Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn:
- UBND Thị xã Từ Sơn - Ban quản lý các khu công nghiệp, UBND phờng
Đồng Quang, các cụ trong ban Di tích, ban Khánh tiết làng Đồng Kỵ, phờng Đồng
Quang, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Trởng gia tộc họ Dơng - Dơng Thế Tuyến, Trởng gia tộc họ Vũ - Vũ Văn
Cận, Trởng gia tộc họ Nguyễn - Nguyễn Văn Tý, Cụ từ đình Vũ Văn Trang, Cụ từ
đền Nguyễn Văn Điệp, Trụ trì chùa Đồng Kỵ.
- Bác Vũ Văn Quý - Giám đốc Công ty Hng Long, bác Vũ Đức Thắng - Giám
đốc Công ty Đức Thắng.
- Bác Nguyễn Văn Xiềm - nghệ nhân làng nghề mộc Vạn Điểm, bác
Nguyễn Thị Vui - chủ nhiệm HTX sơn khảm Ngọ Hạ (Chuyên Mỹ), Phú Xuyên,
Hà Nội.
Và đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hớng dẫn: Thạc
sỹ Phùng Thị Thanh Hiền đã giúp đỡ, động viên, góp ý và chỉ bảo tận tình để em
có thể hoàn thành khóa luận này.
Ngoài ra, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa, bạn
bè cùng lớp và cùng khóa; các trung tâm thông tin th viện: Th viện Quốc gia Việt
Nam, Th viện Bắc Ninh đã giúp em rất nhiều trong quá trình hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Hoa
bảng ký hiệu chữ viết tắt
- UBND : ủy ban nhân dân
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
- LNTT : Làng nghề truyền thống
- CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- NXB : Nhà xuất bản
- TP : Thành phố
- TS : Tiến sĩ
Phần Mở Đầu
Kỵ (Đồng Quang - Từ Sơn - Bắc Ninh) và tiềm năng phát triển Du lịch làng nghề.
- Xây dựng tour Du lịch có điểm đến là làng nghề chạm khảm gỗ Đồng Kỵ.
- Hiện trạng và giải pháp bảo tồn, phát triển nghề, làng nghề nói chung và
phục vụ Du lịch nói riêng.
4. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp thu thập tài liệu: tác giả đã thu thập tài liệu từ các nguồn: Th
viện Quốc gia Việt Nam, Th viện tỉnh Bắc Ninh, Ban quản lý các khu công nghiệp
thị xã Từ Sơn, UBND phờng Đồng Quang, Ban Quản lý di tích làng Đồng Kỵ (Từ
Sơn - Bắc Ninh); một số nhà sách tại Hà Nội và đặc biệt là một số tài liệu do những
ngời thợ có bề dày kinh nghiệm của làng nghề chạm khảm gỗ Đồng Kỵ cung cấp.
- Phơng pháp khảo sát thực địa và đánh giá tổng hợp tài liệu: Tác giả đã tiến
hành một số đợt khảo sát thực địa tại địa bàn thôn Đồng Kỵ - phờng Đồng Quang
(Từ Sơn - Bắc Ninh) nhằm so sánh, đối chiếu giữa những tài liệu đã thu thập đợc
với thực tế, từ đó tổng hợp tài liệu theo đúng hớng mục đích nghiên cứu đã đề ra.
1
()
Lê Hồng Lý; Văn hóa truyền thống làng Đồng Kỵ; Viện nghiên cứu Văn hóa dân gian; Hà Nội. 2000
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
Tác giả cũng đã chụp một số bức ảnh để minh hoạ và làm phong phú hơn cho bài
khoá luận tốt nghiệp này.
- Phơng pháp phỏng vấn trực tiếp: Tác giả đã gặp gỡ và phỏng vấn trực tiếp
những thợ lành nghề, có nhiều kinh nghiệm trong nghề chạm khảm gỗ, các cụ
trong Ban quản lý Di tích làng Đồng Kỵ, đại diện chính quyền địa phơng (phờng
Đồng Quang) và những ngời thợ làm việc tại các xởng nghề.để tìm hiểu một cách
chính xác và cặn kẽ hơn về làng nghề; từ đó đề xuất những giải pháp để bảo tồn và
phát triển làng nghề phục vụ Du lịch.
- Phơng pháp khảo sát và so sánh: Tác giả đã khảo sát làng nghề mộc Vạn
Điểm, làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ - Phú Xuyên - Hà Nội để so sánh và thấy đ-
ợc nét khác biệt cũng nh sự nổi bật của làng nghề chạm khảm gỗ Đồng Kỵ.
hoá nổi tiếng hoặc có khối lợng hàng hoá lớn, có vai trò nhất định đối với thị trờng
trong nớc và quốc tế, có số đông ngời trong làng cùng làm một hoặc nhiều nghề,
dân làng sống chủ yếu bằng nghề đó. LNTT trớc hết phải là làng nghề nhng đã có
lịch sử tồn tại lâu đời, đến nay vẫn sản xuất một hay nhiều mặt hàng truyền thống
có giá trị trên thị trờng trong nớc và quốc tế.
Định nghĩa này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó là những làng nghề
nổi tiếng từ hàng nghìn năm. Theo các nhà nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu
dân số và nguồn lao động thuộc Bộ lao động - Thơng binh - Xã hội, làng nghề đợc
hiểu nh sau:
Làng nghề là làng ở nông thôn có một nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra
khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập, có khoảng 20% số hộ trở lên chuyên
làm một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệp, các hộ có thể sinh sống bằng
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
chính nguồn thu nhập từ nghề đó (thu nhập nghề chiếm trên 50% thu nhập của
các hộ) và giá trị sản lợng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lợng của địa
phơng (thôn, làng).
Nội dung trên đây chỉ là khái niệm mang tính tơng đối xét về mặt định lợng.
Vì mỗi loại nghề khác nhau thì các tỷ lệ nói trên cũng khác nhau. Qui mô về số hộ
và số lao động của làng cũng chênh lệch nhau. Theo năm tháng phát triển của nghề
và làng nghề thì số lợng hộ và lao động cũng biến đổi theo.
1.1.2 Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời. Trong đó
sản phẩm của làng nghề là những hàng thủ công đợc lu truyền qua các thế hệ hàng
trăm năm (trớc thế kỷ XIX), vẫn đợc duy trì nguyên kiểu dáng và kỹ thuật truyền
thống cho đến ngày nay.
Sự khôi phục và phát triển của làng nghề truyền thống trong những năm gần
đây đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Sản phẩm của nghề thủ công
không chỉ ngày càng chiếm lĩnh đợc thị trờng trong nớc mà còn có uy tín cao với
thị trờng ngoài nớc, thu hút đợc nhiều khách du lịch đặc biệt là khách quốc tế.
Nhiều công ty kinh doanh du lịch đã sớm khai thác thành công loại hình du lịch này -
việc, thờng thì chỉ những ngày đầu vụ hay cuối vụ thì ngời nông dân mới có nhiều
việc: cày bừa, cấy cho đến gặt lúa, phơi khô những ngày còn lại nhà nông rất nhàn
hạ, ít việc để làm. Từ đó, nhiều ngời bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ nhằm tạo
ra những sản phẩm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày và tăng thêm thu
nhập cho gia đình.
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện đợc vai trò to lớn của nó.
Từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng nay đã trở thành hàng hóa để trao đổi, mang lợi
ích kinh tế to lớn cho ngời dân vốn trớc đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ
một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề thủ công
từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng tới các làng lân cận. Bởi thế mà trong
mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh
dần, ngợc lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng dần dần bị
mai một. Các làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất dần đợc hình thành nh:
làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng và theo xu thế phát triển
chung, những nghề thủ công ngày một phát triển mạnh mẽ, tách khỏi sản xuất nông
nghiệp. Trong đó, một số nghề thủ công đã nổi lên với kỹ thuật tinh xảo cùng với
đó là tầng lớp thợ lành nghề. Họ có thể kiếm sống bằng chính nguồn thu nhập từ
nghề nghiệp của bản thân, bằng sự sáng tạo ra những sản phẩm do chính đôi bàn
tay tài hoa, khéo léo.
Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh đợc
các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trớc đây và thờng tập trung
chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn nh châu thổ sông Hồng (Hà Nội, Bắc Ninh,
Thái Bình, Nam Định).
Nghiên cứu các di chỉ khảo cổ thời Hùng Vơng, các nhà khảo cổ còn cho
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
thấy Việt Nam hiện có khoảng 200 loại sản phẩm thủ công truyền thống. Nhiều
trong số đó có lịch sử phát triển lâu đời từ những giai đoạn đầu của sự phát triển xã
hội văn hóa nông nghiệp của đất nớc nh: lụa Hà Đông có hơn 1.700 năm lịch sử
phát triển, gốm Bát Tràng có hơn 500 năm lịch sử, mây tre đan Phú Kinh cũng có
hơn 700 năm lịch sử. Nhìn chung, các nghề thủ công của nớc ta đợc hình thành từ
mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã mở ra một chân trời mới cho nền kinh tế n-
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
ớc nhà; Đảng và Nhà Nớc ta đặc biệt quan tâm tới ngành thủ công truyền thống,
ban hành nhiều chính sách, chế độ để động viên, khuyến khích, đẩy mạnh tăng gia
sản xuất nông nghiệp đi đôi với trồng cây công nghiệp tạo nguồn nguyên liệu phát
triển nghề thủ công truyền thống. Cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã đi
qua nhng hậu quả mà nó để lại thật nặng nề, gây ra nhiều khó khăn cho đất nớc
trên mọi lĩnh vực đặc biệt là kinh tế. Để duy trì và phát triển, việc sản xuất tại các
làng nghề đã phải trải qua nhiều biến đổi phù hợp với chiến lợc phát triển kinh tế
thời chiến là sản xuất đơn lẻ, quản lý theo hộ gia đình đợc thay thế bởi các hợp tác
xã thủ công với cơ cấu tổ chức và phân công lao động chặt chẽ. Sản xuất đợc mở
rộng không chỉ góp phần ổn định, nâng cao đời sống, đáp ứng nhu cầu của xã hội
mà còn đảm bảo kế hoạch xuất khẩu sang các nớc trên thế giới.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc, nhờ chủ trơng đổi mới,
các ngành thủ công đã dần đợc phục hồi và phát triển, đáp ứng định hớng chuyển
dịch cơ cấu theo hớng CNH - HĐH nông nghiệp. Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp
ngày càng đa dạng và có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Tại các làng
nghề truyền thống đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp làm ăn có quy mô lớn, nhiều
ngành nghề đã hội nhập đợc với tiến độ sản xuất của các nớc lân cận và trong các
nớc trong khu vực, không ít ngời thợ đã trở thành những ông chủ lớn. Nhiều làng
nghề cổ truyền đã biến thành những trung tâm sản xuất mạnh. Bộ mặt và lối sống
của làng xóm đã có nhiều đổi thay, góp phần phát triển kinh tế - văn hóa nớc nhà.
1.3 Các tiêu chí để xác định là một làng nghề truyền thống
Đa số các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam thờng có một trong các
tiêu chí sau:
- Đã hình thành và phát triển lâu đời ở nớc ta.
- Sản xuất tập trung tạo nên các làng nghề, phố nghề.
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ công nhân lành nghề.
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, sử dụng nguyên liệu trong nớc, trong làng và
không dùng nguyên liệu của nớc ngoài.
song song với sự phát triển không ngừng của đất nớc, nhiều làng nghề ở nông thôn
bị mai một do không có điều kiện phát triển. Nhiều hộ gia đình đã phải bỏ nghề
truyền thống mà thay vào đó là một nghề mới hay trở về với sản xuất thuần nông.
Bởi thế, nhiều giá trị văn hoá truyền thống, nhiều bí quyết của làng nghề truyền
thống bị thất truyền cùng với sự ra đi của những ngời cao tuổi.
Với xu hớng hội nhập kinh tế hiện nay, yêu cầu cạnh tranh thị trờng cao đòi
hỏi một số ngành nghề truyền thống phải áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
mới vào sản xuất với hệ thống trang thiết bị hiện đại. Bên cạnh đó, các sản phẩm
hàng hoá trên thị trờng phong phú, đa dạng về chủng loại cũng nh mẫu mã, sự cạnh
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
tranh gay gắt với các sản phẩm truyền thống. Nhất là đối với những nghề có công
nghệ thủ công, nguyên liệu truyền thống sẽ dễ bị thay thế bởi nguyên liệu mới, các
công nghệ máy móc hiện đại nh các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may. Do
vậy, sẽ có mâu thuẫn giữa việc thu hút khách du lịch và phát triển các sản phẩm
truyền thống dành cho khách du lịch với việc giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá
và quan trọng hơn là phải tìm ra giải pháp cân bằng cho phù hợp.
Khôi phục bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống, không những có vai
trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phơng, tăng thu nhập, giải
quyết việc làm của dân c trong các làng nghề, góp phần thay đổi cơ cấu ngành nghề
theo hớng gia tăng giá trị ngành nghề và dịch vụ, mà còn là cơ sở để phát triển du
lịch bền vững, giữ gìn đợc bản sắc văn hoá nghệ thuật của các sản phẩm truyền
thống của làng nghề phù hợp với nhu cầu thị hiếu của ngời dân trong nớc và khách
quốc tế.
Sản phẩm của làng nghề truyền thống là hàng lu niệm cho du khách.
Sản phẩm của các làng nghề truyền thống không chỉ là những sản phẩm
mang giá trị thơng mại mà còn là những mặt hàng lu niệm phù hợp với nhu cầu đa
dạng của du khách trong và ngoài nớc. Cùng với các dịch vụ thiết yếu nh ăn, uống,
ở, vui chơi giải trí thì sản phẩm làng nghề truyền thống nh nguồn xuất khẩu tại chỗ
đem lại nguồn thu không nhỏ cho dân địa phơng nói riêng và cho đất nớc ta nói
chung.
Bắc Ninh nằm ở trung tâm sông Hồng, cảnh quan sinh thái phong phú, đất
đai màu mỡ, giàu nguồn nớc lại thuận tiện giao lu kinh tế - văn hoá ngay từ
những thế kỷ trớc công nguyên, xứ Bắc - Bắc Ninh đã là một trong những cái nôi
sinh thành dân tộc và văn hoá Việt cổ truyền; nhiều thế kỷ sau công nguyên là
trung tâm chính trị, kinh tế của cả một vùng và quốc gia; sang nghìn năm quốc gia
độc lập - tự chủ, là đất phên dậu của Kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội,
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của quốc gia Đại Việt - Việt Nam.
Với lợi thế đó, Bắc Ninh đã sớm trở thành vùng đất văn hiến với các hoạt
động kinh tế, văn hoá rất phong phú và phát triển. Quê hơng của những con ngời
vừa thạo nghề nông, tinh xảo trong nghề thủ công và giao thơng buôn bán. Từ xa,
Bắc Ninh đã là một trong những xứ sở đa canh, đa nghề điển hình.
Ngày nay, Bắc Ninh tự hào là mảnh đất trăm nghề
(1)
với 62 làng nghề
truyền thống
(2)
trong đó đã có những làng nghề nổi tiếng khắp xa gần:
Làng Tranh Đông Hồ - Thuận Thành
Làng Gốm sứ Phù Lãng - Quế Võ
Làng Tre trúc Xuân Lai - Gia Bình
Làng Đúc đồng Đại Bái - Gia Bình
1
()
Trần Đình Luyện; Tạp chí Di sản Văn hóa, số 7/2010; Tr. 78.
2
()
Thanh Xuân; Bắc Ninh - Điểm đến của nhà đầu t; Bắc Ninh hàng tháng, tháng 7/2011; Tr.7.
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
Làng Rèn sắt Đa Hội - Châu Khê - Từ Sơn
Làng Chạm khảm gỗ Phù Khê, Kim Thiều, Đồng Kỵ - Từ Sơn
Có về Đồng Kỵ với anh thì về
Đồng Kỵ có lắm ngành nghề
1
()
Thanh Xuân; Bắc Ninh - Điểm đến của nhà đầu t; Bắc Ninh hàng tháng, tháng 7/2011; Tr.7.
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
Có sông tắm mát có nghề buôn râu
Đồng Kỵ có đất sang giau
Trai thanh, gái lịch có cầu ái ân
Đồng Kỵ có nghĩa có nhân
Bốn phơng tìm đến xa gần mến yêu
Dựa vào cuốn D địa chí của Nguyễn Trãi và chú giải của ngời đời sau, cộng
với t liệu địa phơng cho ta biết: vào thời Lê Thiệu Bình - Hồng Đức, Đồng Kỵ là
một xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Có nghĩa là mãi tới
thời điểm đó, chúng ta mới biết đến một địa chỉ cụ thể về Đồng Kỵ nằm trong hệ
thống làng xã Việt Nam. Còn từ thời Lê trở về trớc chúng ta mới chỉ biết đến Đồng
Kỵ với những địa chỉ đợc coi là lỏng lẻo hơn.
Vậy Đồng Kỵ đã hình thành nh thế nào trớc thời Lê Hồng Đức? Không có
tài liệu cụ thể trực tiếp cho biết điều đó, bởi vậy chúng ta buộc phải tìm căn cứ lịch
sử từ những hiện vật còn thấy, những t liệu thành văn và cả những ký ức ít nhiều
còn nhuốm màu sắc truyền thuyết đang lu truyền trong dân gian.
Ký ức dân gian về lịch sử hình thành làng Đồng Kỵ
Tiềm thức của ngời dân Đồng Kỵ rằng làng của mình có từ thời các vua
Hùng với tên là Tam Trang. Làng đợc tạo bởi ba Trang: Cời, Cọc,Cò. Trải qua
thời gian và những biến cố lịch sử, làng cũng mang những tên khác nhau. Nhân khi
phu nhân Cao (Cao Thị Trân) sinh Đức Thánh tại khu Quán sở của làng đợc nhân
dân ba làng tận tình giúp đỡ, chăm sóc nên Tam Trang đổi thành Nhân Hậu. Do
phạm quốc húy nên làng Nhân Hậu đổi sang Đông Chu rồi sau đó là Đồng Kỵ và
tồn tại đến bây giờ. Đồng Kỵ đợc dân gian giải thích là: Bằng nhau cùng nhau
phấn đấu đi lên.
ợc sao chép lại bởi nhiều ngời trong các dòng họ của làng. Nội dung của nó chắc
chắn chỉ nói về việc dân làng cùng nhau thờ thành hoàng làng - Thiên Cơng.
1.5.3 Phong tục tập quán
Nh bao làng quê khác ở Việt Nam, Đồng Kỵ cũng có những phong tục và
luật lệ riêng. Những luật lệ này có khi đợc ghi vào hơng ớc làng, hơng ớc của dòng
họ nhng cũng có điều không cần ghi mà tất cả dân làng đều thực hiện từ đời này
qua đời khác và trở thành cái lẽ đơng nhiên. Hiện nay, xóm làng tuy có nhiều đổi
thay, nhà cao tầng mọc lên san sát, đờng làng bê tông hóa, một số hủ tục không còn
nhng những điều đợc coi là tốt đẹp thì vẫn đợc làng Đồng Kỵ gìn giữ và thực hiện.
Đáng chú ý là việc cới xin và lên lão.
- Cới xin
Sinh con ra ai cũng muốn khi lớn lên con mình đợc yên bề gia thất, ai cũng
muốn khi về già đợc thấy con trai có vợ, con gái có chồng và đàn cháu nô đùa ríu
rít. Đó là tâm lý chung của ngời Việt và ngời dân Đồng Kỵ nói riêng. ở làng Đồng
Kỵ trớc đây, con trai mới lên 18 tuổi cha mẹ đã để ý tìm trong làng xem có cô gái
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
nào khỏe mạnh, nhanh nhẹn, ớm có tớng mắn con, gia đình môn đăng hậu đối để
tính chuyện trăm năm cho con mình. Sau khi tìm đợc đám ng ý vợ chồng bàn bạc
với nhau lấy ý kiến của ngời bề trên cho cẩn thận, khi đã thống nhất thì sẽ nhờ đến bà
mối.
Làng Đồng Kỵ ít ngời đi lấy chồng lấy vợ thiên hạ nên khách ăn cỗ đều là
ngời quen biết, không trong họ cũng ngoài làng. Khi khách đến chủ nhà cứ theo
tuổi tác hoặc thứ bậc mà xếp bốn ngời một cỗ. Ngày đón dâu, nhà trai chuẩn bị một
tráp trầu têm sẵn, nhiều nhà còn cầu kỳ têm miếng trầu cánh phợng cho đẹp trong
ngày cới. Miếng cau trong tráp phải là nửa quả, đây là lệ trầu tráp, một tục lệ rất
quan trọng trong đám cới ở Đồng Kỵ. Dân gian vẫn còn tồn tại câu nói:
Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mời
Số cau trong tráp trầu đón dâu không bao giờ là chẵn mà phải là số lẻ thờng
quy định là 21 hoặc 23 miếng trầu. Bởi miếng trầu thể hiện sự trân trọng, niềm yêu
mến giữa hai gia đình.
- Đình Đồng Kỵ
Đình Đồng Kỵ là một trong ba di tích thuộc cụm di tích Đình - Đền - Chùa
Đồng Kỵ thuộc làng Đồng Kỵ, phờng Đồng Quang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Trớc đây, làng Đồng Kỵ là trang Nhân Hậu gồm ba làng: Cời, Cọc, Cò. Mỗi làng
đều có một đình thờ riêng thờ chung một vị thần ở đền Đồng Kỵ. Năm Cảnh Hng
thứ 6 (1745) ba làng cùng nhau xây dựng một ngôi đình chung và lấy tên là Đồng
Kỵ tức là Cùng giỗ hay cùng thờ chung một vị thành hoàng. Đình Đồng Kỵ là
một ngôi đình khá đồ sộ và bề thế; đình nhìn ra dòng Ngũ huyện khê dới bóng
những cây cổ thụ từ bao đời. Đình xây dựng theo kiểu chữ Công I, nhìn ra hớng
Tây. Trong đình còn giữ lại đợc nhiều đồ thờ, bàn thờ, nhiều tác phẩm điêu khắc đ-
ợc chạm trổ tỉ mỉ. Đình Đồng Kỵ không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật
mà còn nổi tiếng bởi quy mô và vị trí của nó bên một dòng sông thơ mộng. Ngời
Đồng Kỵ luôn tự hào về ngôi đình của mình bởi do chính tay họ tạo nên bằng tài
năng và sức lực của nhân dân trong làng. Ba mơi sáu ngời thợ dựng đình chính là
tinh hoa nghề mộc của làng, dân làng không phải đi thuê bất kỳ một ngời nào ở bên
ngoài. Đây cũng là một minh chứng cho tay nghề và sự tài ba của ông cha mà ngày
nay đang tiếp tục đợc lớp con cháu trong làng phát huy. Ngôi đình đợc những ngời
thợ dựng lên một cách hoàn hảo và đến hôm nay nó vẫn tiếp tục đợc bảo tồn và tu
tạo để đón khách thập phơng.
Đến với Đình Đồng Kỵ, quý khách sẽ thấy đợc kiến trúc của nó rất đỗi quen
thuộc nh bao ngôi đình khác của miền quê Việt Nam đồng thời cũng cảm nhận đợc
sự khéo léo, tinh tế của những ngời thợ nơi đây trong việc sáng tạo và bảo tồn nhiều
tác phẩm nghệ thuật vô giá. Hiện nay tổng thể kiến trúc của đình làng Đồng Kỵ
bao gồm: nghi môn, ao đình, tòa đại đình, tòa tiểu đình, các công trình khác nh cột
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
cờ, sới vật.
Nghênh môn hay nghi môn đình Đồng Kỵ đợc làm theo kiểu Ngũ quan (5
cửa). Nghi môn bề thế này đợc chính quyền và nhân dân địa phơng cùng tiến hành
tu sửa và hoàn thành trong năm Quý Mùi - 2003. Cũng nh nghi môn của các ngôi
đình khác, trên nghi môn của đình Đồng Kỵ cũng có nhiều hình tợng quen thuộc:
sức tinh tế có tác dụng che chắn cho nơi thờ tránh bụi trần thế xâm nhập vào nơi
đất thánh tôn nghiêm. Bớc sang hai bên cạnh của gian chuôm bầu ta có thể chiêm
ngỡng những linh vật khác thờng đựơc dùng trong các dịp rớc hay tế lễ. Nhìn lên
mái đình, ở đầu d và câu đầu đều đợc chạm khắc hình đầu rang theo nối chạm lộng
rất tinh xảo một biểu tợng của thần quyền và thế quyền một biểu tợng tôn nghiêm
của thần linh.
Tại đình Đồng Kỵ còn có hai quả pháo thờ đợc làm bằng gỗ chiều dài 5m đ-
ờng kính 60cm. Pháo gỗ đợc dân làng Đồng Kỵ làm thờ tại đình để nhớ lại tục đốt
pháo truyền thống của làng.
- Chùa Đồng Kỵ
Chùa Đồng Kỵ đợc xây dựng ngay cạnh đình. Chùa làng Đồng Kỵ là sự kết
hợp hài hòa giữa tín ngỡng dân gian và Phật giáo chính thống thể hiện ở việc thờ
cùng một lúc hai vị đức ông trong chùa. Sở dĩ có chuyện đó là do làng Nhân Hậu x-
a kia là nơi họp lại của ba trang và có ba ngôi chùa. Sau đó, một ngôi chùa bị hỏng
nát nên chỉ còn lại hai tợng đợc đa về thờ tại Tây Am tự - chùa Đồng Kỵ hiện nay.
Chùa Đồng Kỵ là một quần thể kiến trúc bao gồm nhiều công trình: cổng
chùa, gác chuông, tòa tam bảo, khu hậu cung, nhà tổ, nhà tăng, nhà thờ mẫu và nhà
trng bày di tích cách mạng chùa Đồng Kỵ, xa kia là nhà khách của chùa.
Công trình đầu tiên là cổng chùa đợc thiết kế theo kiểu tam quan nhng chỉ là
mở một lối đi ở giữa, còn hai bên đợc lấp bởi hai bức hoành phi mang hình tợng
Lý ng vọng nguyệt và trên đó quý khách sẽ đợc thởng thức bài thơ Lý ng vọng
nguyệt bằng chữ Hán và phiên âm. Phía trớc cổng chùa là hai con Voi đang quỳ
phục ở hai bên. Voi là loài vật hiền lành với đức tính cần cù, chịu khó, là hình ảnh
tợng trng cho ngời nông dân Việt Nam. Hai con Voi phục ở đây còn là công cụ của
thánh thần. Phía trên cổng là hình tợng song long chầu nhật, một biểu tợng của sự
cao quý. Hai cột trụ ở hai bên lại là hình ảnh phợng chắp đuôi xòe cánh vơn lên trời
xanh. Tại tam quan chùa ta cũng nhìn thấy những hình tợng: tứ linh long, ly, quy,
phợng, tứ quý tùng, cúc, trúc, mai.
Vào tới sân chùa ta bắt gặp ngay gác chuông chùa. Gác chuông đợc kết cấu
theo kiểu 2 tầng tám mái với bốn hàng cột, mỗi hàng cột gồm sáu chiếc. Những
Thần Nông chính là ngời đã dạy cho nhân dân cách làm ra hạt thóc, hạt gạo từ làm
cỏ, bỏ phân, gieo mạ, cấy lúa và gặt lúa.Thần Nông đợc dân làng Đồng Kỵ thờ tại
một nơi linh thiêng cùng Thành hoàng làng.
Đền làng Đồng Kỵ kết cấu theo kiểu chữ tam, mỗi phần là năm gian gồm:
đền Thợng, đền Trung và đền Hạ; nhng ba ngôi đền này không có sự phân biệt rõ
ràng về ranh giới mà các công trình đợc xây dựng sát vào nhau. Trớc khi bớc vào
gian chính của đền ta gặp lại hình tợng con nghê quen thuộc (dân địa phơng gọi là
con sấu). Nghê là loài vật có thể nhận ra ngời tốt, kẻ xấu, ngời hiền, kẻ dữ,
giúp trấn yểm, bảo vệ cho di tích.
Phía trớc đền Hạ, hai bên là hai pho tợng Khuyến thiện và Trừng ác. Từ xa
tới nay, ngời dân Việt Nam và c dân theo đạo Phật đều có chung chữ nhân hậu,
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
luôn luôn khuyến khích con ngời làm điều thiện trớc khi đặt ra những luật lệ để răn
dạy. Vì thế khi tới những di tích tín ngỡng, ta thờng bắt gặp tợng Khuyến thiện
(khuyến khích làm điều thiện) ở phía bên phải của di tích, còn pho tợng Trừng ác
(trừng trị những kẻ làm điều ác) ở bên trái của di tích để tạo ra một vòng theo chiều
ngợc kim đồng hồ. Bớc qua cổng đền đợc thiết kế theo kiểu tam quan vào đến bên
trong là đền Hạ. Tại đây có một chiếc trống cái thờng đợc sử dụng trong những
buổi tế lễ thờng niên tại đền và trong ngày hội làng. Bên phía trái của đền Hạ là
chiếc chuông có niên đại từ rất lâu đời đợc sử dụng để thỉnh trong những ngày lễ.
Trung tâm đền Trung có hình tợng rùa đội hạc ở phía trớc, sau bộ bát bửu
là án gian và ngai thờ. Trên án gian và ngai thờ đều có nhiều vật thờ: l hơng, lọ
lộc bình, chân đèn. Phía trên là bức hoành phi có bốn chữ Tam Trang danh từ,
ngoài ra còn có nhiều bức hoành phi khác và nhiều cặp câu đối. Hai bên của
gian thờ là một bộ bát bửu khác. Phía bên trái của gian chính là hai l hơng, một
l hơng bằng đá xanh và một l hơng bằng gốm, đế kim loại đều có niên đại rất lâu
đời.
Đền Thợng là nơi đặt ngai thờ Thành hoàng làng và là nơi ngự của ngài. Nơi
này thờng ngày vẫn đóng cửa, chỉ cụ Từ đền mới đợc ra vào hơng khói. Đền Thợng
đợc mở vào ngày chính hội của làng - mồng 4 tháng giêng âm lịch hàng năm để rớc
ngày mùng 4 tháng Giêng với nhiều nghi lễ truyền thống.
Công tác chuẩn bị Hội làng đợc nhân dân chuẩn bị từ rất sớm khoảng 20
tháng Chạp. Làng phải huy động đến khoảng 400 ngời phục vụ trong đó có tới
khoảng 300 trai tịnh dới 50 tuổi phù giá để có đợc lễ rớc hoành tráng và đầy đủ
nghi thức.
Từ sớm ngày mùng 3 tháng Giêng, lễ rớc thỉnh Đức Thánh Thiên Cơng từ
Ninh Từ lên Đền Trung đã đợc thực hiện trang trọng. Hôm sau, mọi công việc cho
Lễ rớc pháo đợc chuẩn bị từ sớm ngày mùng 4 nhng phải đến đúng 9 giờ sáng hai
quả pháo lớn mới đợc các thanh niên trai tráng trong làng rớc từ nhà ông đám trởng
(Trởng Ban Khánh tiết) ra đình cùng với đoàn tế hàng trăm ngời trong sự chứng
kiến và háo hức của hàng nghìn khách thập phơng.
Pháo rớc đợc gò bằng tôn, bên ngoài dán giấy màu nhiều sắc. Hai quả pháo
lớn cùng có đờng kính 60cm, 1 quả dài 6m, 1 quả dài 5,8m tợng trng cho pháo
Nhất, pháo Nhì, trang trí rực rỡ với hình tứ linh: Long - lân - quy - phụng.
Đám rớc đông mà ngời xem cũng chật cứng hai bên đờng trong khi không
gian làng nghề ngày càng thu hẹp nên quãng đờng từ nhà ông Đám trởng ra đến
đình làng cũng mất đến hơn 2 giờ đồng hồ.
Lễ rớc pháo là nét đặc sắc nhất hội làng Đồng Kỵ, lại đợc tổ chức ngay ngày
đầu năm mới khi mọi ngời cha phải đi làm nên càng đông đúc. Có thể dễ dàng thấy
rằng hội làng Đồng Kỵ thu hút một lợng đông đảo các tay máy ảnh.
Với màu sắc và nét văn hoá riêng có, đây cũng là một trong những lễ hội
vùng Bắc Ninh thu hút đông đảo du khách nớc ngoài. Tng bừng nhất là tục rớc
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
pháo nhng các hoạt động văn hoá thể thao xung quanh khu vực diễn ra hội làng
cũng không kém phần sôi nổi. Đến Đồng Kỵ những ngày vào hội có thể nghe hát
Quan họ trên thuyền cả ngày mùng 4 và các buổi sáng mùng 5, 6. Đây cũng là dịp
để đội Tuồng làng thoả sức biểu diễn phục vụ bà con. Các vở Tuồng đợc diễn ngay
trong sân đình, tối nào sân khấu làng cũng đỏ đèn, có khi buổi chiều tiếng trống
Tuồng lại vang vang giục giã mọi ngời đến xem. Đặc biệt, cả Quan họ và các tích
Tuồng cổ đều do ngời làng thể hiện. Giải Vật cổ truyền thu hút hàng chục đô vật từ
làm nhà. Hai anh em Lỗ Ban và Lỗ Bộc đã đi khắp vùng để giúp đỡ những ngời
khác làm nhà. Từ đó con ngời kết thúc cuộc sống ăn lông ở lỗ. Hai ông đã đợc ngời
đời nhớ đến nh những ông Tổ của nghề mộc. Đó là ông Tổ nghề chung của tất cả
các làng nghề có liên quan đến nghề mộc.
- Công nghệ trang sức vật liệu gỗ ở Việt Nam
Trên thế giới, trang sức bề mặt vật liệu gỗ đã đợc tiến hành từ rất lâu. Cho
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Th Hoa
đến nay, công nghệ này đã rất phát triển ở nhiều nớc trên thế giới. Đã có rất nhiều
nhà khoa học nghiên cứu về các thành tựu trang sức bề mặt vật liệu gỗ và các công
trình này đã đợc ứng dụng ở nhiều nớc. ở Việt Nam, từ thời xa xa, ngời ta thờng
trang sức các sản phẩm mộc bằng phơng pháp gia công bề mặt các sản phẩm dới
hình thức chạm khắc, khảm trai. Các nghề cổ truyền này xuất hiện ở Việt Nam vào
khoảng thế kỷ 15 - 16. Từ đó đến nay, mặc dù có Lúc thịnh, lúc suy nhng các
nghề này vẫn tồn tại và trong những năm gần đây nó lại phát triển mạnh. Trong cơ
chế thị trờng, nớc ta đang có chủ trơng đẩy mạnh việc xuất khẩu các mặt hàng thủ
công truyền thống, đồ mỹ nghệ sản xuất từ tre nứa, song mây đặc biệt là từ gỗ; do
vậy vấn đề trang sức các loại hình sản phẩm này phù hợp với yêu cầu sử dụng là hết
sức cần thiết.
Mục đích của trang sức bề mặt gỗ:
Sản phẩm mộc từ gỗ và vật liệu từ gỗ đợc sử dụng rộng rãi với nhiều mục
đích khác nhau trong cuộc sống. Nh chúng ta đã biết, gỗ là loại vật liệu có nhiều
đặc tính tốt, song nó cũng có những nhợc điểm nh bị cong vênh khi có sự thay đổi
về độ ẩm, bị sâu mọt phá hoại. Vì thế ngời ta đã tạo ra nhiều cách khác nhau để
không những không làm giảm giá trị thẩm mỹ mà còn tăng thêm vẻ đẹp của sản
phẩm.
Mục đích của trang sức bề mặt:
+ Tăng vẻ đẹp bên ngoài của sản phẩm mộc, làm thay đổi cảnh quan, dễ chịu,
thoải mái khi tiếp xúc với sản phẩm.
+ Bảo vệ mặt gỗ trớc tác dụng của môi trờng xung quanh. Các chất phủ mỏng
hình thành trên bề mặt chi tiết cách ly với môi trờng, không cho sự xâm nhập của