Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 70


1
LỜI NÓI ĐẦU

Đường lối kinh tế và chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là "Đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước
ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng
thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa..."
(trích Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ươ
ng Đảng khoá VIII và
trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng) đòi hỏi phải có nguồn
lực lớn mà cụ thể là huy động được nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế
đất nước. Phát triển thị trường chứng khoán, tìm ra các giải pháp phát triển thị
trường chứng khoán đã đáp ứng được nhu cầu cấp bách về nguồn vốn hiện
nay.
Đề tài: Vai trò c
ủa thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt
Nam 2
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN

I. CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế
giới.
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.
Đến nay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường
chứng khoán. Thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính
không thể thiếu được trong đời sống kinh tế c

1913 cùng với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế. Cũng có lúc thị
trường chứng khoán rơi vào đêm đen như ngày thứ năm đen tối tức ngày
29/10/1929 rồi ngày thứ hai đen tối năm 1987, vừa qua tháng 7/97 thị trường
chứng khoán ở các nước Châu Á sụt giá, mất lòng tin bắt đầu từ Thái Lan.
Đến nay thị trường chứng khoán các nước đang phát triển mạnh mẽ về
số
lượng thị trường chứng khoán lên đến 160 sở giao dịch, chất lượng hoạt động
thị trường ngày càng đáp ứng cho số đông những nhà đầu tư trong và ngoài
nước, tiến tới một thị trường chứng khoán hội nhập khu vực và quốc tế.
Hiện nay thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước
công nghiệp hàng đầu Mỹ
, Nhật, Anh, Đức, Pháp… Bên cạnh đó hơn 40 nước
phát triển đã thiết lập thị trường chứng khoán cũng đã hình thành ở các nước
láng giềng Việt Nam như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philipin và
Inđônêxia và Việt Nam cũng đã có trung tâm giao dịch thị trường chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh. (7/2000).
2. Các khái niệm
a. Chứng khoán:
Chứng khoán là các loại công cụ tài chính dài hạn, bao gồm các loại cổ
phiếu và trái phiếu.
Cổ phiếu là loại chứng ch
ỉ xác nhận việc góp vốn của một người vào công ty
cổ phần. Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của người này đối với công ty cổ
phần, người sở hữu được gọi là cổ đông, cổ đông có các quyền hạn và trách

4
nhiệm đối với công ty cổ phần, được chia lời (cổ tức) theo kết quả kinh doanh
của công ty cổ phần: được quyền bầu cử, ứng cử vào ban quản lý, ban kiểm
soát. Cổ phiếu có thể được phát hành vào lúc thành lập công ty, hoặc lúc công
ty cần thêm vốn để mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh.

5
Cụ thể hơn thị trường chứng khoán có thể được định nghĩa như là nơi tập
trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho người muốn sử dụng những
nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả. Nói cách khác thị
trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn đầu tư này, có
thêm nhiều vốn hơn để đưa vào s
ản xuất trong nền kinh tế vì vậy có thể làm
cho nền kinh tế tăng trưởng và tạo nên sự thịnh vượng.
Theo định nghĩa nêu trên, thị trường chứng khoán không phải là cơ quan
mua vào hoặc bán ra các loại chứng khoán. Thị trường chứng khoán chỉ là nơi
giao dịch, ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người
môi giới chứng khoán. Như vậy thị trường chứng khoán không phải là n
ơi
giao dịch (mua - bán) chứng khoán của những người muốn mua hay bán
chứng khoán mà là của những nhà môi giới. Nếu một người muốn mua hay
bán chứng khoán, người này sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của
anh ta trên thị trường chứng khoán để tiến hành việc mua bán chứ không trực
tiếp tham gia mua bán. Giá cả chứng khoán được hình thành một cách khách
quan theo hệ thống bán đấu giá hai chiều. Người môi giới mua khác được với
giá thấp nhất, người môi giới bán c
ạnh tranh với những người môi giới bán
khác để bán được giá cao nhất. Vì thế mà thị trường chứng khoán là thị
trường có tính tự do cao nhất trong các loại thị trường.
c. Phân loại thị trường chứng khoán.
Về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán gồm có:
Thị trường chứng khoán (TTCK tập trung) là thị trường hoạt động theo đúng
các qui luật pháp định, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng
bi
ểu hay được biệt lệ.
Chứng khoán đăng biểu là loại chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền

các nhà đầu tư có thể xác định được hiệu quả của m
ột cổ phiếu hoặc một
danh mục các chứng khoán để đầu tư vào.
Bất kỳ một thị trường chứng khoán nào cũng có một chỉ số chứng khoán của
riêng nó. Ví dụ thị trường chứng khoán New york có chỉ số Dow Jones, thị

7
trường chứng khoán Tokyo áp dụng chỉ số Nikkei, Hong Kong áp dụng chỉ số
Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ số "Strai taime"…
Một loại chỉ số chứng khoán được nhiều người biết đến nhất là chỉ số Dow
Jones ra đời cách đây vừa tròn 100 năm (896). Chỉ số này được coi như một
cột mốc của thị trường chứng khoán thế giới. Chỉ số này do hai nhà kinh tế
Mỹ Edward David Jones và Charles Hery Dow đề xuấ
t đo lường mức độ biến
động của thị giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York. Chỉ số Dow
Jones bao gồm 65 loại cổ phiếu được chia thành 3 nhóm chỉ số bình quân nhỏ
như sau:
+ Chỉ số Dow Jones công nghiệp bao gồm giá cổ phiếu của 30 công ty hàng
đầu ngành công nghiệp công lại rồi chia cho 1504 (con số này có khi có
giảm).
+ Chỉ số Dow Jones vận tải bao gồm giá cổ phiếu của 20 công ty hàng đầu
ngành giao thông vận t
ải cộng lại chia cho 2785 (con số này có khi tăng).
+ Chỉ số Dow Jones dịch vụ công cộng bao gồm giá cổ phiếu của 15 công ty
hàng đầu ngành dịch vụ công cộng.
Để biết được tình hình phát triển kinh tế gần đây người ta xác định thêm một
số tiêu chuẩn khác. Đó là các điểm giới hạn và điểm liệt. Chẳng hạn điểm giới
hạn của chỉ số Dow Jones là 800, điể
m liệt là 700. Nếu chỉ số Dow Jones
hàng ngày vượt quá 800 điểm chung trong nền kinh tế đang đi lên, nếu dưới

thêm được các nguồn tài chính mới. Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền
sở hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh
khoản của chứng khoán.
Thị trường sơ cấp và thị trườ
ng thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng
khoán. Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau được ví dụ như
hai bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề,
thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có
chứng khoán để lưu thông trên th
ị trường thứ cấp và ngược lại, nếu không có
thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó

9
khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động
vốn trong nền kinh tế.
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt
lý thuyết. Trong thực tế tổ chức thị trường chứng khoán không có sự phân
biệt đâu là thị trường sơ cấp và đâu là th
ị trường thứ cấp. Nghĩa là, trong một
thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao
dịch của thị trường thứ cấp. Vừa có việc mua bán chứng khoán theo tính chất
mua đi bán lại.
Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trường sơ cấp, vì đây là thị
trường phát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng th
ời phải
giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị
trường để đảm bảo thị trường chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của
nền kinh tế.
3. Sở giao dịch chứng khoán:
Thị trường chứng khoán chính thức được tổ chức theo hình thức Sở giao

b. Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán
Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường
chứng khoán do chính phủ thành lập. Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm
vụ xác định loại doanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán và loại
chứng khoán nào được mua bán. Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt
động của các công ty môi giới và thực hiện các công việc quản lý nhà nước
khác.
H
ội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và
điều hành sở giao dịch chứng khoán. Tất cả các quyết định đều được Hội
đồng quản trị đưa ra. Hội đồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành
viên của sở giao dịch chứng khoán, các thành viên liên doanh thậm chí có một
số không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng
khoán quốc gia đưa vào. Hội đồng quả
n trị có quyền quyết định nhưng thành
viên nào được phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ
tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch. Hội đồng này có quyền
đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó. Hội đồng quản
trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch.

11
Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc
kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không
cho phép mua bán trên sở giao dịch. Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản
trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời
gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch
chứ
ng khoán nữa.
khoán thực và thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn hợ
p pháp và phát
triển, bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Vì những nhà đầu tư không thể xét
đoán một cách nhanh chóng và chính xác giá trị thực sự của từng loại chứng
khoán và cũng không dự đoán được chính xác xu hướng biến động của nó. Vì
vậy nếu người môi giới có thái độ không khách quan trong hoạt động trung
gian sẽ gây thiệt haị cho các nhà đầu tư.
Xét về tính chất kinh doanh, môi giới chứng khoán có 2 loại: Môi giới
ch
ứng khoán và thương gia chứng khoán.
Môi giới chứng khoán chỉ thương lượng mua bán chứng khoán theo lệnh của
khách hàng và ăn hoa hồng.
Thương gia chứng khoán còn gọi là người kinh doanh chứng khoán.
Nói chung các công ty môi giới chứng khoán tại các thị trường chứng
khoán đều đồng thời thực hiện 2 nghiệp vụ là người môi giới vừa là người
kinh doanh nhưng tại thị trường chứng khoán New York, London từ lâu người
ta đã phân biệt 2 loại môi giới này và có luật l
ệ không chỉ hoạt động của
thương gia chứng khoán.
b. Nguyên tắc định giá của mua bán chứng khoán.
Giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán do các nhà môi giới đưa ra.
Mỗi nhà môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại từng thời điểm tuỳ theo
sự xét đoán, kinh nghiệm và kỹ thuật dựa trên lượng cung cầu loại chứng
khoán đó trên thị trường.

Trích đoạn Giải pháp để khắc phục những hạn chế giải quyết vấn đề về hàng hoá trên thị trường chứng khoán.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status