LỢI DỤNG CHỨC NĂNG ĐỂ THU VÉN CHO MÌNH
Khi các công ty thành viên và cơ quan trong TCCK dám nhận các công đoạn
trong hệ thống vận hành như đại diện chi trả, chuyển nhận, bảo lãnh phát
hành chứng khoán, là đã cam kết trong một quan hệ uỷ thác đối với các
công ty phát hành. Do vai trò như vậy, các đơn vị này đương nhiên có được
các thông tin riêng, chi tiết về những ai đang làm chủ loại chứng khoán mà
họ đang phục vụ. Đây không phải là lợi thế kinh doanh. Các thành viên liên
quan bị cấm không được sử dụng các thông tin dạng này cho mục đích vụ
lợi. Họ chỉ được sử dụng theo yêu cầu cụ thể hoặc sự cho phép của công ty
phát hành. Chẳng hạn, một đơn vị thành viên giữ nhiệm vụ chuyển nhuận
transfer agent trong các giao dịch về cổ phần thường của một công ty không
được liên hệ với các sở hữu chủ cổ phần đó để mồi chài hoặc thu vén riêng.
CÁC HOẠT ĐỘNG MUA BÁN PHI ĐẠO ĐỨC
GIAO DỊCH GIẢ TẠO
Tương tự như việc đưa ra chào mua, chào bán ảo, việc dựng lên các giao
dịch nguỵ tạo có thể được một sổ người sử dụng nhằm tạo các đột biến thị
trường cho một loại chứng khoán nào đó ngõ hầu phục vụ cho dụng ý cá
nhân. Các động tác giả artificial transactions này dù được vận dụng dưới bất
cứ hình thức nào đều bị nghiêm cấm.
GÀI THẾ
Cũng nhằm nguỵ tạo cảm giác thị trường của một chứng khoán nào đó sôi
động, cùng lúc có hai người đưa ra hai lệnh mua và bán giống hệt nhau
thông qua cùng một công ty môi giới và được thực hiện. Kết quả mua bán
được báo cáo trên các hệ thống thông tin nhưng kỳ thực đây chỉ là một một
mánh khoé tạo xung động giá chứ không có mua bán theo cung cầu trung
thực.
Các cá nhân cũng có thể tự thực hiện thủ thuật này hoặc do các nhóm cùng
cánh làm ăn bất chính tạo ra. Các công ty chứng khoán buộc phải lưu ý và
phát hiện các lệnh đối ứng kiểu này và không được thực hiện nghiệp vụ khi
biết rằng đó là một hoạt động gài thế matching. Ví dụ mua và bán cùng loại
chứng khoán, cùng số lượng, gần như cùng giá tại cùng thời điểm,…
ÉP GÍA CAPPING, TRỢ GÍA PEGGING, CHỐT GÍA FlXING
Bất cứ nỗ lực chủ quan nào nhằm để tạo một áp lực làm cho giá một chứng
khoán nào đó bị hãm lại ở mức thấp, hoặc đẩy giá xuống thấp hơn, được
xem là hành động ép giá. Điều này bị lên án và cấm kỵ trong TTCK.
Tương tự các tác động chủ ý nhằm để duy trì một giá cao giả tạo hoặc chốt
giá ổn định một cách không bình thường đối với một chứng khoán đều là các
hành vi sai phạm và bị cấm.
Bên cạnh các biện pháp giám sát và duy trì sự tuân thủ các điều cấm cụ thể
trên đây, có thể nói, toàn bộ TTCK được vận hành dựa vào một hệ thống
nghiệp vụ, kỹ thuật, quy phạm, được chuẩn hoá cao độ. Các hoạt động
trong TTCK hầu như tất cả đều dựa trên những "đường ray" theo một trật tự
ăn khớp nhau. Sự tinh tế và nhạy cảm phát đi từ hiệu lực của hệ thống.
giúp cho người ta có thể đo được độ trung thực theo yêu cầu "fair play" cho
cả những thương vụ cực kỳ ngắn dù phải tính bằng giây.
Tính kỷ luật trong TTCK do được thể hiện từ các chuẩn mực chuyên sâu và
cương kỷ như vậy, người đầu tư khi giao dịch trong thị trường này cần thiết
phái nhờ đến chuyên viên tư vấn hoặc các broker.
Các rủi ro trong đầu tư chứng khoán
- Tự biết mình.
- Nhu cầu nào mua loại đó.
- Các rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
Có lẽ cần phải nói thật sớm rằng khi mua cổ phần công ty hoặc tại thị trường
chứng khoán TTCK là ta đã bỏ vốn ra làm ăn chứ không phải bỏ ống hay gởi
tiết kiệm. Chuyện tưởng đơn giản như thế mà hiện nay - và biết đâu sẽ còn
lâu nữa - làm nhiều công ty đã cổ phần hoá đang phải nhức đầu…
Bối cảnh có thể là những người lao động, tay làm hàm nhai, ki cóp những
đồng bạc dành dụm khó khăn đi mua cổ phần công ty. Cũng có thể đó là
những người khá hơn, chỉ vì suy nghĩ quá đơn giản nên đã đinh ninh rằng sở
hữu công ty rồi là bảnh lắm, cứ "tới kỳ là có bánh mì" Nhưng có trường
hợp đã tới mấy kỳ mà chẳng thấy "bánh mì"! Công ty vừa cổ phần hoá xong
dùng cho các nhu cầu sinh sống cơ bản và cũng không nằm trong kế hoạch
sử dụng ngắn hạn. Thể trạng tâm lý vững vàng và một khả năng nhận thức
tối thiểu về kinh tế là những yêu cầu cần thiết. Bởi vì không thể có chuyện
"không biết đâu bắt đền” khi có một sự trì trệ hoặc thậm chí mất trắng xảy
ra. Nếu ta không được như vậy thì tốt nhất nên chọn một cách đầu tư khác
dựa vào thế thủ - từ vừa vừa cho tới gần như chắc cú - đó là mua cổ phần ưu
đãi, mua trái phiếu nhà nước, trái phiếu đô thị, trái phiếu công ty hoặc gởi
tiết kiệm.
Cách đầu tư sau an toàn hơn, bảo đảm tới kỳ là có lãi để chi dùng và tính
được thời gian lấy vốn ra. Ngoại trừ cổ phần ưu đãi thì không được vì đây là
dạng đã dấn thân vào sân chơi nhưng còn "thủ công", không chịu thắng thua
mà chỉ muốn “lấy xâu”. Ở đây quy luật thị trường thể hiện rất rõ, rủi ro ít
nhận được lợi ít và ngược lại. Rủi ro risk trong đầu tư không nên được hiểu
theo nghĩa "liều" thông thường, mà phải được quan niệm là sự suy tính xa
hoặc, dễ hiểu hơn, đó chính là sự mạo hiểm.
Riêng trong TTCK, một nguyên tắc hành xử bắt buộc, mà các thành viên
chuyên nghiệp phải tuân thủ, đó là phải điều tra thật kỹ lưỡng tình trạng
nhân thân, tình hình tài chính, nhu cầu của người đầu tư trước khi mở tài
khoản cho họ mua chứng khoán. Nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán
nào không trưng ra được bằng chứng là mình đã thực hành tận tuỵ thủ tục
nào sẽ bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật.
THUỘC BÀI RỦI RO
Gọi là đầu tư nghĩa là đã chơi trò chơi trí tuệ. Nhưng thói thường, khi say
sưa nghĩ đến chiến thắng người ta dễ rơi vào trạng thái mất cảnh giác. Họ
quên rằng tài thao lược của họ, hoặc ngay cả của các chuyên gia cố vấn cho
họ, có thể bị "vô hiệu" bất cứ lúc nào tại hàng chục cửa ải, và nếu bất phước
có ông kẹ rủi ro xuất hiện thì chí nguy. Do đó mà đừng quên nghĩ đến những
thực tế phũ phàng, để thay vì “ngẫm lại mà đau” ta chấp nhận nó như là một
“thứ đau thương”. Tốt hơn hết người đầu tư cần nằm lòng càng nhiều rủi ro
sau đây càng tốt:
thường cũng sẽ có biến động mặc dù mối liên hệ không có gì là rõ ràng.
Rủi ro do biến động thị trường market risk: Là do áp lực của thị trường
TTCK - làm cho giá trị đầu tư bị biến động xấu, bị sụt giảm một phần. Rủi
ro này gây thiệt hại nhiều với các loại chứng khoán có độ biến động ví dụ hệ
số biến động beta của Mỹ cao hơn trung bình, và thấp nhất đối với các loại
chứng khoán ổn định, ví dụ trái phiếu kho bạc Nhà Nước. Tuy nhiên các rủi
ro do biến động không gây tác hại đáng kể đối với những người đầu tư có ý
định cầm giữ lâu dài.
Rủi ro về tài chính: Đây là rủi ro trực tiếp và đôi khi thảm hại do công ty
phát hành làm ăn thất bại hoặc phá sản, đe doạ người đầu tư thiệt hại một
phần hoặc mất trọn số tiền đã bỏ ra mua chứng khoán.
Rủi ro về khả năng thanh khoản: Khi người đầu tư muốn bán một lượng
chứng khoán đang sở hữu, .không phải ông ta luôn luôn có thể thực hiện
theo một thời điểm như ý mình. Đối với các chứng khoán có thị trường lạnh
nhạt dễ gây khó khăn cho người đầu tư khi họ muốn thanh lý vị thế của
mình. Hiện tượng “dội chợ” này được xem là một rủi ro vì muốn thanh lý có
khi phải chịu một khoản giảm giá đáng kể.
Rủi ro pháp chế: Sự thay đổi của luật pháp hiện hành có thể tác động xấu
đến một số hoạt động đầu tư đang tồn tại. Sự thay đổi về chính sách của
chính phủ cũng có thể là rủi ro của nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên, đây lại
chính là công cụ điều hành vĩ mô của Nhà nước.
Ngoài ra còn phải kể đến loại rủi ro do ảnh hưởng dây chuyền hoặc lây lan,
ví dụ như các cơn trào khủng hoảng. Một sự kém hiệu quả của bộ máy và thị
trường cũng có thể gây nên thiệt hại cho người đầu tư.
Một thực tế có tính đúc kết là mua cổ phiếu của công ty vào thời điểm
TTCK chuẩn bị ra đời thường rất dễ thắng. Bởi vì trong giai đoạn này chứng
khoán ít, trong khi lượng cầu chứng khoán thì sẽ gia tăng liên tục trong một
thời gian nhất định. Tuy nhiên người mua phải đủ sức cầm cự trong một thời
gian có thể dài. Những biến động bất lợi đoản kỳ chưa phải là chiều hướng
xác quyết của một loại cổ phiếu nào đó. Như ta đã phân tích loại rủi ro do
for Success André Kastolauy đã nói: Để có giá cổ phiếu tăng cần có các yếu
tố tích cực sau:
o Mức lạm phát duy trì thấp
o Mức lãi suất tiền gửi giảm
o Nền kinh tế tăng trưởng một cách ổn định
o Tỷ giá hối đoái USD ổn định
Cũng trong sách đã dẫn có viết: Thị giá cổ phiếu sẽ tăng trong giai đoạn
thịnh vượng của chu kỳ thăng trầm kinh tế, cụ thể lúc đó:
o Các yếu tố sản xuất được tận dụng triệt để
o Đầu tư tư nhân gia tăng
o Gia tăng thu nhập của toàn nền kinh tế
o Thu nhập quốc dân tăng
o Mức tăng tiêu dùng bị khống chế, mức tích luỹ vốn được khuyến
khích.
Thị giá cổ phiếu sẽ giảm trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ thăng trầm
kinh tế, khi đó:
o Đầu tư tư nhân chững lại và bị giảm mạnh
o Doanh lợi của doanh nghiệp bị suy giảm kéo theo
o Số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng
o Lượng thất nghiệp cao, tiền tích luỹ giảm mạnh
o Đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường cấp vốn, do đó
o Mức lãi suất tiền gửi tăng, gây luồng vốn chuyển từTTCK sang TT
tiền tệ.