bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa NGâN HàNG - TàI CHíNH
đề án môn học
Lý THUYếT TàI CHíNH TIềN Tệ
Đề tài:
VAI TRò CủA thị trờng CHứNG KHOáN
TRONG NềN KINH Tế Việt Nam
Giáo viên hớng dẫn : ts. Lu thị hơng
Sinh viên thực hiện : Lê tuấn anh
Lớp : ngân hàng 41D
Hà Nội - 2001
Lời nói đầu
Từ năm 1986, Đảng và nhà nớc Việt Nam đã thực hiện chủ trơng đổi mới
nền kinh tế, nhằm chuyển nền kinh tế nớc ta từ chế độ kế hoạch hoá tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị tròng có sự quản lý
của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Tuy nền kinh tế thị trờng chỉ mới
đợc xác lập trong một thời gian cha dài nhng nớc ta đã đạt đợc một số thành tựu
to lớn, nền kinh tế đã đi vào ổn định, tốc độ phát triển vững chắc, đời sống nhân
dân đợc nâng lên, vị trí của nớc ta không ngừng đợc nâng cao trên trờng quốc tế,
đợc bạn bè khâm phục.
Sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc mà đảng và nhà nớc ta đã đề xớng, với mục
tiêu đến năm 2020 cơ bản đa nớc ta thành một nớc công nghiệp, đã bớc đầu thu
đợc những thành công đáng khích lệ, đã tạo ra đợc những điều kiện tiền đề ban
đầu cho sự phát triển vững chắc sau này. Song cũng đã bắt đầu gặp không ít khó
khăn, ảnh hỡng đến tiến trình phát triển kinh tế, đặc biệt là vấn đề huy động vốn
và sử dụng vốn một cách có hiệu quả.
Nền kinh tế tuy cha hoàn thiện nhng cơ bản đã xác lập đợc những yếu tố
của nền kinh tế thị trờng, một loạt các thị trờng đã đợc tổ chức thành lập.
Thị trờng chứng khoán là một định chế tài chính đặc biệt, không thể thiếu
Vào năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn vinh do eo biển Even bị
cát lấp, tàu bè vào ra khó khăn, mậu dịch trờng ở đây bị sụp đổ và đợc chuyển
qua thị trấn Auvers, một hải cảng lớn của Bỉ thời đó.
Giữa thế kỷ 16, viên quan đại thần tài chínhVơng quốc Anh Theomes
gresham đến đây thị sát, và sau đó đã thiết lập một mậu dịch trờng ở London.
Các mậu dịch trờng khác cũng lần lợt đợc thành lập ở Pháp, Đức và ở một số nớc
Bắc Âu.
Số thành viên tham gia vào các mậu dịch trờng ngày càng đông, đến lúc
một mậu dịch trờng chung không còn phù hợp và không đủ sức cho các giao
dịch với các nội dung hoàn toàn khác nhau. Giao dịch hàng hoá đợc tách ra
thành các khu thơng mại, giao dịch ngoại tệ đợc tách ra thành thị trờng hối đoái,
giao dịch giá khoán động sản tách ra thành TTCK và các giao dịch hợp đồng cho
tơng lai đợc tách ra thành các thị trờng tơng lai hay còn gọi là thị trờng kỳ vọng.
Vậy là thị trờng chứng khoán đợc xuất hiện vào thế kỷ 15. Sự hình thành thị tr-
ờng chứng khoán cũng đông thời với thị trờng hối đoái và các thị trờng khác.
Quá trình các giao dịch chứng khoán đợc diễn ra và hình thành thị trờng
chứng khoán một cách tự phát cũng tơng tự tại Pháp, Hà Lan, các nớc Tây Â,
Bắc Âu và Bắc Mỹ.
Từ thế kỷ XX, thị trờng chứng khoán new yok chiếm vai trò quan trọng
nhất trên thị trờng tài chính thế giới. Năm 1990, doanh số hoạt động của các
chứng khoán ở đây lên đến 397, 7 tỷ USD. Quy mô lớn th hai là thị trờng chứng
khoán Tokyo: 300 tỷ USD, tiếp theo là các thị trờng chứng khoán Luân Đôn,
Frăng Phuốc, Pari
Lịch sử phát triển các thị trờng chứng khoán thế giới trải qua một sự phát
triển lúc lên lúc xuống theo kiểu răng ca. Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những
năm 1875-1913, thị trờng chứng khoán phát triển mạnh cùng với sự tăng trởng
của nền kinh tế. Nhng rồi đến ngày thứ năm đen tối 29/10/1929 đã làm cho thị
trờng chứng khoán New york và các thị trờng chứng khoán Tây, Bắc Ău và Nhật
Bản khủng hoảng, mất lòng tin. Sau thế chiến thứ 2 các thị trờng chứng khoán
cách pháp nhân cho các SVT-chuyên gia về các tín phiếu kho bạc, kỹ thuật mới
về đấu thầu và phát hành các tín phiếu; Đồng nhất các đợt phát hành trái phiếu
qua việc phát hành các OAT-trái phiếu kho bạc đồng nhất.
+ Đổi mới kỹ thuật: Để tạo dựng một có cấu đủ hiện đại nhằm đáp ứng đợc
sự phát triển của việc tài trợ phi trung gian hoá, các chức năng của ngành kinh
doanh thị trờng chứng khoán đã đợc tin học hoá mạnh mẽ. Hai cải cách lớn nhất
về kỹ thuật: một mặt liên quan đến sự giao dịch(front-office) và mặt khác đến
việc xử lý hành chính các nghiệp vụ giao dịch(back-office) tạo điều kiện cho
việc lu thông các cổ phiếu giữa các tổ chức thành viên, thông qua nghiệp vụ
chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác.
Phơng thức tổ chức, giao dịch của Thị trờng chứng khoán đã đợc cải thiện
không ngừng. Đặc biệt, khi ngành điện tử, tin học phát triển, tin học đợc ứng
dụng vào Thị trờng chứng khoán, thì Thị trờng chứng khoán đã trở thành một
ngành công nghệ có kỹ thuật riêng(công nghệ chứng khoán ). Tuy nhiên, các Thị
trờng chứng khoán trên thế giới không giống nhau, tuỳ theo đặc điểm kinh tế, xã
hội và tâm lý dân chúng của mổi nớc, họ có cách thức tổ chức và giao dịch riêng.
Nhng dù đợc tổ chức theo cách thức nào, thì đại cơng các Thị trờng chứng khoán
đều dựa trên những nguyên tắc căn bản liên quan đến chứng khoán, tổ chức thị tr-
ờng, giao dịch và sự kiểm soát của nhà nớc.
Trải qua các cuộc khủng hoảng, cuối cùng thị trờng chứng khoán lại đợc
phục hồi và tiếp tục phát triển, trở thành thể chế tài chính không thể thiếu đợc.
Đến nay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trờng
chứng khoán. Thị trờng chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không
thể thiếu đợc trong đời sống kinh tế của những nớc theo cơ chế thị trờng. Hiện
nay, thị trờng chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nớc công nghiệp
Châu Âu, Châu Mỹ và các nớc có nền kinh tế mới phát triển ở các châu lục trên
thế giới, và ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng trong việc huy động các
nguồn vốn để phát triển kinh tế. Một số quốc gia vừa mới thoát khỏi chính sách
thuộc địa, và hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ đất nớc cũng đã thành lập các
sở giao dịch chứng khoán và bớc đầu đã phát huy đợc vai trò trong việc huy động
Trong nền kinh tế thị trờng các yếu tố sản xuất là hàng hoá và mổi loại hàng
hoá đều có một thị trờng để giao dịch, thị trờng hàng tiêu dùng giao dịch mua
bán các sản phẩm dành cho tiêu dùng, thị trờng t liệu sản xuất giao dịch hàng
hoá t liệu sản xuất, ngoài ra còn có các thị trờng khác nh thị trờng lao động, thị
trờng bất động sản, thị trờng tài chính.
Thị trờng tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy tờ có
giá trị hay những phiếu nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, là chiếc cầu nối giữa
cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Trên thị trờng tài chính các nguồn cung và
cầu về vốn sẽ gặp nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức
tài chính trung gian nh: Ngân hàng thơng mại, công ty tài chính, quỹ tín dụng,
công ty bảo hiểm. Cũng nh hàng tiêu dùng là đối tợng của thị trờng hàng tiêu
dùng, t liệu sản xuất là đối tợng của thị trờng t liệu sản xuất, đối tợng của thị
trờng tài chính là những nguồn cung cầu về vốn trong xã hội của các chủ thể
kinh tế nh cá nhân, doanh nghiệp, nhà nớc
Cơ cấu của thị trờng tài chính gồm thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn. Thị tr-
ờng vốn còn gọi là thị trờng chứng khoán.
Thị trơng tiền tệ hoạt động chủ yếu là giao dịch các chứng khoán ngắn hạn,
còn thị trờng chứng khoán chuyên giao dịch chứng khoán trung và dài hạn.
Nh vậy, thị trờng chứng khoán là một bộ phận của thị trờng tài chính, là nơi
diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn. Thị
trờng chứng khoán là nơi mà các nguồn cung và cầu về vốn dài hạn gặp nhau.
Thị trờng chứng khoán là nơi giúp những ngời có tiền tiết kiệm để đầu t, với
hy vọng có thể kiếm thêm tiền lời. Thị trờng chứng khoán giúp cho những nhà
doanh nghiệp cần vốn để thực hiện các dự án kinh doanh, là phơng tiện để gọi
ngời hùn vốn hoặc để vay tiền. Thị trờng chứng khoán chuyển tiền từ khu vực
phi sản xuất sang khu vực sản xuất, khiến đồng tiền không sinh lời thành đồng
tiền kinh doanh sinh lời. Tóm lại, thị trờng chứng khoán tạo môi trờng thuận lợi
cho quá trình huy động vốn và sử dụng vốn, đồng thời phá thế độc quyền của hệ
thống ngân hàng trong việc cung cấp tín dụng.
chứng khoán và thơng gia chứng khoán.
Môi giới chứng khoán chỉ thơng lợng mua bán chứng khoán theo lệnh của
khách hàng và ăn hoa hồng.
Thơng gia chứng khoán còn gọi là ngời kinh doanh chứng khoán.
Nói chung các công ty môi giới chứng khoán tại các thị trờng chứng khoán
đều đồng thời thực hiện 2 nghiệp vụ là ngời môi giới vừa là ngời kinh doanh nh-
ng tại thị trờng chứng khoán New York, London từ lâu ngời ta đã phân biệt 2 loại
môi giới này và có luật lệ không chỉ hoạt động của thơng gia chứng khoán.
3. 2. Nguyên tắc đấu giá của mua bán chứng khoán.
Giá chứng khoán trên thị trờng chứng khoán do các nhà môi giới đa ra. Mỗi
nhà môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại từng thời điểm tuỳ theo sự xét
đoán, kinh nghiệm và kỹ thuật dựa trên lợng cung cầu loại chứng khoán đó trên
thị trờng.
3. 4. Nguyên tắc công khai của thị trờng chứng khoán.
Tất cả các hoạt động trên thị trờng chứng khoán đều đợc công khai hoá.
Thông tin về các loại chứng khoán đợc đa ra mua bán trên thị trờng, tình hình tài
chính và kết quả kinh doanh của các công ty phát hành, số lợng chứng khoán và
giá cả của từng loại chứng khoán đều đợc thông báo công khai trên thị trờng.
Khi kết thúc một cuộc giao dịch, số lợng mua bán và giá cả thống nhất lập tức đ-
ợc thông báo ngay. Nguyên tắc công khai của thị trờng chứng khoán nhằm đảm
bảo quyền lợi cho ngời mua bán chứng khoán không bị "hớ" trong mua bán
chứng khoán.
Tất cả các nguyên tắc trên đều đợc thể hiện bằng văn bản pháp quy từ luật
đến qui chế, điều lệ của mỗi thị trờng chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi của
ngời mua chứng khoán và của các thành viên trên thị trờng chứng khoán.
4. Cơ cấu của thị trờng chứng khoán.
4. 1. Xét về phơng diện pháp lý thị trờng chứng khoán đợc chia làm hai loại
gồm có:
* Thị trờng chứng khoán chính thức, hay còn gọi là thị trờng chứng khoán
tập trung:
Các loại chứng khoán giao dịch trên thị trờng OTC khác với các loại chứng
khoán giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Các loại chứng khoán muốn đợc
yết giá trên một sở giao dịch chứng khoán phải đạt đợc một số điều kiện tối thiểu
về vốn của công ty phát hành, tổng số chứng khoán do công chúng nắm giữ, lợi
nhuận hàng năm của công ty phải đạt đợc một mức nhất định. Các loại chứng
khoán giao dịch trên thị trờng OTC không đòi hỏi các tiêu chuẩn đó. Ddiều kiện
duy nhất là loại chứng khoán đó đợc phép phát hành và cha đăng ký yết giá tại
một sở giao dịch chứng khoán nào cả.
Hầu hết các loại chứng khoán mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị
trờng OTC, sau đó mới xin đăng ký tại sở giao dịch chứng khoán.
Thị trờng OTC do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quốc gia quản trị.
* Thị trờng chứng khoán phi tập trung:
Thị trờng chứng khoán phi tập trung là các hoạt động giao dịch mua bán
chứng khoán ở bất cứ đâu và bất cú lúc nào. Có thể thông qua các nhà môi giới
hoặc do chính ngời chủ sở hữu chứng khoán thực hiện.
Thị trờng chứng khoán phi tập trung là cơ sở để hình thành thị trờng tập
trung, rồi tiến lên hiện đại hoá thành thị trờng bán tập trung. Nh vậy, khi cha có
thị trờng chứng khoán tập trung và bán tập trung thì đã có thị trờng chứng khoán
phi tập trung.
Tất cả các loại chứng khoán đợc phép phát hành đều có thể đợc giao dịch
trên thị trờng phi tập trung.
4. 2. Xét về quá trình luân chuyển của chứng khoán, thị trờng chứng khoán
bao gồm 2 bộ phận cấu thành:
* Thị trờng sơ cấp:
Là thị trờng cấp một hay thị trờng phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt
động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự
tăng thêm qui mô đầu t vốn. Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trờng này là
nguồn tiết kiệm của dân chúng nh của một số tổ chức phi tài chính. Thị trờng sơ
cấp là thị trờng tạo vốn cho đơn vị phát hành.
bảo thị trờng chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế.
4. 3. Nếu căn cứ vào phơng thức giao dịch, thị trờng chứng khoán đợc chia
làm hai loại.
* Thị trờng giao ngay.
Còn gọi là thị trờng thời điểm, tức là thị trờng mua bán chứng khoán theo
giá của ngày giao dịch nhng việc thanh toán và giao hàng sẽ diễn ra tiếp theo sau
đó vài ngày theo quy định
* Thị trờng tơng lai.
Là thị trờng mua bán chứng khoán theo một loại hợp đông định sẵn, giá cả
đợc thoả thuận trong ngày giao dịch, nhng việc thanh toán và giao hàng sẽ diễn
ra trong một kỳ hạn nhất định trong tơng lai.
5- Sở giao dịch chứng khoán.
5. 1. Khái niệm về sở giao dịch chứng khoán :
Thị trờng chứng khoán chính thức, tập trung đợc tổ chức theo hình thức Sở
giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán là nơi gặp gỡ của các nhà môi
giới chứng khoán để thơng lợng, mua bán, đấu giá chứng khoán, và là cơ quan
phục vụ cho hoạt động mua bán chứng khoán
5. 2. Các hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới có 3 hình thức tổ chức sở giao dịch chứng khoán.
Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán đợc tổ chức theo hình thức "Câu lạc
bộ" tự nguyện của các thành viên. Trong hình thức này, các thành viên của sở
giao dịch (hội viên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo pháp
luật không có sự can thiệp của nhà nớc. Các hội viên của Sở giao dịch bầu ra Hội
đồng quản trị và Hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành.
Thứ hai: Sở giao dịch chứng khoán đợc tổ chức dới hình thức một công ty
cổ phần có các cổ đông là các công ty thành viên. Đây là hình thức phổ biến nhất
hiện nay. Sở giao dịch chứng khoán tổ chức dới hình thức này đợc hoạt động
theo luật công ty cổ phần, phải nộp thuế cho nhà nớc và chịu sự giám sát của một
cơ quan chuyên môn do chính phủ lập ra. Cơ quan chuyên môn này là cơ quan
bán trên sở giao dịch chứng khoán nữa.
5. 4. Thành viên sở giao dịch chứng khoán.
Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công
ty chứng khoán. Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trớc hết
công ty phải đợc công ty có thẩm quyền của nhà nớc cấp giấy phép hoạt động.
Phải có số vốn tối thiểu theo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã đợc đào
tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán. Ngoài ra công ty còn phải thoả mãn
các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán cụ thể. Một công ty chứng khoán
có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán khác nhau nhng không
đợc là thành viên của thị trờng chứng khoán phi tập trung và ngợc lại công ty
chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụ khác nhau trên thị trờng
chứng khoán.
5. 5. Giám sát thị trờng chứng khoán.
Để đảm bảo cho các giao dịch đợc công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà
đầu t, sở giao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát các
giao dịch chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch chứng
khoán. Nhiệm vụ chủ yếu của các bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi và ngăn
chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực nh gây nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao
dịch lòng vòng, giao dịch có dàn xếp trớc.
5. 6. Giao dịch trên thị trờng chứng khoán.
Các chứng khoán đợc giao dịch trên thị trờng theo lô chẵn hoặc lô lẻ. Trên
sàn giao dịch, có nhiều loại lệnh khác nhau đợc nhà đầu t sử dụng tùy theo mục
đích của từng ngời. Để mua hay bán chứng khoán, các nhà đầu t sẽ đa ra các
lệnh thuê các công ty môi giới chứng khoán thực hiện hộ.
Lệnh thị trờng: Đây là loại lệnh thông dụng nhất. Các công ty môi giới
căn cứ vào giá thị trờng hiện tại của loại chứng khoán mà nhà đầu t yêu cầu thực
hiện để tiến hành giao dịch, xong họ cũng phải xem xét để mua hoặc bán sao
cho có lợi nhất cho khách hàng của họ, các khách hàng biết chắc lệnh sẽ đợc
thực hiện nhng không biết chắc giá cả là bao nhiêu.
dịch của Thị trờng chứng khoán là chứng khoán.
Chứng khoán là giá khoán động sản, là một thuật ngữ dùng để chỉ các giấy
tờ có giá, tức là giấy tờ ghi nhận khoản tiền tệ mà ngời sở hữu chúng bỏ ra sẽ đ-
ợc quyền hởng những khoản lợi tức nhất định theo kì hạn, là các loại công cụ
vốn dài hạn, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu. Ngoài ra trên Thị trờng chứng
khoán còn giao dịch các loại giấy tờ có giá liên quan đến chứng khoán hay còn
goi là các loại chứng khoán phát sinh, đó là chứng quyền, chứng khế, phiếu cầm
cố, giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu và hợp đồng về quyền lựa chọn.
Chứng khoán có hai loại :
- Chứng khoán vô danh : Là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên sở hữu
chủ. Việc chuyển nhợng loại này rất đơn giản, dễ dàng, không cần phải có thủ
tục pháp lý rờm rà.
- Chứng khoán ký danh : Loại chứng khoán này có ghi rõ họ tên và chủ sở
hữu. Việc chuyển nhợng chứng khoán này đợc thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại
cơ quan phát hành, đôi khi đòi hỏi có sự chấp nhận trớc.
1. Cổ phiếu:
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó đợc chia thành nhiều phần nhỏ
bằng nhau, gọi là cổ phần, ngời mua cổ phần gọi là cổ đông. cổ đông đợc cấp
một giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ phần-gọi là cổ phiếu.
Nh vậy, cổ phiếu đợc khai sinh từ công ty cổ phần và chỉ các công ty cổ
phần mới có cổ phiếu.
Vậy, cổ phiếu là một chứng th chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông
đối với công ty cổ phần. Cổ đông là ngời có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
Cổ đông có các quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty: Đợc chia cổ tức
theo kết quả kinh doanh, đợc quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm
soát công ty, và phải chịu trách nhiệm về sự thua lổ hoặc phá sản của công ty
trong phạm vi số vốn cổ phần của mình.
Cổ phiếu đợc phát hành lúc thành lập công ty và lúc công ty cần gọi thêm vốn.
Cổ phiếu có giá trị ban đầu, đợc ghi trên cổ phiếu, gọi là mệnh giá. Mệnh
Một số loại trái phiếu chủ yếu là :
Trái phiếu công ty, trái phiếu dài hạn kho bạc, trái phiếu đô thị, công trái
nhà nớc, trái phiếu cầm cố.
3. Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu :
Một công ty cổ phần kinh doanh có hiệu quả, có nhu cầu và khả năng phát
triển, công ty quyết định tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu bổ sung. việc phát
hành cổ phiếu mới có thể dẫn đến tình trạng một số cổ đông ban đầu có thể mất
quyền kiểm soát công ty, trong khi họ là những ngời có công cần đợc u đãi.
Để đảm bảo quyền kiểm soát công ty của các cổ đông ban đầu, trớc những
năm 1950, các công ty cổ phần trên thế giới thờng thực hiện phơng thức chia cổ
phần thông thờng làm hai loại: A, B. Cổ phần loại A là những cổ phần nguyên thuỷ,
đợc hởng các quyền của cổ phần thông thờng. Cổ phần loại B là loại cổ phần mới đ-
ợc phát hành bổ sung, đợc hởng lãi cổ phần theo nguyên tắc cổ phần thông thờng
nhng không đợc phổ thông đầu phiếu. Tức là quyền kiểm soát công ty vẩn dành cho
số cổ phần nguyên thuỷ. Ngày nay, khi phát hành một lợng cổ phiếu mới, ngời ta
thờng áp dụng phơng thức phát hành trích ra theo một tỷ lệ nhất định tơng xứng với
số cổ phiếu các cổ đông ban đầu, cho phép các cổ đông ban đầu đợc mua với giá u
đãi thấp hơn giá thị trờng, đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông có công sáng lập và
lãnh đạo công ty.
Số lợng cổ phiếu mà mỗi cổ đông ban đầu đợc quyền mua theo tỷ lệ với số
cổ phiếu họ nắm giử. Trái lại, cổ đông hiện hữu không thực hiện quyền mua thì
họ có thể chuyển nhợng quyền mua đó cho ngời khác để hỡng một phần chênh
lệch giá.
Nh vậy, giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu cũng là một loại chứng khoán
và nó đợc giao dịch sôi động trên Thị trờng chứng khoán nh cổ phiếu của công ty
đó.
4. Hợp đồng về quyền lựa chọn.
Hợp đồng về quyền lựa chọn có hai loại: quyền chọn muavà quyền chọn
bán. Đó là một bản hợp đồng đợc soạn giữa hai ngời. Hợp đồng này xác định cho:
quyền và chứng khế cho các cổ đông hiện hữu.
Chứng quyền và chứng khế giống nhau ở chỗ cả hai đều cho phép ngời sở
hữu chúng đợc đặt mua các cổ phiếu mới. Còn điểm khác nhau cơ bản giữa
chúng là các chứng quyền thờng ngắn hạn, nhng các chứng khế có kỳ hạn lâu
hơn nhiều. Do vậy, một công ty có thể phát hành nhiều loại chứng khế cùng một
thời điểm, nhng mỗi thời điểm chỉ phát hành một loại chứng quyền. Sau đây
chúng ta sẽ lần lợt tìm hiểu hai loại này.
Chứng quyền (rights)
Chứng quyền (rights) hay còn gọi là quyền tiên mãi hoặc quyền đặt mua
(quyền dự tính ) là một quyền u đãi mà công ty cổ phần cho các cổ đông đợc h-
ởng để mua cổ phiếu mà họ đang sở hữu. Thông thờng, các cổ đông có chứng
quyền, đợc quyền "mua" hoặc "đặt mua" (subscription), với giá thấp hơn giá
hiện hành của cổ phiếu. Cácchứng thờng có kỳ hạn ngắn.
Thông thờng, khi một công ty cổ phần muốn tăng thêm vốn bằng cách phát
hành thêm một số cổ phiếu mới. Công ty sẽ trao cho những ngời đang sở hữu cổ
phiếu của công ty một số đặc quyền hay cơ hội mua những coỏ phiếu mới phát
hành thêm tỷ lệ với số cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Ví dụ ; một công ty cổ
phần A cho các cổ đong của nó quyền mua thêm một cổ phiếu mới ứng với 10 cổ
phiếu cũ mà họ đang nắm giữ. Mỗi cỏ đông đợc hởng u đãi này sẽ đợc nhận một
tờ chứng quyền. thể hiện chính xác số lợng các trái quyền mà nó đợc hởng. Các
trái quyền sẽ đợc thực hiện (đôỉ lấy cổ phiếu ) trong một thời hạn xác định theo
một giá ấn định.
Nếu một cổ đông muốn thực hiện trái quyền của mình, anh ta điền vàotờ giấy
chứng quyền và gửi đến công ty. Anh ta cũng có thể gửi séc hoặc ngân phiếu theo
giá trị của những cổ phiếu mà anh ta muốn mua thêm. Ngợc lại, nếu anh ta không
muốn thực hiện trái quyền của mình, trên thị trờng chứng khoán theo giá thị trờng
hiện hành. Nói chung, dù theo cách nào thì cổ đông cũng phải thực hiện theo thời
hạn đợc ghi trên chứng quyền. Sau ngày đó, chứng quyền không còn giá trị, tức là
nó không thể đợc thực hiện hoặc đem bán.
bắt nguồn từ một vài chứng khoán cơ bản. Vì vậy, phụ thuộc vào bản chất thực
sự giữa công cụ có nguồn gốc chứng khoán và chứng khoán cơ bản của nó, đúng
theo lô rích ta thấy, giá cả của hai loại phải dịch chuyển cùng gần nhau. Thông
thòng giá của công cụ có nguồn gốc chứng khoán đợc xác định trực tiếp từ
chứng khoán khởi đầu. Với các quyền chọn và chứng khế ngời ta đã mua quyền
để thực hiện với chứng khoán nguồn gốc, theo giá cả và số lợng đã đợc định trớc,
tại một thời điểm nào đó hoặc trong một thời hạn đã đợc định trớc. Nh vậy các nhân
tố ảnh hởng đến giá của công cụ có nguồn gốc chứng khoán, đó là:
-Mệnh giá của chứng khoán.
-Giá thực hiện.
-Sự giao động của công cụ có nguồn gốc chứng khoán.
-Thời gian còn lại cho đến khi đáo hạn.
-Sự sẵn có của công cụ và kỹ thuật thay thế tơng tự.
- Các lãi suất tơng đối và các chi phí để giữ công cụ có nguồn gốc chứng khoán.
III- Vai trò của thị trờng chứng khoán đối với nền kinh tế
thị trờng .
3. Tính tích cực của thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán là một thể chế tài chính bậc cao, hoạt động của nó
thông qua các công cụ là cổ phiếu, trái phiếu, và với nhiều loại hình khác nhau
phù hợp với tâm lý muôn vẻ của ngời dân, qua đó cho phép các doanh nghiệp,
các tổ chức tài chính và chính phủ huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rổi để
đầu t phát triển kinh tế. Bài học kinh nghiệm của các tập đoàn kinh tế mạnh trên
thế giới cho thấy: không thể triễn khai các dự án tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất,
nếu không tập hợp đợc những nguồn vốn nhàn rỗi, phân tán trong dân chúng
thành một nguồn vốn khổng lồ, mà ngời tập hợp có toàn quyền sử dụng vào
những mục tiêu trung và dài hạn.
Có thể nói, cùng với hệ thống huyết mạch của hệ thống ngân hàng, thị trờng
chứng khoán đóng vai trò là bà đỡ thứ hai cho các dự án kinh doanh tiến bộ đi
vào cuộc sống, là biện pháp chủ yếu của việc giải phóng mọi năng lực sản xuất.
cho loại hình đầu t này trở nên đơn điệu và không đủ sức hấp dẫn đối với công
chúng và các nhà đầu t thích lợi nhuận cao. Thị trờng chứng khoán ra đời, đã tạo
ra những công cụ mới, tinh tế và đa dạng trong các phong cách đầu t của đông
đảo công chúng có tâm lý và suy nghĩ khác nhau. Với một hệ thống đa dạng các
loại chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu t, các hợp
đồng về quyền lựa chọn, hợp đồng tơng lai, chứng quyềncó thể đáp ứng yêu
cầu lựa chọn của những ngời đầu t trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tài chính
trung gian để lựa chọn những nơi đầu t có hiệu quả. Việc đầu t vào cổ phiếu trên
thị trờng không những đem lại lợi nhuận thông qua cổ tức, trên thực tế đó là
phần tăng thêm của thị giá cổ phiếu so với mệnh giá ban đầu, mà còn tham gia
quyền kiểm soát đối với các tổ chức phát hành cổ phiếu, khi các nhà đầu t nắm
một số lợng lớn cổ phiếu có quyền biểu quyết. Đây chính là những tác nhân kích
thích ý thức tiết kiệm để đầu t của công chúng.
Ngoài ra trong quá trình vận hành của nền kinh tế luôn xuất hiện một số
quỹ có vốn tạm thời nhàn rổi, nh quỹ bão hiểm, quỹ phúc lợi, quỹ tơng hỗSự
tách biệt về mặt thời gian giữa các khoản thu và chi của các quỹ này dẫn đến kết
d vốn nhàn rỗi. Để tránh hiện tợng vốn chết trong quá trình vận hành, các nhà
quản lý quỹ sẽ gửi vào ngân hàng dới hình thức tiền gửi tiết kiệm để lấy lãi, hoặc
dùng để đầu t vào thị trờng chứng khoán, nơi luôn tạo ra khả năng sinh lợi và
tính thanh khoản cho các khoản đầu t, đáp ứng kịp thời các khoản chi cần thiết
của các quỹ đầu t.
Trên thực tế, từng cá nhân riêng lẻ sẽ không tạo ra đợc vốn lớn, bản thân họ
cũng không am hiễu hết các khía cạnh của đầu t, nên kết quả đầu t dễ bị phân tán
và ít hiệu quả. Nhng, nếu thông qua một quỹ đầu t, các nhà đầu t đơn lẻ có thể
tập hợp đợc một số vốn khá lớn vào trong tay những ngời biết cách quản lý, để
đầu t vào thị trờng chứng khoán thì sẽ cho một hiệu quả cao gấp bội. Mỗi ngời
trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ, nhng tập hợp lại sẽ có một số vốn khổng lồ.
Số tiết kiệm khổng lồ này sẽ đợc tập trung thông qua thị trờng chứng khoán để
đầu t vào phát triển sản xuất. Nh vậy, thị trờng chứng khoán đóng vai trò nh là
chậm mà t nhân không thể đáp ứng đợc.
* Thị trờng chứng khoán là công cụ để nhà nớc huy động và kiểm soát các
nguồn vốn đầu t nớc ngoài.
Vốn đầu t nớc ngoài có vị trí quan trọng đối với các nớc có nền kinh tế
đang phát triển. Chúng ta biết rằng, nguồn vốn đầu t trong nớc dù có huy động
tới mức tối đa cũng không thể đáp ứng đủ nhu cầu cho đầu t phát triển kinh tế
trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Do
vậy, phải có vốn đầu t nớc ngoài. Trên thực tế, các khoản vốn đầu t nớc ngoài th-
ờng đợc thu hút dới hai hình thức, đó là đầu t trực tiếp thông qua các dự án sản
xuất kinh doanh, và đầu t gián tiếp thông qua các định chế tài chính trung gian.
Cả hai hình thức đầu t này nếu nh không có thị trờng chứng khoán thì không
phát huy đợc tính hiệu quả cao của nó. Bản thân các nhà đầu t nớc ngoài, khi
xem xét các khía cạnh môi trờng đầu t, họ thờng tính đến khả năng sinh lợi, khả
năng hoàn vốn, cũng nh khả năng chuyển đổi sở hữu khi thấy cần thiết, mà điều
này chỉ có thể thực hiện đợc khi có thị trờng chứng khoán, nơi luôn tạo ra sự
chuyển dịch các luồng vốn đầu t, và cung cấp các thông tin một cách chính xác
để tìm hiểu các đối tác đầu t. Khi tham gia thị trờng vốn trong nớc, các nhà đầu
t nớc ngoài góp vốn thông qua tỷ nắm giữ các chứng khoán đối với các tổ chức
phát hành. Vì vậy, việc kiểm soát tỷ lệ góp vốn của bên nớc ngoài voà các lĩnh
vực đầu t trong nớc qua các giai đoạn phát triển khác nhau là việc hoàn toàn có
thể thực hiện đợc trên thị trờng chứng khoán. Khi mua bán, chuyển nhợng chứng
khoán, các nhà đầu t nớc ngoài phải thực hiện việc đăng ký, lu ký chứng khoán
thông qua các tổ chức lu ký chứng khoán. Điều này cho phép nhà nớc có thể
kiểm soát đợc các tổ chức, cá nhân nớc ngoài góp vốn và các tỷ lệ nắm giữ trong
từng doanh nghiệp, cũng nh trong tổng thể nền kinh tế.
* Thị trờng chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo tính thanh
khoản và di chuyển vốn đầu t dễ dàng.
Việc mua bán cổ phiếu hay chứng khoán trên thị trờng thứ cấp không tạo
thêm nguồn vốn mới cho đơn vị kinh tế hay chính phủ mà chỉ đơn giản thay đổi
niêm yết; tỷ lệ nợ trên vốn khả dụng; số năm làm ăn có lãi và tỷ lệ cổ tức trên
mệnh giá. Ngoài ra, các tiêu chuẩn về hệ số sử dụng vốn, cơ cấu phân bổ vốn, cơ
cấu hội đồng quản trị, ban giám đốc điều hành, nghĩa vụ công bố thông tin công
khai, minh bạch cũng đợc xem xét trong quá trình chấp thuận cho việc cho phép
niêm yết tại sở giao dịch. Chính điều này đã tạo cho các doanh nghiệp quan tâm
đến hiệu quả và tuân thủ luật pháp, bởi lẻ các chứng khoán của họ mới đợc thị tr-
ờng chấp nhận và các nhà đầu t bỏ tiền ra để mua các chứng khoán. Để tạo khả
năng hấp dẫn của chứng khoán đối với công chúng, không cá cách nào khác là
doanh nghiệp phải tính toán để quản lý một các có hiệu quả, trên cơ sở đó không
ngừng phát huy tính sáng tạo của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp khi tham gia thị trờng chứng khoán phải chịu sự kiểm tra,
giám sát của sở giao dịch, uỷ ban chứng khoán, ngoài ra còn chịu sự chi phối của
các công ty kiểm toán độc lập và công ty đánh giá xếp hạng. Cơ chế hoạt động
cử công ty cổ phần cho phép chủ sở hữu chứng khoán có quyền điều hành và
quản lý công ty. Thông qua việc nắm chứng khoán có quyền biểu quyết, các chủ
sở hữu chứng khoán sẽ tham gia hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành
công ty, và sẽ chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, cũng nh xu hớng phát
triển của công ty. Chính điều này cho phép cơ cấu điều hành của công ty luôn
thay đổi, nhằm tìm ra giải pháp làm ăn có hiệu quả và phát huy tính năng động
sáng tạo của doanh nghiệp.
* Thị trờng chứng khoán tạo thói quen về đầu t.
Chúng ta biết rằng, nguồn tiết kiệm tiềm tàng trong công chúng rất lớn và
hệ thống ngân hàng cha thu hút đợc tiềm năng này. Hơn nữa, dân chúng cũng ch-
a phân biệt rõ thế nào là hùn vốn. Chúng ta đã thấy nhiều công ty cổ phần ra đời và
nhiều cổ đông đã xem nguồn vốn của mình nh là một loại ký thác và đòi hỏi đơn vị
phải bảo đảm một lãi suất tơng đơng cho phần hùn của mình không cần biết đơn vị
làm ăn ra sao.
Thị trờng chứng khoán, với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và bộ máy quản lý
hữu hiệu, sẽ là môi trờng thuận lợi cho việc phát hành cổ phiếu, và các loại
và họ muốn thông qua các cổ phiếu để cung làm chủ những công ty lớn mạnh và
nổi danh.
- Ngời đầu cơ: Thờng là những ngời nhằm đến lợi ích ngay trớc mắt. bằng
sự táo bạo của mình, họ chớp lấy thời cơ để mua hoặc bán chớp nhoáng các
chứng khoán mục tiêu của ngời đầu cơ là kiếm lời thông qua việc mua và bán
chứng khoán chấp nhận rủi ro miễn sao có lợi cho bản thân mình là đợc.
Yếu tố đàu cơ đã tạo ra tình trạng cung cầu chứng khoán giả tạo, từ đó gây
nên sự thừa thải hay khan hiếm một cách giả tạo, dẫn đến giá cả chứng khoán sẽ
tăng hoặc giảm sút đột ngột làm rối loạn thị trờng, có thể gây ra sự sụp đổ của
thị trờng chứng khoán.
* Hiện tợng chèn ép cá lớn nuốt cá bé cũng có thể xảy ra trên thị trờng
chứng khoán. có nghĩa là những thơng gia chứng khoán lớn thờng đẩy giá lên
cao hoặc dìm giá xuống thấp để thu lợi, gây thiệt hại cho những ngời chỉ có số
chứng khoán ít ỏi, vì trên thị trờng chứng khoán giá cả hoàn toàn do cung cầu
quyết định qua sự thoả thuận giữa ngời bán và ngời mua.
* Mua bán nội gián:
Một cá nhân nào đó lợi dụng thông tin của nội bộ trong đơn vị kinh tế để
mua, bán cổ phiếu của đơn vị đó có ảnh hỡng đến giá trị của cổ phiếu nếu thông
tin đó đợc phổ biến rộng rải. Mua bán nội gián đợc coi là phi đạo đức về mặt th-
ơng mại, vì ngời có nguồn thông tin từ bên trong sẽ có một lợi thế không hợp lý
đối với nhà đầu t bên ngoài để thu hút lợi về riêng cho mình và nh thế đi ngợc lại
nguyên tắc mọi nhà đầu t đều phải có cơ hội nh nhau. Mua bán nội gián đợc coi
là vi phạm quyền lợi chung, hậu quả do những ngời không có nguồn thông tin đó
gánh chịu.
* Mua bán cổ phiếu ngoài thị trờng chứng khoán.
Nếu việc mua bán này đợc tự do thực hiện sẽ gây ra hậu quả khó lờng vì bộ
phận quản lý không thể nào biết đợc việc nhợng quyền sở hữu cổ phiếu của một
đơn vị nào đó. Mọi sự mua bán bên ngoài có khả năng tạo áp lực cho các nhà
đầu t khác, thậm chí có thể đa đến việc khống chế hay thay thế cả lãnh đạo đơn