MỤC LỤC
Trang
A. Phần mở đầu 1
I. Lý do chọn đề tài 1
II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1
1.Mục tiêu 1
2.Phương pháp 2
III. Giới hạn của đề tài 2
IV. Kế hoạch thực hiện 2
B. Phần nội dung 2
I. Cơ sở lý luận 2
II. Cơ sở thực tiễn 3
III. Thực trạng và những mâu thuẫn 3
IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề 4
V. Hiệu quả áp dụng 10
C. Kết luận 10
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác 10
II. Khả năng áp dụng 11
III. Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển 11
Tài liệu tham khảo 13
1
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”. Vì vậy giáo dục trẻ em là một nhiệm
vụ vô cùng quan trọng , là quốc sách hàng đầu mà cả xã hội đều quan tâm. Để
ngày mai thế giới có những chủ nhân tốt, xã hội có những công dân tốt thì ngay từ
ngày hôm nay chúng ta phải đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về tự nhiên xã
hội và có phẩm chất đạo đức của con người để các em được học lên các cấp học
trên dễ dàng. Nhiệm vụ giáo dục học sinh luôn luôn được xã hội quan tâm nhưng
quan trọng hơn cả vẫn là nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học. Bởi vì nhà trường
nói chung và trường tiểu học nói riêng là nơi kết tinh trình độ văn minh của xã hội
- Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
III. Giới hạn của đề tài
Dạy đọc cho học sinh lớp 1 ở trường tiểu học hiện nay nói chung và HS lớp
1 trường Tiểu học An Thạnh 1 nói riêng.
IV.Kế hoạch thực hiện
- Chọn đề tài
- Xây dựng đề tài
- Thu thập thông tin
- Thâm nhập thực tế
- Hoàn thành đề tài.
B. NỘI DUNG
I.Cơ sở lý luận
Trong công cuộc đổi mới giáo dục và thực hiện nghiêm túc chủ chương
chính sách của đảng và nhà nước nói chung của ngành giáo dục nói riêng về việc
nói không với tiêu cực và bệnh thành tích từ năm học 2006-2007 đã thể hiện rất
rõ.Theo thống kê trên toàn quốc nói chung và của các trường tiểu học nói riêng đã
có biết bao học sinh ở lại lớp và học sinh yếu kém ngồi nhầm chỗ. Học sinh bỏ học
do quá yếu không theo học được . Điều đó khiến tôi rất trăn trở làm thế nào để
nâng cao chất lượng học sinh yếu kém giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản
3
ngay từ đầu lớp 1 bởi lớp 1 là nền móng cho sự phát triển của học sinh sau này
với lớp 1 điều quan trọng nhất là đọc, viết được có đọc được tốt học sinh mới hiểu
được nội dung văn bản và lên lớp trên học sinh mới học tốt được các môn học khác
.Mà từ xưa các nhà trường nói chung trường tiểu học nói riêng chỉ chú trọng tổ
chức bồi dưỡng thêm cho học sinh giỏi mà chưa tổ chức phụ đạo riêng cho đối
tượng học sinh yếu đọc chính vì lẽ đó bản thân mỗi giáo viên chủ nhiệm phải có
biện pháp để phụ đạo học sinh yếu của lớp mình .
II. Cơ sở thực tiễn
Đối tượng học sinh của tôi là học sinh lớp Một. Ở lứa tuổi này khả năng tập
trung chú ý của trẻ chưa cao, tư duy chưa phát triển nên việc bồi dưỡng kĩ năng
chuẩn, tôi lập kế hoạch và đưa ra biện pháp giải quyết.
IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề
1. Biện pháp thứ nhất: Giúp giáo viên vận dụng linh hoạt phương pháp dạy
phù hợp với từng đối tượng học sinh; giáo viên cần nhiệt tình quan tâm, giúp
đỡ học sinh.
1.1 Phương pháp dạy học theo nhóm đối tượng
- Tôi đã phân loại học sinh trong lớp thành những nhóm đối tượng như sau:
• Nhóm 1: Gồm những học sinh chậm, yếu
• Nhóm 2: Gồm những học sinh trung bình
• Nhóm 3: Gồm những học sinh khá
• Nhóm 4: Gồm những học sinh giỏi
- Tôi có thể thay tên nhóm 1,2,3,4 thành tên khác như nhóm A,B,C,D…
Trong quá trình dạy giáo viên vẫn phải lấy chuẩn để làm thước đo nhưng ở các tiết
ôn tập, các giờ ôn của buổi chiều giáo viên yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ với
4 mức khác nhau trong cùng một giờ học.
Ví dụ: Nhóm 1 các em đọc nhiều lần hơn, viết ít hơn so với nhóm 3 và 4.
Các dạng bài đọc và viết về vần đều có thể vận dụng phương này. Chẳng hạn bài
46 vần ÔN, ƠN các em chỉ cần viết ôn, ơn, con chồn, sơn ca, mỗi vần, mỗi từ chỉ
một dòng, trong khi đó các em ở nhóm 3, 4 viết nhiều hơn mỗi loại như trên từ 2
đến 3 dòng. Các em ở nhóm 2 chỉ cần viết theo yêu cầu chuẩn.
5
- Tôi thống qua BGH trong các giờ học âm nhạc,thể dục, mĩ thuật…cho
những em học sinh chậm, yếu ở lại phòng học, tôi tiếp tục kèm cho các em đọc nội
dung nào các em còn yếu.
1.2. Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật
thật….cho học sinh học chậm
- Lứa tuổi học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp Một khả năng tư duy trừu
tượng kém, phần lớn các em phải dựa trên những mô hình vật thật, tranh ảnh, do
vậy trong các giờ học việc yêu cầu giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học là không thể
thiếu kể cả đồ dùng do giáo viên tự làm, đồ dùng dạy học là phương tiện chuyển
vào em để nói, ngụ ý động viên khuyến khích nhờ đó em học tốt hơn.
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học giáo viên biết vận dụng khéo léo
tranh, ảnh thì vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh khá giỏi lại
vừa tạo sự hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm.
1.3. Người giáo viên cần có lòng nhiệt tình, luôn quan tâm giúp đỡ học
sinh.
Là giáo viên dạy lớp 1 nên tôi luôn hiểu rằng các em học sinh lớp Một mới
từ mẫu giáo chuyển lên nên việc tiếp thu kiến thức thông qua hình thức: Học mà
chơi, chơi mà học, giáo viên phải nhẹ nhàng ân cần dạy bảo các em luôn tạo không
khí thoải mái, vui vẻ trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các
em thấy tự tin và phấn khởi, sự chỉ bảo ân cần là điều rất cần thiết, tránh quát mắng
các em khi các em làm sai hay chưa làm được. Đặc biệt không được ngồi một chỗ
bảo các em đọc đi, viết đi mà giáo viên phải đi xuống bên học sinh xem em nào đã
làm được còn em nào làm chưa được nhắc nhở các em, chỉ cụ thể cho các em nhất
là với các em học chậm cần nhắc lại hay bắt tay các em để các em viết cho đúng.
Làm sao để mỗi ngày các em đến trường là một ngày vui. Giáo viên phải gần gũi
với học sinh thì mới hiểu được về học sinh của mình, để hình ảnh ân cần của cô
luôn là hình ảnh đẹp trong ánh mắt của các em, bản thân các em cũng thấy cô giáo
như người thân trong gia đình sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui hoặc
những khó khăn của mình trong học tập hay trong sinh hoạt hàng ngày mà cần cô
giúp đỡ.
7
Ví dụ: Em Thành lớp tôi, em đọc rất chậm hay sai, một số chữ đọc hay lẫn
lộn trong 3 tháng đầu năm học. Nhưng tôi luôn đến tận nơi chỉ cho em từng âm ,
từng chữ cho em cùng với lời khen dù chỉ là tiến bộ nhỏ nhất, tôi theo dõi hàng
tháng để xem em đó tiến bộ như thế nào, quả thật đến nay em Thành đã tiến bộ rõ
rệt, đọc đúng âm, chữ cỏn đọc được cả câu.
Tóm lại: Qua việc dạy học phân nhóm đối tượng học sinh tôi nhận thấy nếu
người giáo viên biết lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với từng trình độ học
sinh của một lớp cùng với lòng nhiệt tình, quan tâm giúp đỡ học sinh học chậm thì
thể các tiết ôn tập buổi chiều các em học giỏi, khá tự làm các yêu cầu giáo viên
giao và các em ngồi cùng bàn theo dõi lẫn nhau, khi đó tôi quan tâm đặc biệt tới
những em học chậm theo dõi sát khi các em đọc, viết, cho các em đọc nhiều hơn,
động viên các em mỗi khi các em đọc tốt. Vào các tiết học đàn có thể cho các em
này ngồi tại lớp để hướng dẫn các em đọc nhiều lần. Đối với học sinh đọc yếu này
chúng ta hết sức kiên trì và phải có lòng nhiệt tình.
2.2. Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình như mồ côi, cha mẹ bất
hoà, cuộc sống khó khăn.
- Nguyên nhân này cũng là yếu tố làm giảm chất lượng học sinh, trong quá
trình tìm hiểu thực tế cho thấy nhiều em đến lớp không viết bài, ngồi ngơ ngác có
khi còn ngủ gật, không chú ý cô giảng bài…Đối tượng học sinh này cần được quan
tâm nhiều cả về vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy muốn các học sinh này học tốt giáo
viên phải nắm được hoàn cảnh thực tế của các em từ đó mới có biện pháp cụ thể để
dạy các em.
- Để giúp các em học tập tốt, tôi bàn với BGH, Ban Đại Diện cha mẹ học
sinh của lớp, Hội khuyến học của trường kịp thời giúp đỡ về vật chất như tập sách,
đồ dùng học tập, quần áo…
- Cần động viên các em trong mọi hoạt động nhất là với những em mồ côi,
gần gũi quan tâm các em khi các em bệnh, ốm, tạo không khí thoải mái trong học
tập, để các em thấy cô giáo là người mẹ thứ hai của mình, các em không còn thấy
cô đơn khi tới trường.
Ví dụ: Lớp tôi có em Dương cha mẹ em đều bị bệnh và qua đời, em hay nghỉ
học, đến lớp ngồi một mình không tham gia hoạt động cùng với các bạn, em học
9
kém, hay quên tập vở. Tôi luôn gần gũi, động viên em, khi thấy em nghỉ học không
lí do tôi đến nhà gặp gia đình của em, giúp em cùng chơi và hoà nhập với các bạn.
Đồng thời tôi cho em để một số sách vở ở lớp để em khỏi quên như tập hát, tự
nhiên xã hội, vở bài tập các loại. Một vài lần kiểm tra, tôi thấy em Dương cũng đã
tiến bộ nhiều, em vui hơn khi tham gia chơi cùng bạn bè và không còn ngồi buồn
nữa.
lạc với tôi, kì họp phụ huynh lần hai cha mẹ các em đi đầy đủ. Sau một thời gian
tôi thấy 4 học sinh đó có tiến bộ rõ rệt, cho đến nay cả 4 em đều học khá tốt.
Tóm lại: Giáo viên cần giữ mối liên hệ thường xuyên với phụ huynh học
sinh, cần nhiệt tình, mềm dẻo trước những phụ huynh khó tính, phải thường xuyên
trao đổi và tư vấn cho phụ huynh hiểu được quá trình học tập của các em tốt phải
có sự hỗ trợ quan tâm từ phía gia đình.
V. Hiệu quả áp dụng
Sau gần hết một năm học theo dõi và giúp đỡ các em học chậm trong quá
trình dạy học môn Tiếng Việt đọc, tôi nhận thấy chất lượng môn Tiếng Việt đọc
lớp tôi đã được nâng lên, kết quả cuối HKI và Giữa học kì 2- 2/2012, cụ thể như
sau:
C. KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài
Mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo con người cho ngày hôm nay và cho mai
sau là làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng tạo và thực
hành giỏi, muốn thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên trong nhà
trường nói chung và trường tiểu học nói riêng phải chú trọng đặc biệt ngay ở khối
lớp Một bởi vì lớp Một là lớp quan trọng nhất ở khối tiểu học, hết lớp Một các em
phải đọc, viết thành thạo thì các em mới làm tính nhanh và học lên lớp trên có chất
Học kì I Giữa học kì II
Tổng số Tỉ lệ Tổng số Tỉ lệ
Học sinh đọc, viết Giỏi 24 70,6 24 70,6
Học sinh đọc, viết khá 6 17,6 8 23,5
Học sinh đọc, viết trung bình 4 11,8 2 5,9
Học sinh chưa đọc, viết được 0 0 0 0
11
lượng. Chất lượng dạy và học chính là thước đo giá trị của nhà trường, để mục
đích cuối cùng tạo một nguồn nhân lực bao gồm những con người có đức có tài,
ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về văn hoá. Để hoàn thành
nhiệm vụ này người giáo viên phải tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi và có biện
Tôi hy vọng với kết quả đạt được ở trên sẽ góp phần nhỏ bé nâng dần chất lượng
dạy và học của nhà trường ngày một tốt hơn.
Sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn thành, xin chân thành cảm ơn sự phối
hợp thống nhất, sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu nhà trường và các đồng
nghiệp.
An Thạnh, ngày 09 tháng 4 năm 2012
Người viết
Hội đồng xét duyệt của trường
Xếp loại:……………
CTHĐ
13
Tài liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 1-tập 1, tập 2 – NXB Giáo Dục - Năm 2002
2. Chuẩn kiến thức,kĩ năng Tiếng Việt 1-NXB Giáo Dục – năm 2009
3. Sách bài soạn Tiếng Việt 1- Tập 1,2- NXB Giáo Dục – năm 2002
4. Dạy học vần hiệu quả mà vui – SGD & ĐT Đồng Tháp – năm 2011
14
15