đó qui định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể
yêu cầu ngân hàng mở L/C chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyề,n thực
hiện L/C cho một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển
nhượng một lần. Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên,
1.3.1.1. Nhân tố con người
Nhân tố chủ quan đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động, TTQT là nhân tố con
người. Con người chính là yếu tố quyết định sự tồn tại ,và phát triển của một
NHTM. Môi trường hoạt động TTQT nói riêng và các hoạt động khác của ngân
hàng nói chung đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo và quản lý có trình, độ năng lực thực sự,
sáng tạo trong kinh doanh, phẩm chất đạo đức tốt; đội ngũ nhân viên giỏi về
18
nghiệp vụ, hiểu biết kinh tế, pháp luật, có tinh thần trách nh,iệm cao đối với công
việc.
1.3.1.2. Chính sách đối ngoại của ngân hàng
Nhân tố chủ quan thứ hai tác động, đến hoạt động TTQT là chính sách đối
ngoại của ngân hàng. Chính sách đối ngoại của ngân hàng là tất cả những chiến
lược phát triển đại lý với các ngân hàng nước ngoài, nhằm mục đích mở rộng
mạng lưới ngân hàng đại lý và tạo dựng m,ối quan hệ bền vững.
Trong tình hình kinh tế - xã hội toàn cầu hóa hiện nay, giao lưu kinh tế - văn
hóa giữa các quốc gia càng sôi động, do đó nhu cầu TTQT ngày càng tăng và đòi
hỏi được đáp ứng trên diện rộng. Vì vậy, ,ngân hàng cần có chính sách đối ngoại
phù hợp, phát triển đại lý để có thể thực hiện TTQT trên khắp thế giới, nhưng vẫn
đảm bảo độ nhanh chóng, chính xác, an toà,n và không ngừng nâng cao chất
lượng phục vụ khách hàng. Từ đây, ngân hàng càng củng cố được vị thế cạnh
tranh của mình trên thị trường tài chính quốc t,ế.
1.3.1.3. Chính sách phát triển dịch vụ của ngân hàng
Chính sách phát triển dịch vụ của ngân hàng cũng là một trong những nhân
tố chủ quan tác động tới hoạt động TTQT của ,NHTM. Chính sách phát triển dịch
vụ phải nằm trong tổng thể chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Nếu ngân hàng
không quan tâm đến phát triển dịch vụ thì sẽ đi vào lạc hậu. Ngược lại, một ngân
hàng có chính sách phát triển phù hợp, là động ,lực thúc đẩy sự phát triển của các
nghiệp vụ khác như bảo lãnh mở L/C, tài trợ XNK,… Và chính các nghiệp vụ này
phát triển cũng ảnh hưởng tích cực trở lại đối v,ới hoạt động TTQT, góp phần mở
rộng hoạt động này của ngân hàng.