1 CASE STUDY
KINH DOANH QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn: TS. VŨ THẾ DŨNG
Thực hiện: NHÓM 6
Thành viên nhóm:
1.Vũ Công MSHV: 09170696
2. Nguyễn Huy Hoàng MSHV: 1017077
3. Võ Văn Sĩ MSHV: 11170829
4. Hồ Văn Thiền MSHV: 11170844
5. Trần Thị Hiếu Thuận MSHV: 11170851
6. Đỗ Vĩnh Toàn MSHV: 11170855
7. Lữ Văn Trường MSHV: 11170871
8. Nhan Dư Điền Văn MSHV: 11170886
9. Nguyễn Thị Oanh Vũ MSHV: 10170976
10. Nghiêm Xuân Vũ MSHV: 11170892
2
Airbus và các vấn đề đạo đức
Vào một ngày tháng 9, một đoàn thanh tra chống gian lận do quan tòa người Bỉ
Jean-Claude Van Espen đã đến trụ sở của Airbus tại Toulouse. Người phát ngôn của Van
Espen cho biết “Đoàn thanh tra muốn kiểm tra có hay không việc làm giả tài liệu, đưa hối
thống và không có vấn đề gì. Nhưng nhiều hợp đồng không như vậy. Rất nhiều hãng
hàng không thuộc sở hữu nhà nước và không tuân theo các quy tắc thương mại truyền
thống. Những khoản tiền hoa hồng (hợp pháp hoặc không hợp pháp) trong những hợp
đồng giá trị nhiều triệu USD làm tăng chi phí vốn của máy bay, do đó làm tăng khấu hao
hoặc phí mà khách hàng phải trả hoặc cả hai.
Các cuộc thương thảo mua máy bay thường được kéo dài nhiều năm trong một
cuộc chơi giữa các hãng hàng không cùng với Airbus và Boeing. Đặc biệt trong thị
trường người mua do người mua quyết định, các nhà sản xuất thường phải cung cấp
những khoản chiết khấu lớn, gói bảo hành bắt buộc cho việc vận hành và các loại ưu đãi
khác (như đổi máy bay, các chế độ bảo hành riêng) để thuyết phục các hãng hàng không
chọn mua máy bay của họ.
Không ngạc nhiên khi yếu tố chính trị là một phần trong cuộc chơi của ngành vận
tải hàng không quốc tế. Ví dụ, ngay sau khi hãng Air Mauritus mua một số máy bay
Airbus A340 vào năm 1994 thì hãng đã nhận được một gói “nâng cấp” từ sân bay Paris
Orly sang sân bay Charles de Galle - là sân nhà của hãng Air France với khả năng nối
chuyến bay tốt hơn.
Việc mua máy bay từ lâu liên quan đến nhiều tranh cãi. Vào thập niên 1970, khi
mà Lockheed vẫn còn sản xuất máy bay dân dụng, hãng này đã bị bắt quả tang về việc
đưa hối lộ cho chính quyền Nhật Bản để mua máy bay thân rộng L1011. Thủ tướng Nhật
Bản đã bị buộc tội sau đó và bị bỏ tù trong năm 1983 vì nhận hối lộ. Hoàng tử Bernhard
của Hà Lan cũng bị thất sủng vì sự liên quan của ông ấy với Lockheed. Vụ bê bối này
dẫn đến 1977 Quốc Hội thông qua chương trình hành động đối với việc đưa hối lộ nước
ngoài (FCPA), cấm các công ty Mỹ, các quan chức của các công ty hoặc những nhà đại
diện công ty đưa hối lộ cho quan chức nước ngoài.
Các nhà chỉ trích đã chỉ ra rằng các công ty Mỹ có thể lách FCPA bằng việc sử
dụng các công ty con và ở nước ngoài và các quốc gia để đưa hối lộ. Boeing nói rằng
chính sách của họ là theo tinh thần và nội dung của FCPA, rằng hệ thống kiểm soát của
4
họ đảm bảo nhân viên tuân thủ với chính sách này, và không có nhân viên Boeing này vi
5
chúng tôi đi đến những chính quyền bạn đưa hối lộ và bảo với các quan chức họ rằng
chúng ta không chấp nhận về việc hối lộ như thế" ông ấy viết. Dường như theo cách này
(và là một thương thảo về bán hàng trực tiếp từ Bill Clinton đến Vua Fahd) đưa đến một
phần thỏa thuận giữa Boeing và McDonnell Douglas.
CÁC KHOẢN “LÓT TAY” CHO NGƯỜI KUWAIT?
Tuy nhiên, không phải NSA biết mọi thứ về ngành công nghiệp sản xuất máy bay
như nó thực sự diễn ra. Hãy xem xét lịch sử một đơn đặt hàng dành cho Airbus được đặt
bởi Kuwait Airways Corporation (KAC), một hãng hàng không thuộc sở hữu nhà nước.
Vào tháng 11 năm 1995, Reuter đưa tin rằng các công tố viên Kuwaiti đã đặt câu
hỏi với Bader Mallalah, giám đốc tài chính KAC tại thời điểm đó, về các cáo buộc tham
nhũng chống lại ông bởi chính KAC. Chủ tịch tập đoàn, Ahmed al Mishari, đã đình chỉ
công tác của Mallalah từ tháng trước. Nhưng KAC đã vượt qua được những lời cáo buộc
chống lại Mallalah để che đậy câu chuyện tham nhũng mà sau này chính chủ tịch tập
đoàn cũng có liên quan.
Chính xác là câu chuyện đã bắt đầu từ 5 năm trước tại Cairo, nơi KAC thiết lập trụ
sở tạm thời sau cuộc xâm lược Kuwait của Iraq vào tháng 8 năm 1990. Hầu hết máy báy
của hãng bị mất hoặc hư hỏng, vì thế al Mishari đã lên kế hoạch thành lập một hệ thống
mới sau chiến tranh. Tất nhiên, cả Boeing và Airbus đều được đấu thầu. Cả hai tập đoàn
đóng vai trò chính trị trong sự chọn lựa của KAC, đặc biệt là sau khi một liên minh do
Mỹ dẫn đầu đã giải phóng Kuwait.
Không lâu sau khi giải phóng Kuwait, Boeing và KAC đã gặp nhau tại London.
Một người có mặt đã nói rằng al Mishari đã ấn tượng và cho rằng đơn đặt hàng sẽ là của
Boeing. Hơn nữa, đến thời điểm đó các công ty Mỹ đã giành được hầu hết các hợp đồng
tái thiết lớn từ một chính phủ chịu ơn.
Airbus lại hy vọng khác. Năm 1991, ngay trước thềm Hội chợ Triển lãm Hàng
không Paris, Jean Pierson, khi đó là ông chủ của Airbus, đã gặp al Mishari tại khách sạn
chấp thuận của chính quyền địa phương.
Còn có nhiều thứ khác hơn 1 bản hợp đồng. Airbus đã chuyển thêm tổng cộng
450,000 USD từ năm 1992 đến 1994 để lo các chi phí thành lập và hoạt động của
ALAFCO. Vào ngày 15 tháng 12 năm 1992, ALAFCO bổ nhiệm 1 cố vấn thương mại
bán thời gian, Mohamed Habib El Fekih, quốc tịch Tunisi. Ông ấy khi đó là quản lý bán
7
hàng khu vực Trung Đông cho Airbus. Trong bản hợp đồng thuê người của ALAFCO,
một bản sao của bản hợp đồng tờ Economist lấy được, hiệu lực trong 3 năm từ tháng 1
năm 1993, El Fekih đã nhận được 5000 USD một tháng và 80,000 USD được chi sau vì
đã “phục vụ” cho ALAFCO từ ngày 1 tháng 2 năm 1990-31 tháng trước khi ALAFCO
hợp nhất - đến 31 tháng 12 năm 1992. 5000 USD được chi trả mỗi tháng từ tài khoản
ALAFCO 2001-901-04 tại ngân hàng thương mại Kuwait ở New York đến tài khoản cá
nhân của El Fekih tại chi nhánh Credit Lyonnairs ở Blagnac, Pháp, 1 trung tâm khác của
Airbus ở ngoại ô Toulouse.
Năm 1993, ba trong số 9 máy bay này, tất cả đều là máy bay chuyên chở hàng hóa,
đã sẵn sàng để giao. Tuy nhiên, Mallalah, giám đốc điều hành ALAFCO, quả quyết rằng
giao dịch đó phải tuân theo các quy trình chính thức của Kuwait. Điều này có nghĩa là
phải có đấu thầu cạnh tranh giữa Airbus và Boeing. Không ngạc nhiên khi Airbus – với
một “gián điệp” là phó chủ tịch El Fekih đã biết và đáp ứng đúng như cấu hình chào thầu
của Boeing, sau khi Boeing ra giá rẻ hơn 50 triệu. Khi không có sự khác biệt giữa các
cấu hình chào thầu, ALAFCO đã chọn Airbus vì phi đội KAC hiện nay chủ yếu là các
máy bay Airbus (nhằm giảm chi phí vận hành).
Hợp đồng này dễ dàng qua mặt hội đồng quản trị của FAC và Bộ tài chính. Tuy
nhiên, khi Mallalah đã cung cấp cho ủy ban giám sát ở Kuwait đầy đủ chi tiết đơn hàng
của ALAFCO về các máy bay chở hàng này, ủy ban đã từ chối phê chuẩn hợp đồng này.
Các cố vấn kết luận vào đầu năm 1995, rằng việc mua bán các máy bay chở hàng này
không chính đáng. Bộ tài chính yêu cầu KAC không được tiếp tục. Sau khi Mallalah đệ
trình 1 báo cáo cho hội động quản trị KAC về sự việc trên, El Fekih đã từ chức
ALAFCO vào tháng 3 năm 1995.
(FIR). Cơ quan này đã tiến hành điều tra những tin đồn rằng Airbus đã hối lộ những quan
chức cấp cao và những người khác giúp thuyết phục Hãng Hàng Không Ấn Độ đặt hàng
của họ.
Vào tháng 03/1986, IA đã đặt hàng 19 Airbus A320, trị giá 952 triệu đôla, cùng
với một quyền mua thêm 12 chiếc, sẽ thực hiện hợp đồng sau. Đơn hàng này vẫn được
thực hiện mặc dù thực sự là khi IA thành lập Hội đồng xét duyệt sản phẩm thay thế cho
hạm đội Boeing đã lỗi thời vào năm 1983, A320 đã không được xét đến, nó thậm chí đã
chưa được khởi động hay cất cánh. Với sự phê chuẩn của chính phủ Ấn Độ, IA đã đặt cọc
cho 12 chiếc máy bay lớn với thân hẹp Boeing 757.
9
Một vài quan chức công và quan chức IA được nêu tên trong báo cáo thông tin đầu
tiên (FIR). Một người không có trong danh sách là Rajiv Gandhi, thủ tướng Ấn Độ nhiệm
kì 1984-1989, người bị ám sát bằng bom vào tháng 05/1991
Cuộc điều tra của CBI tiến triển như thế nào trong 13 năm liền? Hầu như không có
chút tiến triển nào mặc cho sự theo đuổi của CBI tại tòa án cấp cao Delhi từ năm 1998
bởi B.L Wadehra, một luật sư chống tham ô tại Delhi. Tờ tạp chí Kinh tế Economist đã
xem xét tài liệu của tòa án đã được công bố - những báo cáo tiến độ của CBI về cuộc điều
tra của cơ quan này vẫn là bí mật theo vụ kiện của Waterhra
Những bài báo này tuyên bố, đầu tiên, vào tháng 10/1984, vài tuần trước khi
Ganhdi, một cựu phi công, kế tục sự nghiệp của mẹ mình, IA nhận một đơn chào hàng từ
Airbus cho máy bay loại A320, nhỏ hơn và rẻ hơn Boeing 757. Họ yêu cầu sự xem xét
đơn chào hàng này gấp. Thứ 2, vào tháng 11, Bộ Hàng không chỉ cho IA 3 ngày để đánh
giá đơn chào hàng cho văn phòng của Ganhdi.
Rất lâu sau đó, năm 1990, Tờ Indian Express báo cáo một bản thảo bị rò rỉ chỉ ra
rằng Ganhdi đã quyết định tại cuộc họp ngày 02/08/1985, rằng IA nên tiếp tục sử dụng
loại máy bay Airbus A320
Hồ sơ thư tín của Gandi về giao dịch này biến mất một cách bí ẩn. Trát tòa án chỉ
ra rằng các quan chức công đã khôi phục lại 29 trang của tập tài liệu bị mất cho CBI bằng
cách xin bản sao thư từc từ các cơ quan chính phủ. Đáng ngạc nhiên là việc này mất đến
không hợp tác.
Tình huống của Wadehra bây giờ là vấn đề mang tính thời sự, bởi vì vào tháng 3
năm ngoái, Ban giám đốc IA đã chấp nhận đơn đặt hàng 43 máy bay Airbus, trị giá
khoảng 2 tỷ USD. Đơn đặt hàng này bây giờ cần chính phủ đồng ý. Tuy nhiên, vào tháng
9, năm 2000, Tòa án Delhi phán quyết rằng Chính phủ không nên chấp nhận mua máy
bay thêm từ Airbus cho đến khi CBI có được thông tin mà CBI muốn từ người Pháp.
Cốt lõi của câu chuyện IA nói lên rằng đã không có sự nỗ lực nghiêm túc nào để
xác minh có hay không chuyện Airbus đã chi trả tiền “bôi trơn” cho Gandhi và các cộng
sự. CBI đã không trả lời câu hỏi này bằng văn bản.
CÁC KHOẢN BÔI TRƠN VÀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
Tuy nhiên có một số lực lượng cảnh sát tỏ ra giải quyết tốt hơn và có năng lực hơn
so với CBI. Một vụ quan trọng đã chứng minh được là Airbus đã trả “ Hoa hồng “ cho
các các cá nhân giấu mặt đằng sau các công ty trong thẩm quyền ( nhà nước ) nơi mà
11
quyền sở hữu của các công ty không được công bố công khai, và là nơi các bí mật ngân
hàng ghiêm ngặt được áp dụng.
Đơn hàng lớn đầu tiên của Airbus tại bắc mỹ là một thương vụ trị giá 1.5 tỷ USD,
được ký kết năm 1988 bán 34 máy bay cho hãng hàng không nhà nước Canada. Người
trung gian là Karlheinz Schreiber, một người Canada gốc Đức với sự móc nối của các
chính trị giá ở Đức và Canada, Schreiber đã nổi lên như một sự tượng trưng trong bê bối
tài chính đã hủy hoại Đảng dân chủ thiên chú giáo Đức và Chính trị gia hàng đầu, Helmut
Kohl, một vị tướng cũ, vào cuối thập niên 1990.
Vào tháng 8, năm 1999 Cảnh sát cưỡi ngựa hoàng gia Canada, đã tiến hành lệnh
bắt giữ một người Đức, Schreiber. Vào năm 2000, Schneiber bị buộc tội tại Đức với hành
vi trốn thuế cho khoản tiền mà ông đã nhận được từ giao dịch của Airbus và các giao dịch
khác. Tờ nhật báo của Đức Süddeutsche Zeitung đã cung cấp một bản sao bản cáo trạng
của Schreiber cho thời báo The Economist. Theo như tài liệu này, Airbus đã ký một hợp
“Stewardess” nhận được khoảng một phần tám của những khoản hoa hồng này. Cuốn
sách này cho rằng tài khoản này là để dành cho ông Stuart Iddles, phó chủ tịch cấp cao
của Airbus nhiệm kỳ 1986 – 1994.
Vợ của ông Iddles đã mua căn biệt thự Casa Las Estacas, một căn biệt thự xa xỉ
hướng mặt ra biển ở vùng Puerto Vallarta, Mexico vào tháng 9 năm 1992. Các tư liệu của
tờ Thời báo Kinh tế cho thấy trị giá của căn hộ này là 1.5 triệu USD. Theo một người có
tham gia vào vụ mua bán này, số tiền được trả từ tài khoản có tên Ciclon Foundation ở
một ngân hàng Anh, Lloyds chi nhánh tại Zurich. Bà Iddles xác nhận là đã mua căn biệt
thự này vào năm 1992 nhưng bà bảo rằng bà không rõ trị giá của nó là bao nhiêu và tiền
được trả từ ngân hàng nào. Ông Iddles bác bỏ tất cả các hành vi sai sót. Airbus cho biết
họ không hề bị buộc tội trong bất kỳ phiên tòa nào liên quan đến phi vụ hàng không
Canada hay bất kỳ phi vụ nào khác. Họ cũng nhấn mạnh rằng không có điều tra viên nào
phát hiện có hành vi phạm pháp nào từ phía họ.
NHỮNG VỤ BÊ BỐI Ở SYRIA
Chỉ một vụ rõ ràng Airbus cấu kết với trung gian để hối lộ quan chức nhà nước
mua máy bay của họ bị kết án. Theo thông tấn xã Syria, có ba người bị buộc tội ở Syria
vào tháng 10 năm 2001 với 22 năm tù giam mỗi người (sau đó giảm xuống còn 10 năm)
do “vi phạm nghiêm trọng” trong đơn đặt hàng của nhà nước mua 6 chiếc Airbus A320
13
vào năm 1996. Tòa án cũng tuyên phạt 3 người này số tiền 268 triệu USD. Họ là một cựu
Bộ trưởng bộ Kinh tế, cựu Bộ trưởng bộ Giao thông vận tải, và Munir Abu Khaddur, kẻ
trung gian. Khaddur bị tuyên án trong tình trạng vắng mặt và được báo cáo là đang ở Tây
Ban Nha. Tòa án phát hiện thấy những ba người này đã buộc hãng hàng không mua máy
bay với tổng trị giá là 240 triệu USD, và kết cuộc là Hàng không Syria đã chịu “những
thất thoát tài chính nặng nề”.
Chỉ có thể đưa ra kết luận là hoặc là tòa án đã xử sai hoặc là đã có hối lộ. Nếu là
có hối lộ, thông tấn xã đã không đưa ra chi tiết là những người đàn ông này đã sử dụng
Airbus đã thuyết phục khách thư ký thương mại Patricia Hewitt cho phép họ giữ bí mật
các chi tiết của các trung gian được sử dụng để bảo đảm các hợp đồng quốc tế.
Bà ấy đã gạt qua một bên những lời khuyên của các quan chức chính phủ Anh, những
người đã lập luận rằng những người trung gian này thường sử dụng kênh hối lộ các chính
trị gia và các quan chức nước ngoài để giành các hợp đồng. Phòng bảo lãnh tín dụng xuất
khẩu của chính phủ (ECGD) đã đề nghị các nhà xuất khẩu phải tiết lộ danh tính của trung
gian khi họ áp dụng hỗ trợ tài chính từ người nộp thuế. Chính phủ yêu cầu chi tiết hơn
các biện pháp để ngăn chặn các hoạt động chuyển tiền hối lộ ra nước ngoài của các công
ty Anh.
Theo tài liệu được phát hành bởi các ECGD theo yêu cầu công khai thông tin từ The
Guardian (một tờ báo Anh) và một phiên tòa gần đây. Biên bản cuộc họp ngày 09 tháng
tám Năm 2004, cho thấy ba công ty nói với ECGD rằng thông tin về những người trung
gian là "rất nhạy cảm về thương mại ". Biên bản này tiếp tục : "Mạng lưới các đại lý /
trung gian là một tài sản có giá trị xây dựng trên một số năm và được cung cấp lợi thế
thương mại quan trọng chẳng hạn như có thể mở cửa ra vào. . Các trung gian có thể có
lý do hợp lệ và chính đáng muốn được giấu tên. "
Các công ty tuyên bố rằng tên của các đại lý sẽ bị rò rỉ từ các ECGD, cho phép các
đối thủ cạnh tranh ăn cắp thông tin .Hewitt đã đồng ý rằng các công ty không phải cung
cấp tên hay địa chỉ của các trung gian này, cung cấp cho các công ty đưa ra những giải
thích.
Tại một cuộc họp vào ngày 07 tháng 10, các công ty muốn "xác nhận rằng bí mật
thương mại sẽ được chấp nhận như là một lý do hợp lý không xác định các đại lý của
mình." Hewitt đã buộc phải xem xét lại các quy tắc chống hối lộ vì một thắng lợi pháp lý
của những người vận động chống tham nhũng - nhóm Corner House. Susan Hawley thay
mặt cho nhóm cho biết: "Xác định được người trung gian là rất quan trọng trong việc
15
ngăn chặn tham nhũng, nếu không thì người nộp thuế sẽ trực tiếp hỗ trợ hối lộ”. BAE bị
cho là đã chi trả các khoản hối lộ thông qua trung gian ở Ả-rập Xê-út, Qatar, và Ấn Độ.
Rolls-Royce bị cáo buộc trả 15 triệu bảng để giành chiến thắng một hợp đồng ở Ấn Độ.