ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ QUÝ THU PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP
CỦA NHÂN DÂN THANH HÓA CUỐI THẾ KỶ
XIX
(1885 - 1895) LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2006
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: THANH HÓA TRƯỚC KHI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP BÙNG NỔ (THÁNG 7-1885)
14
1.1.
Vài nét về vị trí chiến lược, truyền thống yêu nước chống
ngoại xâm của nhân dân Thanh Hóa
14
1.2.
Tình hình tỉnh Thanh Hóa trước khi phong trào Cần Vương
bùng nổ (7-1885)
21
Chương 2: TỪ CĂN CỨ ỔN LÂM - KỲ THƯỢNG ĐẾN KHỞI
4.2.
Vị trí, nguyên nhân thất bại và kinh nghiệm về phong trào
yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX
148
KẾT LUẬN
163
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
TỚI LUẬN ÁN
168
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
170
PHỤ LỤC
185
DANH MỤC CÁC HÌNH (BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ)
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
2.1a
Các cứ điểm trong phong trào chống Pháp ở Nông Cống
39
2.1b
Sơ đồ căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng
39
2.2a
đình Huế ký Hiệp ước Hác-măng (25-8-1883) và Pa-tơ-nốt (6-6-1884), áp đặt
nền bảo hộ của chúng lên toàn bộ đất nước ta, hưởng ứng chiếu Cần Vương
của vua Hàm Nghi, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân
Thanh Hóa dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu văn thân đã bùng nổ mạnh mẽ,
quyết liệt, góp phần cùng nhân dân cả nước ngăn cản quá trình bình định quân
sự và tiến hành khai thác bóc lột trên qui mô lớn của chúng, tô đậm thêm
những trang sử hào hùng của nhân dân Việt Nam nói chung, của nhân dân
Thanh Hóa nói riêng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Do có vị trí lịch sử đặc biệt quan trọng, cho nên từ lâu nay, phong trào
yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa đã được đề cập đến trong rải rác nhiều
công trình và thể loại xuất bản phẩm, cả trong các tài liệu nghiên cứu và tài
liệu thông sử của các tác giả trong và ngoài nước. Những công trình này đã
giúp người đọc phần nào hiểu được những nét cơ bản về diễn biến của phong
trào Cần Vương ở Thanh Hóa, với những cuộc khởi nghĩa và lãnh tụ tiêu biểu
như khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh và các thủ lĩnh nghĩa quân như Phạm
Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao hay
hoạt động của nghĩa quân Cần Vương ở một số căn cứ, một số khu vực riêng
lẻ miền ven biển, vùng đồng bằng, vùng rừng núi. Nhưng nhìn lại, cho tới nay
phong trào chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX vẫn chưa đề 2
cập một cách cặn kẽ, chi tiết để có được cái nhìn tổng thể, thấy rõ vị trí và ý
nghĩa của nó đối với xứ Thanh nói riêng và cả nước nói chung.
Nghiên cứu phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh
Hóa cuối thế kỷ XIX là nhằm làm sáng tỏ một cách toàn diện, hệ thống về quá
trình hình thành và phát triển các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở
Thanh Hóa trong khoảng 10 năm (từ 1885-1895). Những hoạt động tiêu biểu
của nghĩa quân ở các căn cứ và các cuộc khởi nghĩa; xác định mối quan hệ
giữa phong trào của nhân dân Thanh Hóa với phong trào các tỉnh khác. Trên
đến phong trào yêu nước của nhân dân Thanh Hóa với dụng ý xuyên tạc, bôi
nhọ, nhưng trong một chừng mực nào đó cũng phải thừa nhận tầm vóc to lớn
của các sự kiện đó. Trần Lục (cha Sáu), tên thầy tu phản động được thực dân
Pháp phong chức "Khâm sai tuyên phủ sứ" sau khi kéo quân vào Thanh Hóa
cùng bọn xâm lược đánh dẹp phong trào, trong báo cáo gửi cho quan thầy
cũng phải nhận định rằng:
Các huyện như Ngọc Sơn (Tĩnh Gia), Nông Cống, Đông Sơn,
Quảng Xương giặc giã tứ tung, đường chạy trận thì hiểm trở, tướng
giặc đồn tại làng Thạch Đồng, Ổn Lâm thuộc huyện Nông Cống, giả
dân cạo trọc đầu, trắng răng chực toan lấn sang Yên Định, Thọ Xuân,
Quảng Hóa quân giặc thế ngày thêm hống hách [65, tr. 60].
Sách "Đại Nam thực lục chính biên" bộ quốc sử của triều Nguyễn cũng
phải dành tới 11 lần nói về phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa [20, tập 37,
tr. 47; 82; 126; 141; 152; 170; 174; 243-244; 255; 271; 307].
Trước Cách mạng tháng 8-1945, dưới ách thống trị của đế quốc Pháp,
việc nghiên cứu lịch sử các phong trào chống Pháp là điều cấm kỵ. Tuy vậy,
bộ "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim trong các phần viết về "sự đánh
dẹp của các quân quan thực dân" cũng đã gián tiếp nói đến phong trào vũ
trang chống Pháp, nhưng sơ lược và có dụng ý hạ thấp ý nghĩa, giá trị lịch sử
của các phong trào. Đề cập đến phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa, Trần
Trọng Kim chỉ có vài dòng nói về hoạt động của Hà Văn Mao, nhưng lại nhấn 4
mạnh đến các chi tiết phản ánh hạn chế của phong trào như việc nghĩa quân
đốt phá làng đạo, còn các phong trào khác hầu như không được đả đụng tới.
Cũng dưới thời Pháp thuộc, chúng ta biết đến một cuốn sách nói về
khởi nghĩa Ba Đình, đó là sách "Ba Đình truyện ký " của Phan Trần Chúc.
Tuy nhiên, đấy là cuốn sách đầy rẫy những hư cấu văn học, căn cứ khoa học
mỏng manh và phương pháp khảo cứu ít đáng tin cậy.
như một đối tượng của khoa học lịch sử, và nhờ đó đã đạt được những thành
tựu đáng kể, góp phần từng bước làm sáng tỏ các sự kiện, các nhân vật lịch sử
của phong trào lịch sử này.
Nhiều trung tâm nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở Trung ương cũng
như địa phương, nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu lịch sử đã dành sự quan tâm
đối với đề tài nghiên cứu phong trào vũ trang chống Pháp ở Thanh Hóa cuối
thế kỷ XIX. Những thành tựu nghiên cứu được phản ánh trong các luận văn
khoa học, các bài báo, báo cáo khoa học, các công trình thông sử và chuyên
khảo, các giáo trình giảng dạy, các sưu tập sử liệu, văn liệu, các báo cáo điền
dã, trong đó có nhiều công trình đã được xuất bản. Các công trình tiêu biểu
như: "Dự thảo lịch sử cận đại Việt Nam", "Lịch sử 80 năm chống Pháp" [93]
của Trần Huy Liệu; "Chống xâm lăng" [35] của Trần Văn Giàu; bộ giáo trình
"Lịch sử cận đại Việt Nam", 4 tập của tập thể giảng viên trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội, tập II "Lịch sử Việt Nam"; "Lịch sử cận đại Việt Nam" [38] [39]
của Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận; "Lịch
sử Việt Nam" của Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính [83]; "Lịch sử Việt Nam"
tập 2 của Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên), Nguyễn Công Bình, Văn Tạo,
Phạm Xuân Nam, Bùi Đình Thanh; "Lịch sử Việt Nam 1858 - 1896" Viện Sử
học do Vũ Huy Phúc (chủ biên) cùng Phạm Quang Trung, Nguyễn Ngọc Cơ
[159]; "Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay" [25] Những công trình vừa nêu
đã đề cập đến bối cảnh phong trào kháng chiến chống Pháp dưới danh nghĩa 6
Cần Vương, khái quát sự hình thành các căn cứ địa, diễn biến trận chiến và
một số nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của từng cuộc khởi nghĩa của nhân
dân ta nói chung và nhân dân Thanh Hóa nói riêng.
Ngoài ra, còn nhiều luận văn khoa học được đăng tải trên các tạp chí
nghiên cứu lịch sử, các tập san, nội san của khoa Sử các trường đại học: Tổng
hợp, Sư phạm Hà Nội I; một số tư liệu, một số tác phẩm văn học khai thác các
Thanh Hóa tổ chức: "Hội thảo khoa học danh nhân Hà Văn Mao" [67]. Các
cuộc hội thảo này tập trung đánh giá vị trí, vai trò của căn cứ Ba Đình - Mã
Cao, Trịnh Vạn, Điền Lư, cũng như những đóng góp của các thủ lĩnh Phạm
Bành, Đinh Công Tráng, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao trong việc chỉ huy
nghĩa quân, xây dựng căn cứ chống Pháp ở Thanh Hóa.
Chúng tôi rất đồng ý với ý kiến của Đỗ Thị Hảo khi nghiên cứu các
cuộc khởi nghĩa và phong trào Cần Vương - Thanh Hóa là phải nhìn nhận trên
bình diện chung của cả tỉnh:
Nhìn Thanh Hóa là một hậu phương vững chắc, có thể thấy
tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa Ba Đình mà chỉ có những tư
liệu khác trong kho tàng văn nghệ dân gian mới minh họa được
nhiều nét. Ở lĩnh vực này chắc các nhà nghiên cứu folklore lịch sử
sẽ phát hiện được nhiều. Còn nhìn vào kho tài liệu Hán Nôm, nếu
chỉ bằng sử liệu thì sẽ ít gặp những tài liệu trực tiếp ghi chép như
vậy [65, tr. 64].
Cũng theo hướng này chúng ta hãy tìm xem giữa Nguyễn
Xuân Ôn - Nghệ An và Nguyễn Phương ở Thanh Hóa có quan hệ gì
mà lời thơ của ông nghè Diễn Châu viếng Tú Tĩnh lại đề cao ông
này đến như vậy:
Khoa hoạn nhân trung đệ nhất hào
Nghĩa thanh chán nhiếp quỷ phương tào 8
Nghĩa là: Trong đám văn thân đệ nhất ông
Bọn giặc nghe danh phải hãi hùng [65, tr. 66].
Trên các tạp chí Lịch sử quân sự, Nghiên cứu lịch sử, một số bài đã được
công bố như: "Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng tiêu biểu cho phong trào
văn thân 1885-1896" của Trần Huy Liệu; "Về cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh" [111]
của Trịnh Nhu, "Ba Đình làng chiến đấu độc đáo cuối thế kỷ XIX " [7], "Đinh
công bố hay đã công bố mà chưa được sử dụng, hoặc sử dụng mà chưa đúng
tầm quan trọng" [150, tr. 7]. Khi viết về phong trào Cần Vương, ông Yoshiharu
Tsuboi chỉ nhận xét:
Tuy nhiên, ngay khi vua Hàm Nghi tung ra hịch chiếu kháng
chiến vào tháng 7 năm 1885, thì họ (tức nghĩa quân Cần Vương - TG)
liền đoàn tụ lại và xuất hiện như một lực lượng quốc gia. Tuy nhiên
công trình nghiên cứu của phong trào đó có lẽ vượt quá mức giới
hạn của tập sách này [150, tr. 330-331].
Như vậy, chỉ có nền sử học mácxít của dân tộc đã góp phần to lớn trong
việc khôi phục lại bức tranh lịch sử của những sự kiện anh hùng trong quá
khứ, đồng thời khẳng định ngày càng rõ tầm vóc cuộc chiến đấu chống Pháp
của nhân dân Thanh Hóa nói riêng và phong trào chống Pháp của nhân dân cả
nước nói chung. Từ 1980 đến 2000 có các công trình liên quan đến phong trào
này được đánh giá cao là "Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh" của tác giả Đinh Xuân
Lâm và Trịnh Nhu, xuất bản năm 1995; "Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào
kháng Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX", kỷ yếu hội thảo khoa
học, xuất bản năm 1992 và "Địa chí Thanh Hóa", tập I, xuất bản năm 2000 ,
nhưng đều chưa phải là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống
về quá trình hình thành, phát triển cũng như lý giải khoa học về sự thất bại
của phong trào. Mặt khác, tất cả các công trình nêu trên mới chỉ đề cập đến
từng cuộc khởi nghĩa hoặc một phong trào riêng lẻ nào đó, mà chưa nêu được
một cách tổng thể và toàn diện phong trào yêu nước của nhân dân Thanh Hóa 10
cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895), chưa chỉ rõ đặc điểm, vị trí và mối quan hệ
của các phong trào trong tỉnh và các tỉnh khác.
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, đồng
thời dựa vào nhiều nguồn tư liệu lưu trữ ở Trung ương và địa phương, ở thư
viện các trường đại học, ở tỉnh Thanh Hóa và các huyện Nông Cống, Nga
- Trong thời kỳ từ năm 1885 đến đầu năm 1887, luận án tập trung
trình bày các cuộc nổi dậy mang tính chất tự phát ở các địa phương rồi tiến
lên xây dựng căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng và căn cứ Ba Đình.
- Thời kỳ thứ hai từ đầu năm 1887 đến nửa đầu năm 1895, tập trung
phản ánh phong trào đấu tranh của nhân dân Thanh Hóa mà tiêu điểm là cuộc
khởi nghĩa Hùng Lĩnh và phong trào đấu tranh chống Pháp ở miền Tây Thanh
Hóa.
4. Nguồn tƣ liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã khai thác các nguồn tư liệu sau:
4.1. Nguồn tài liệu thành văn
- Tài liệu lưu trữ ở các cơ quan trung ương và tỉnh Thanh Hóa.
- Các bộ sách về địa lý và lịch sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên
soạn:
+ Đại Nam thực lục chính biên, các tập: 27, 36, 37, 38.
+ Đại Nam nhất thống chí, phần ghi về Thanh Hóa.
- Các nguồn tư liệu khác mà chúng tôi đã liệt kê ở tài liệu tham khảo.
4.2. Nguồn tài liệu điều tra thực địa ở địa phương
Bao gồm các gia phả, bản phân chia điền thổ, các loại bằng sắc, văn
tế, một số sách thơ, văn ca ngợi đất nước, con người xứ Thanh. Tài liệu hồi cố, 12
ảnh các dấu tích có liên quan đến đề tài. Trong các nguồn tài liệu trên thì tài liệu
có giá trị nhất là tài liệu thành văn bằng chữ Hán, chữ Pháp đặc biệt là tài liệu điền
dã.
4.3. Một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước về phong trào Cần Vương và phong trào đấu tranh yêu nước của nhân
dân ta cuối thế kỷ XIX.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận của luận án
- Đề xuất một số ý kiến nhằm gìn giữ, tôn tạo các di tích để giáo dục
truyền thống và phục vụ mục đích du lịch lịch sử.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Thanh Hóa trước khi phong trào yêu nước chống thực
dân Pháp bùng nổ (tháng 7 - 1885).
Chương 2: Từ căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng đến khởi nghĩa Ba Đình
(1885-1887).
Chương 3: Khởi nghĩa Hùng Lĩnh - bước phát triển mới của phong
trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa (1887-1895).
Chương 4: Đặc điểm, tính chất và kinh nghiệm của phong trào yêu
nước chống thực dân Pháp ở tỉnh Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.
14
Chương 1
THANH HÓA TRƢỚC KHI PHONG TRÀO YÊU NƢỚC
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP BÙNG NỔ (THÁNG 7-1885)
1.1. VÀI NÉT VỀ VỊ TRÍ CHIẾN LƢỢC, TRUYỀN THỐNG YÊU NƢỚC
CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN THANH HÓA
1.1.1. Về vị trí chiến lƣợc
Thanh Hóa - một tỉnh nằm giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, có vị trí quan
trọng trong lịch sử dân tộc. Do đặc điểm địa lý đó, Thanh Hóa trở thành một
địa bàn hết sức quan trọng về mặt quân sự trong các cuộc chiến tranh.
Xét về mặt địa hình, tỉnh Thanh Hóa có đủ ba vùng miền: vùng núi
rộng lớn chiếm ba phần tư diện tích toàn tỉnh, vùng đồng bằng ven biển và vùng
Như vậy, ở góc độ quân sự, tỉnh Thanh Hóa là một địa bàn lợi hại khi
có chiến tranh hoặc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhất là khi
tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch.
Thực tế lịch sử cho thấy, tỉnh Thanh Hóa có thể vừa là tiền phương
vừa là hậu cứ chiến lược quan trọng trong các cuộc chiến tranh, trong công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Kết luận đó có tính lịch sử tất yếu khách quan trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc:
- Trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thế kỷ I (40- 43) bị thất bại, nữ
tướng Lê Hoa đã lui về ẩn ở vùng Nga Sơn.
- Đô Dương, người làng Giàng, đã lui về quê làm căn cứ chống lại giặc
Ngô. 16
- Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Triệu năm 248 cũng lấy địa bàn Thanh Hóa
làm căn cứ, ở ngay núi Nưa (vùng Triệu Sơn, Nông Cống).
- Dương Đình Nghệ - Ngô Quyền tiến ra Bắc từ Ái Châu.
- Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 xứ quân lấy Thanh Hóa làm hậu cứ.
- Lê Hoàn chống Tống, bình Chiêm cũng lấy Thanh Hóa làm đất căn bản.
- Nhà Lý tiến ra Bắc, lấy Thanh- Nghệ làm đất phên dậu phía Nam.
- Nhà Trần rút lui chiến lược về đây và phản công chiến lược cũng từ
đây.
- Nhà Hồ lui về Thanh Hóa đóng kinh đô ở thành An Tôn.
- Khởi nghĩa Lam Sơn lấy rừng núi Thanh Hóa làm nơi tụ nghĩa, nơi
phất cờ khởi nghĩa (Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước ).
Thời Trung hưng nhà Lê, Nguyễn Kim lui về Thanh Hóa sang đất Lào
lập căn cứ rồi sau đó đánh chiếm Thanh Hóa làm đất căn bản
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Thanh Hóa là nơi
hậu cứ, hậu cần cung cấp và vận chuyển lương thực cho các chiến trường Lào
giặc Ngô dưới sự lãnh đạo của nữ anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh
Bước sang thế kỷ VI, cục diện chính trị và xã hội Giao Châu thay đổi.
Cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế tiến tới thành lập nước Vạn Xuân cho đến
khi tướng Lưu Phương của nhà Tùy đem 10 vạn quân sang đánh phá và lật đổ
vào tháng Giêng năm 603, tính ra tới 61 năm (542-603). Cuộc nổi dậy của Lý
Nam Đế và Lý Phật Tử chỉ quanh quẩn ở vùng châu thổ sông Hồng, không
mấy khuấy động tới Châu Ái, Châu Hoan (vùng Thanh - Nghệ). Chỉ về sau,
khi Lý Nam Đế chết ở động Khuất Lão (Vĩnh Phúc), Lý Thiên Bảo (anh ruột
Lý Bí) mới kéo 2 vạn quân vào Đức Châu (Hà Tĩnh) giết chết Thứ sử Trần 18
Văn Giới, kéo quân ra vây Ái Châu (miền Tây Thanh Hóa giáp Lào) và xưng
là Đào Lang Vương, Thanh Hóa lúc này mới bị khuấy động lên chút ít.
Sự kiện nổi bật ở Thanh Hóa sau Đào Lang Vương là cuộc nổi dậy
của cha con Lê Ngọc: Thái thú Cửu Chân là Lê Ngọc cùng các con trai, con
gái chia binh, đánh thành chống cự lại nhà Đường ở Cửu Chân, mãi sau mới
bị quân Đường đánh bại.
Dưới triều đại nhà Đường, các cuộc nổi dậy giành độc lập trong quận
Giao Chỉ nổi lên liên tiếp như cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên, Đinh Kiến (687),
của Mai Thúc Loan (722), của Phùng Hưng (766 - 792), của Dương Thanh
(819 - 920) và họ Khúc đã dựng được nền tự chủ cho đất nước sau gần một
nghìn năm Bắc thuộc. Trong thời gian này, miền Cửu Chân tương đối yên
tĩnh, các đô thị cổ tương đối phát triển, giao lưu buôn bán với người Hoa, các
hương, các xã được củng cố.
Vào năm 622, nhà Đường lập ra Giao Châu đô hộ phủ, sau đổi thành
An Nam đô hộ phủ (năm 679), chia nước ta thành 12 châu và 59 huyện.
Vào thế kỷ X, nhà Hán cát cứ vùng Quảng Châu (Trung Quốc) trở nên
cường thịnh và có xu hướng bành trướng. Năm 930 quân Nam Hán chia hai
đường thủy, bộ tấn công xâm lược nước ta. Tháng 10 - 930, bọn giặc tấn công
định vương triều Lý.
- Tiền Lê:
Sau khi Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết hại, trước sự
đe dọa xâm lược của nhà Tống, Lê Hoàn được tiến phong ngôi vị, có sự hậu
thuẫn của binh lính và tướng sĩ. Ông đã tiến hành kháng Tống bình Chiêm
thắng lợi, giữ vững nền độc lập dân tộc.
- Nhà Trần coi trọng và sớm thấy vị trí chiến lược quan trọng của xứ
Thanh. Nhân dân Thanh Hóa dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh nhà Trần đã
chiến đấu dũng cảm đánh tan quân Toa Đô từ Nghệ An đánh ra. 20
Sau đó hai vua nhà Trần đã rút lui chiến lược vào Thanh Hóa (vào
ngày 7 tháng 4 năm 1285) từ đạo Hải Đông, chọn Thanh Hóa làm nơi xuất
phát cho cuộc phản công chiến lược cùng 10 vạn quân đang đóng ở Thanh -
Nghệ giành thắng lợi trọn vẹn.
Vai trò của nhân dân Thanh Hóa hết sức to lớn thể hiện trong câu nói
của nhà Trần: "Hoan Ái do tồn thập vạn binh". Ngoài lực lượng toàn dân, có
những đóng góp rất to lớn của các tướng lĩnh xứ Thanh (Chu Nguyên Lương -
Nam Ngạn, Phạm Sỹ, Trịnh Minh - Nga Thiện, Nga Sơn ) mà tiêu biểu là
Trần Bình Trọng với câu nói bất hủ: "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không
thèm làm vương đất Bắc", khẳng định tinh thần quật khởi của dân tộc Việt
Nam chống xâm lược.
- Nhà Hồ thất bại nhanh chóng bởi sự "chính trị phiền hà" - không
được lòng dân. Quân Minh xâm lược giày xéo đất nước ta, tiến hành một chính
sách đồng hóa nham hiểm, với mục đích thủ tiêu nền văn hóa Đại Việt, biến đất
nước ta thành quận huyện của nhà Minh. Có ý kiến cho rằng, 10 năm dưới triều
nhà Minh, với sự hà khắc nghiệt ngã trong chính sách cai trị ấy còn hơn cả nghìn
năm Bắc thuộc, bằng chứng như trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã từng ghi:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
hưởng ứng chiếu Cần Vương đứng lên trực tiếp chiến đấu chống thực dân Pháp
xâm lược.
Điểm lại những sự kiện lịch sử căn bản diễn ra trên địa bàn Thanh
Hóa cho phép chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
- Những sự kiện lịch sử lớn của dân tộc trước phong trào yêu nước
chống thực dân Pháp đều diễn ra trên đất Thanh Hóa.
- Thanh Hóa là nguồn gốc, là nơi phát tích của những vương triều có
thời gian tồn tại lâu dài và có vị trí quan trọng trong lịch sử chế độ phong
kiến Việt Nam.