LỜI NÓI ĐẦU
Đường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là "Đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước
ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng
thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa "
(trích Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và
trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng) đòi hỏi phải có nguồn
lực lớn mà cụ thể là huy động được nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế
đất nước. Phát triển thị trường chứng khoán, tìm ra các giải pháp phát triển thị
trường chứng khoán đã đáp ứng được nhu cầu cấp bách về nguồn vốn hiện
nay.
Đề tài: Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt
Nam
1
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
I. CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế
giới.
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.
Đến nay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường
chứng khoán. Thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính
không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị
trường.
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 ở tại những thành phố trung tâm buôn bán của
phương tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng
việc mua bán, trao đổi các loại hàng hoá như: nông sản, khoáng sản, ngoại tệ
và giá khoán động sản … Điểm đặc biệt là trotng những cuộc thương lượng
này các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá,
ngoại tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc
thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các "Hợp đồng" mua bán, trao
2. Các khái niệm
a. Chứng khoán:
Chứng khoán là các loại công cụ tài chính dài hạn, bao gồm các loại cổ
phiếu và trái phiếu.
Cổ phiếu là loại chứng chỉ xác nhận việc góp vốn của một người vào công ty
cổ phần. Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của người này đối với công ty cổ
phần, người sở hữu được gọi là cổ đông, cổ đông có các quyền hạn và trách
3
nhiệm đối với công ty cổ phần, được chia lời (cổ tức) theo kết quả kinh doanh
của công ty cổ phần: được quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý, ban kiểm
soát. Cổ phiếu có thể được phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc công
ty cần thêm vốn để mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.
Một đặc điểm của cổ phiếu là cổ đông được chia cổ tức theo kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ đông có thể được hưởng lợi nhuận
nhiều hơn giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn
thua lỗ. Cổ đông không được quyền đòi lại số vốn mà người đó đã góp vào
công ty cổ phần, họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra trên
thị trường chứng khoán.
Trái phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền làm chủ một món nợ của chủ sở hữu
trái phiếu đối với đơn vị phát hành. Trái phiếu là loại chứng khoán mà lãi suất
vay nợ đã được xác định rõ ngay khi phát hành do đó nó có lợi tức cố định và
chỉ được hoàn trả khi đến hạn thanh toán ghi trên trái phiếu mà người phát
hành phải thực hiện. Trái phiếu do các doanh nghiệp có thể là quốc doanh, tư
doanh hay cổ phần phát hành. ở Việt Nam hình thức vay vốn bằng cách phát
hành trái phiếu đã xuất hiện ở một vài nơi. Ví dụ như việc phát hành trái
phiếu huy động vốn cho đầu tư mở rộng sản xuất của nhà máy xi măng
Hoàng Thạch vào cuối năm 994, một số doanh nghiệp khác cũng có hình thức
huy động vốn này để vay của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Kỳ phiếu là chứng chỉ của nhà nước phát hành với mục đích vay vốn của
các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư để bù đắp vào thâm hụt của
biểu hay được biệt lệ.
Chứng khoán đăng biểu là loại chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền
cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công
ty kinh kỷ, tức là đã hội đủ các tiêu chuẩn đã định.
5
Chứng khoán biệt lệ là loại chứng khoán được miễn giấy phép của cơ quan
có thẩm quyền, do chính phủ trong các cơ quan công quyền, thành phố, tỉnh
quận, huyện, thị phát hành và bảo đảm.
Thị trường chứng khoán chính thức có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt
và giá cả được tính theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của hội
động chứng khoán. Thị trường chứng khoán chính thức chủ yếu được thể hiện
bằng các sở giao dịch chứng khoán.
Thị trường chứng khoán phi chính thức: (TTCK phi tập trung) là thị trường
mua bán chứng khoán bên ngoài sở giao dịch chứng khoán, không có địa
điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán
như ở sở giao dịch chứng khoán. ở đây không có sự kiểm soát từ bên ngoài,
không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thoả thuận của người mua
và người bán.
d. Chỉ số chứng khoán:
Khi nói đến thị trường chứng khoán không thể không nói đến chỉ số chứng
khoán. Người ta thường coi chỉ số chứng khoán là chiếc "phong vũ biểu" của
thị trường chứng khoán mà ở dạng này hay dạng khác người ta dùng chỉ số
chứng khoán để thể hiện sự phát triển của thị trường và các thành phần của
nó. Các chỉ số này thường được thông báo trên các phương tiện thông tin đại
chúng và các tờ nhật báo lớn ở các nước chỉ số chứng khoán phản ánh tình
hình hoạt động của các công ty trên thị trường. Nếu các công ty làm ăn có lãi,
giá chứng khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm tăng theo chỉ số chứng
khoán. Ngược lại, chỉ số chứng khoán sẽ giảm. Dựa vào chỉ số chứng khoán,
các nhà đầu tư có thể xác định được hiệu quả của một cổ phiếu hoặc một
danh mục các chứng khoán để đầu tư vào.
7
Là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt
động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo
sự tăng thêm qui mô đầu tư vốn. Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trường
này là nguồn tiết kiệm của dân chúng như của một số tổ chức phi tài chính.
Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành.
2. Thị trường thứ cấp.
Còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nói đến nơi diễn ra
hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán đến tay thứ hai, tức là việc mua
bán tiếp thu sau lần bán đầu tiên. Nói cách khác, thị trường thứ cấp là thị
trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành qua thị trường
sơ cấp.
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp không
phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục
đích của từng loại thị trường. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở
thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công
cuộc phát triển kinh tế. Còn ở thị trường thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn
nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng khoán được
mua đi bán lại, nhưng không làm tăng thêm qui mô đầu tư vốn, không thu hút
thêm được các nguồn tài chính mới. Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền
sở hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh
khoản của chứng khoán.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng
khoán. Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau được ví dụ như
hai bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề,
thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có
chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại, nếu không có
thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó
8
khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động
quản trị do các công ty chứng khoán thành viên bầu ra và ban điều hành sở
giao dịch chứng khoán do Hội đồng quản trị đề cử.
Thứ ba: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng một công ty cổ
phần nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của nhà nước. Đây là hình
thức phổ biến ở hầu hết các nước Châu á. Cơ cấu tổ chức và quản lý điều
hành cũng tương tự như hình thức trên nhưng trong thành phần Hội đồng
quản trị có một số thành viên do uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám
sát điều hành. Sở giao dịch chứng khoán quốc gia bổ nhiệm.
b. Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán
Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường
chứng khoán do chính phủ thành lập. Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm
vụ xác định loại doanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán và loại
chứng khoán nào được mua bán. Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt
động của các công ty môi giới và thực hiện các công việc quản lý nhà nước
khác.
Hội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và
điều hành sở giao dịch chứng khoán. Tất cả các quyết định đều được Hội
đồng quản trị đưa ra. Hội đồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành
viên của sở giao dịch chứng khoán, các thành viên liên doanh thậm chí có một
số không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng
khoán quốc gia đưa vào. Hội đồng quản trị có quyền quyết định nhưng thành
viên nào được phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ
tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch. Hội đồng này có quyền
đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó. Hội đồng quản
trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch.
10
Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc
kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không
cho phép mua bán trên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản
trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời
đoán một cách nhanh chóng và chính xác giá trị thực sự của từng loại chứng
khoán và cũng không dự đoán được chính xác xu hướng biến động của nó. Vì
vậy nếu người môi giới có thái độ không khách quan trong hoạt động trung
gian sẽ gây thiệt haị cho các nhà đầu tư.
Xét về tính chất kinh doanh, môi giới chứng khoán có 2 loại: Môi giới
chứng khoán và thương gia chứng khoán.
Môi giới chứng khoán chỉ thương lượng mua bán chứng khoán theo lệnh
của khách hàng và ăn hoa hồng.
Thương gia chứng khoán còn gọi là người kinh doanh chứng khoán.
Nói chung các công ty môi giới chứng khoán tại các thị trường chứng
khoán đều đồng thời thực hiện 2 nghiệp vụ là người môi giới vừa là người
kinh doanh nhưng tại thị trường chứng khoán New York, London từ lâu người
ta đã phân biệt 2 loại môi giới này và có luật lệ không chỉ hoạt động của
thương gia chứng khoán.
b. Nguyên tắc định giá của mua bán chứng khoán.
Giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán do các nhà môi giới đưa ra.
Mỗi nhà môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại từng thời điểm tuỳ theo
sự xét đoán, kinh nghiệm và kỹ thuật dựa trên lượng cung cầu loại chứng
khoán đó trên thị trường.
12
c. Nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán.
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá.
Thông tin về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, tình
hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty phát hành, số lượng
chứng khoán và giá cả của từng loại chứng khoán đều được thông báo công
khai trên thị trường. Khi kết thúc một cuộc giao dịch, số lượng mua bán và
giá cả thống nhất lập tức được thông báo ngay. Nguyên tắc công khai của thị
trường chứng khoán nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua bán chứng
khoán không bị "hớ" trong mua bán chứng khoán.
Tất cả các nguyên tắc trên đều được thể hiện bằng văn bản pháp quy từ luật
- Ưu tiên về thời gian: Trong cùng một mức giá lệnh nào được đưa ra trước
sẽ được ưu tiên.
- Ưu tiên về số lượng: Khi có nhiều lệnh cùng thoả mãn hai điều kiện trên,
lệnh nào có số lượng chứng khoán nhiều hơn sẽ được ưu tiên.
Trên thị trường chứng khoán phi tập trung, hoạt động mua bán chứng khoán
cũng diễn ra khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lượng
chứng khoán nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh cho công ty chứng khoán đang
quản lý tài sản của anh ta yêu cầu giao dịch hộ. Thông qua hệ thống viễn
thông công ty môi giới sẽ liên lạc với tất cả các nhà tạo thị trường của loại
chứng khoán này để biết được giá chào bán thấp nhất của loại chứng khoán
này sau đó công ty này thông báo lại cho khách hàng biết và nếu khách hàng
chấp nhận, công ty sẽ thực hiện lệnh và giao dịch của khách hàng được thực
hiện.
III. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
14
Thị trường chứng khoán đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền
kinh tế các nước trên thế giới. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển đến một
mức độ nhất định sẽ cần tới thị trường chứng khoán để hỗ trợ cho quá trình
phát triển.
Trong thập kỷ vừa qua các thị trường chứng khoán trên thế giới đã phát triển
hết sức mạnh mẽ. Tổng giá trị cổ phiếu được yết giá trên các thị trường này
tăng từ 4.700 tỷ USD năm 1985 lên 15200 tỷ USD năm 1995. Trong đó giá trị
cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển
tăng nhanh từ 3% năm 1983 lên 17% tổng lượng giao dịch toàn thế giới năm
1995.
Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán có tác động tích cực tới
sự phát triển của các quốc gia. Thực tế cho thấy thị trường chứng khoán đã
thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều nước một cách có hiệu quả thông qua việc
góp phần tạo ra vốn khả dụng. Thực vậy, đa số các dự án đầu tư cần phải sử
dụng vốn dài hạn thì mới đạt hiệu quả cao trong khi các nhà tiết kiệm lại
mới tiếp sức cho người đầu tư cũng thông qua việc mua bán lại chứng khoán.
Đó là quá trình biến các khoản tiết kiệm ngắn hạn thành nguồn nuôi dưỡng và
duy trì các khoản đâù tư dài hạn trên cơ sở tham gia tích cực và tự nguyện của
các nhà đầu tư.
Như vậy thị trường chứng khoán hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng trong việc
cấp các khoản tín dụng trung và dài hạn góp phần làm giảm áp lực lạm phát,
sự phân tích ở trên đã chỉ ra rằng thị trường chứng khoán có vai trò tích cực
và không thể thiếu trong nền kinh tế.
16
PHẦN II: SỰ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TẠI VIỆT NAM.
I. TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TẠI VIỆT NAM.
1. Do yêu cầu của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy ở tất cả các nước có thị trường chứng khoán, khi nền kinh
tế thị trường ra đời thì chưa có thị trường chứng khoán. Thị trường chứng
khoán chỉ ra đời khi nền kinh tế thị trường đã phát triển ở mức độ nhất định
và đòi hỏi phải hình thành một tổ chức nào đó có khả năng tiếp thêm sức
mạnh cho thị trường - đó là thị trường chứng khoán với việc cung cấp vốn cho
nền kinh tế. Có thể nói nền kinh tế hàng hoá phát triển làm nảy sinh thị trường
chứng khoán và thị trường chứng khoán đến lượt nó lại tiếp thêm nguồn lực
để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển.
"Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, chủ yếu mới có hình thức giao lưu vốn
giáp tiếp nên chưa huy động và thu hút có hiệu quả tối ưu nguồn vốn còn khá
tiềm tàng của đất nước. Do đó, cùng với sự phát triển, hoàn thiện thị trường
liên ngân hàng, nâng cao trình độ giao lưu vốn gián tiếp, cần phải thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ hình thức giao lưu vốn trực tiếp"
*
.
Giao lưu vốn trực tiếp là hình thức giao lưu vốn chủ yếu thông qua phương
ứng các nhu cầu của nền kinh tế.
III. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Thực trạng.
Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện đã có 80 doanh nghiệp cổ phần trong đó có
24 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh công thương nghiệp dịch vụ, 22 ngân
hàng thương mại và 2 công ty tài chính với số vốn cổ phần lên tới 250 tỷ
18
đồng. Các doanh nghiệp này ngoài việc phát hành cổ phiếu, một số đơn vị
(chủ yếu là các ngân hàng và các công ty tài chính) đã phát hành các loại kỳ
phiếu trung hạn. Ngoài ra các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát
triển quốc doanh, kho bạc nhà nước cũng đã phát hành các loại kỳ phiếu có
mục đích… tất cả các loại kỳ phiếu, cổ phiếu nói trên đều có thể tham gia thị
trường chứng khoán, do vậy có thể nói rằng Việt Nam hiện nay đã có thị
trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành và đi vào hoạt động. Đến
ngày 31/8/2000 đã có hai phiên giao dịch. Hiện nay mới chỉ có 2 công ty cổ
phần niêm yết cổ phiếu là công ty điện lạnh (REE) và công ty vật liệu bưu
chính viễn thông (SACOM) cho nên hàng hoá cần cho thị trường rất ít.
Nói chung lại, thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ tồn tại ở mức độ
rất sơ khai, chưa thực sự là thị trường chứng khoán với đúng ý nghĩa của khái
niệm thị trường chứng khoán đã được mọi người nhìn nhận.
2. Những thuận lợi cho sự hình thành một thị trường chứng khoán thực
sự tại Việt Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã có những tiến triển cơ bản tạo điều kiện
thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán. Chúng
ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Lạm phát đã giảm từ 67% năm
1992 xuống còn 14,4% năm 1994 và 12,7% năm 1995. Tỷ lệ tăng trưởng kinh
tế bình quân trong 5 năm trở lại đây luôn được duy trì ở mức 9%, nền kinh tế
đã bắt đầu ổn định. Thu nhập của dân cư đã tăng và trong nội bộ nền kinh tế
đã có tích luỹ.
tin, tư vấn và làm môi giới mua bán CP.
Ai cũng có thể tham gia phiên giao dịch với số tiền tối thiểu 10.000đ. Hiện
nay mệnh giá CP phát hành thấp nhất là 100.000đ nhưng phiên giao dịch đầu
20
tiên có thể do công ty phát hành CP với mệnh giá 100000đ nhằm tạo điều
kiện cho người ít tiền cũng có thể mua được.
Để tham gia thị trường chứng khoán người mua cần đăng ký mở tài khoản
tiền mặt tại ngân hàng được chỉ định thanh toán chứng khoán và một tài
khoản chứng khoán cũng tại ngân hàng này. Người bán cũng vậy, thị trường
giao dịch chứng khoán sẽ mở cửa từ 8h sáng đến 15h chiều các ngày thứ
2,4,6 hàng tuần. Khi phiên giao dịch được mở (thí dụ vào 8h sáng ngày 20/7)
người mua cầm sổ tài khoản đến các công ty chứng khoán hoặc văn phòng đại
diện công ty bán chứng khoán. Khách hàng có thể ra lệnh mua bán trước
phiên giao dịch và được thông tin liên tục qua Internet, điện thoại, Fax… về
kết quả mua bán trong phiên giao dịch về giá CP của mình bán ra, giá các loại
CP ở từng thời điểm.
4. Hàng hoá ở thị trường chứng khoán.
Câu hỏi đưa ra hàng hoá ở thị trường chứng khoán Việt Nam là gì?
Đó là CP và trái phiếu, đó là hai loại chứng khoán cơ bản, cổ phiếu là chứng
khoán vốn (người đầu tư là chủ sở hữu), trái phiếu là chứng khoán nợ (người
đầu tư là chủ nợ), giá trái phiếu thường ít biến động hơn so với giá cổ phiếu
do tiền lãi thu được từ trái phiếu là cố định, còn cổ phiếu có thể tăng giảm tùy
thuộc lợi nhuận của doanh nghiệp. Biên độ giá chứng khoán không vượt quá
+5% (Với CP) là 1,8% với trái phiếu người đầu tư vào chứng khoán không
phải trả một khoản thuế nào.
Nhà đầu tư (người mua) bằng lòng với lợi nhuận thấp nhưng ổn định thường
chọn trái phiếu làm đối tượng đầu tư. Ngược lại ai dám mạo hiểm, chấp nhận
rủi ro để lấy một tiềm năng lợi nhuận lớn sẽ chọn cổ phiếu.
Theo uỷ ban chứng khoán nhà nước hiện cả nước có 370 công ty cổ phần
trong đó có trên 100 công ty có khả năng niêm yết trên thị trường chứng
mua bán trên thị trường chứng khoán.
Thứ hai: Hệ thống ngân hàng tuy đã đổi mới nhưng chưa mạnh cần tiếp tục
phát triển để đáp ứng các yêu cầu về thanh toán, chuyển giao, lưu trữ và thực
hiện các dịch vụ khác.
Thứ ba: Chưa có khung pháp lý đồng bộ và đầy đủ cho sự hoạt động của thị
trường chứng khoán. Hiện nay mặc dù đã có luật công ty, luật dân sự…
Chúng ta vẫn thiếu các văn bản pháp luật về chứng khoán và kinh doanh
chứng khoán. Các văn bản có liên quan về phát hành chứng khoán, kiểm toán,
kế toán tuy đã có nhưng chưa đồng bộ để có khả năng bao quát toàn bộ hoạt
động của thị trường chứng khoán. Thêm vào đó là việc chấp hành không
nghiêm chỉnh luật pháp đã kéo theo những hậu quả tiêu cực làm giảm lòng tin
trong dân chúng về hiệu lực của pháp luật.
Đây là khó khăn có ý nghĩa đặt biệt quan trọng khi mà khó khăn này chưa
được khắc phục thì việc tổ chức một thị trường chứng khoán hoạt động lành
mạnh là không thể có được.
Thứ tư: Việt Nam chưa tổ chức được một hệ thống định chế tài chính hoạt
động kinh doanh và đầu tư chứng khoán. Một khi chưa có các tổ chức này thì
không thể hình thành được một thị trường chứng khoán hoạt động theo đúng
nguyên tắc của thị trường.
Thứ năm: Thiếu cán bộ, kể cả cán bộ quản lý giám sát hoạt động của thị
trường chứng khoán và cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán. Lâu
nay đã có tới hàng nghìn cán bộ từ nhiều cơ quan đã đi khảo sát về thị trường
chứng khoán, nhưng chưa có đội ngũ được đào tạo cơ bản về quản lý và kinh
doanh trên thị trường chứng khoán.
Như vậy, để thành lập được một thị trường chứng khoán hoạt động tốt cần
phải tiến hành một khối lượng các công việc chuẩn bị rất lớn, đồng bộ trên
nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Chúng ta cũng cần tuyên truyền,
giáo dục các kiến thức cơ sở về thị trường chứng khoán cho nhân dân, củng
23
cố lòng tin của họ bằng các luật, qui định chặt chẽ và khẩn trương đào tạo đội