tìm hiểu về làng nghề truyền thống tranh dân gian đông hồ tiềm năng và hướng phát triển du lịch - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ HUẾ
KHOA VIỆT NAM HỌC


BÀI TIỂU LUẬN
Tìm hiểu về làng nghề truyền thống tranh
dân gian Đông Hồ - Tiềm năng và hướng
phát triển du lịch

Môn

: Giao thoa văn hóa Trung – Việt

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh

Lớp

: K12 Việt Nam học

MSSV

: 15F7051034
Huế, 01 tháng 10 năm 2017


MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................................................1

1.1.2

Khái niệm “làng nghề truyền thống”................................................................................4

1.1.3

Khái niệm “tranh dân gian”..............................................................................................5

1.1.4

Khái niệm “tranh Đông Hồ”.............................................................................................5

1.1.5

Khái niệm “du lịch làng nghề”.........................................................................................5

1.1.6

Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và làng nghề truyền thống........................................5

1.1.6.1
Vai trò của du lịch trong việc phát triển làng nghề truyền thống tranh dân gian Đông
Hồ....................................................................................................................................................6
1.1.6.2
1.2

Tác động của làng nghề đối với hoạt động du lịch.......................................................6
Nét khái quát về làng tranh Đông Hồ.................................................................................6

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của làng tranh Đông Hồ.................................................6

Mảng..................................................................................................................................9

2.4

Màu sắc trong tranh..............................................................................................................9


2.5

Các thể loại và đề tài của tranh dân gian Đông Hồ..............................................................9

2.6

Quy trình và kỹ thuật làm tranh dân gian Đông Hồ...........................................................10

2.6.1

Chuẩn bị về nhà xưởng, thiết bị và nguyên liệu:.............................................................10

2.6.1.1

Về nhà xưởng................................................................................................................10

2.6.1.2

Về thiết bị.....................................................................................................................10

2.6.1.2.1

Dụng cụ sáng tác mẫu tranh.....................................................................................10


2.6.3.1

Về giá trị nghệ thuật dòng tranh dân gian Đông Hồ.....................................................12

2.6.3.2

Giá trị về nội dung của dòng tranh dân gian Đông Hồ................................................13

2.6.4

Những nét thay đổi của tranh Đông Hồ so với trước......................................................16

2.6.4.1

Thay đổi về hình thức nghệ thuật................................................................................16

2.6.4.2

Thay đổi về nội dung...................................................................................................16

CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CHO LÀNG
NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ.....................................................17
3.1 Tiềm năng du lịch của làng tranh Đông Hồ...........................................................................17
3.2

Đề xuất hướng phát triển của làng tranh Đông Hồ trong phát triển du lịch.......................18

3.2.1


tươi tắn, những đường nét tuy đơn giản nhưng sống động, thực mà hư, hư mà thực
và gần gũi với người dân vùng Kinh Bắc xưa.
Là một người con đất Việt, nhận biết được giá trị cũng như nét đặc sắc của
dòng tranh này và mong muốn đem nét đặc sắc này đến nhiều hơn với người dân
trong nước và bạn bè quốc tế đã thúc đẩy tôi chọn lĩnh vực nghệ thuật này và cụ
thể hơn là đề tài “tìm hiểu về làng nghề truyền thống tranh dân gian Đông Hồ Tiềm năng và hướng phát triển du lịch” nhằm tìm hiểu tổng quan về làng nghề
truyền thống tranh dân gian Đông Hồ, từ đó đề ra những định hướng phát triển
theo xu hướng du lịch.
2.

Đối tượng nghiên cứu:
- Làng nghề truyền thống tranh dân gian Đông Hồ.

Trang 1


3.

Phạm vi nghiên cứu:
 Không gian nghiên cứu: Làng nghề thủ công truyền thống tranh dân gian Đông
Hồ.
 Thời gian nghiên cứu: Từ 20/12/2017 ->10/1/2018.

4.

5.

Phương pháp nghiên cứu:
-


các đặc điểm của làng nghề truyền thống tranh dân gian Đông Hồ. Đồng thời phân
tích những tiềm năng và thực trạng khai thác hiện nay từ đó đề xuất những định
hướng cho phát triển du lịch. Việc tìm hiểu thực trạng và đưa ra những định hướng
phát triển là những gợi ý nhằm giúp công tác quản lý, sử dụng và phát triển làng
nghề tốt hơn, từ đó góp phần làm tăng thu nhập, tăng khả năng đóng góp của du
lịch vào sự phát triển kinh tế xã hội cũng như quảng bá về văn hóa của đất nước
cho người dân trong nước và bạn bè quốc tế.

Trang 2


II.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ

1.1
1.1.1

Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm “làng nghề”
Cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm của “làng nghề” nhưng
có thể điểm qua những quan niệm về làng nghề được nhiều nhà nghiên cứu tán
thành sau:
Thứ nhất: Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là
một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng
theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng
có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc
làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển

chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng
này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị
trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước
rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”.
1.1.2

Khái niệm “làng nghề truyền thống”
Hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống nhưng có
thể hiểu làng nghề truyền thống như sau:
“Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ
công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem
lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công đó được
truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của
thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ
truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên
nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu
bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị
trường” [4, tr15].
Hay theo Bạch thị Lan trong “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống
vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ”: Làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn
tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ
công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có
nhiều hộ gia đình làm nghề thủ công truyền thống lâu đời, giữa họ có dự liên kết,
hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt
các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc.
Để trở thành một làng nghề truyền thống phải đáp ứng 03 tiêu chí sau được
quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số
66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông
thôn:

dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm
lại lột bỏ, dùng tranh mới (theo bách khoa toàn thư mở).

1.1.5

Khái niệm “du lịch làng nghề”
Du lịch làng nghề trong những năm gần đây đang được xem là một loại
hình du lịch “homestay” được nhiều nước trên thế giới và một số điểm trong nước
áp dụng rất hiệu quả. Làng nghề truyền thống là nơi chứa đựng kho tàng kinh
nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác
đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống. Ông
Nguyễn Anh Tuấn, Phó vụ trưởng, Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch cho rằng: Làng
nghề truyền thống được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa
đặc biêt quan trọng, bởi các sản phẩm của nó luôn bao hàm cả giá trị vật thể và phi
vật thể. Khách du lịch đến đây để tìm hiểu về những giá trị văn hóa đó. Vì vậy du
lịch làng nghề truyền thống được xếp vào loại hình du lịch văn hóa. Từ đó có thể
hiểu du lịch làng nghề truyền thống như sau:
“Du lịch làng nghề truyền thống là loại hình du lịch mà qua đó du khách
được thẩm nhậm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan đến một
làng nghề truyền thống của một dân tộc nào đó.”

Trang 5


1.1.6

Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và làng nghề truyền thống
Du lịch và làng nghề truyền thống có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau:



Nét khái quát về làng tranh Đông Hồ

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của làng tranh Đông Hồ
Cách Hà Nội chừng 33km về hướng Đông và nằm sát bờ Nam đê sông
Đuống, làng Hồ hay Đông Hồ là một làng nghề cổ truyền, có tên Nôm là làng Mái
nay thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là cái nôi của
Trang 6


dòng tranh khắc gỗ dân gian đặc sắc được nhiều người cả trong và ngoài nước biết
đến, với những bức tranh từ lâu đã đi vào đời sống tinh thần của nhiều người dân
Việt Nam.
Đông Hồ nằm trong một quần thể các di tích lịch sử nổi tiếng vùng Kinh
Bắc. Phía Bắc làng là sông Thiên Đức, tiếp giáp với xã Đại Đồng Thành có đền
thờ Kinh Dương Vương, cách đó khoảng 1km là chùa Bút Tháp. Phía Tây Nam có
thành Luy Lâu và chùa Dâu, là trung tâm Phật giáo lớn thời Bắc thuộc. Phía Nam
giáp đồng ruộng, khoảng hơn 3 km nhìn thẳng sang là làng Tam Á, có lăng Sĩ
Nhiếp, phía Đông có núi Thiên Thai. Như vậy, Đông Hồ nằm ở trong quần thể di
tích lịch sử văn hóa có quy mô to lớn và phong phú vào bậc nhất nước ta trong
thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Đó là khu di tích lịch sử-văn hóa Luy
Lâu. Luy Lâu đã từng là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự và thương mại của
quận Giao Chỉ và Châu Giang dưới thời Bắc thuộc. Luy Lâu cũng là một trong ba
trung tâm văn hóa, trung tâm Phật giáo lớn ở phương Đông trong thời đế chế Hán.
1.2.2 Lịch sử hình thành và sự phát triển của làng nghề truyền thống tranh dân
gian Đông Hồ.
Tranh Đông Hồ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ XVI với số lượng mẫu tranh
vô cùng phong phú mà không ai thống kê được, và có một điều đặc biệt của làng
tranh đã phát triển hơn 5 thế kỷ qua là chưa ai nghe đến tên của ông tổ làng
nghề.Từ khoảng cuối thế XVII đến nửa đầu thế kỉ XX(1944) là thời kì hoàng kim


2.1.2

Giấy in:
Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp, người ta nghiền nát vỏ con
điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo
nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng
từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá
thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường
quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ
dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp.

2.2

Bố cục của bức tranh
Để tạo nên bố cục trong tranh dân gian Đông Hồ các nghệ nhân đã dùng
phối cảnh ước lệ Phương Đông làm cơ sở để tạo ra lối bố cục không gian tượng
trưng và khái quát, chắt lọc về đường nét, về màu sắc. Bố cục của tranh thường
được thể hiện đầy đủ, trọn vẹn theo lối vẽ đơn tuyến bình đồ, do đó xem tranh dân
gian Đông Hồ ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô, đơn giản nhưng
hợp lý hợp tình. Ví dụ như trong tranh thờ Tam phủ, Tứ phủ, Ông Công, Ông Táo,
Ông Tơ, Bà Nguyệt…. Các nhân vật được sắp xếp theo quy ước, lớp trong ở xa,
lớp ngoài ở gần như các mảng chính, phụ. Đối với các tranh vẽ đề tài lịch sử cũng
vậy, các vị anh hùng và các nhân vật chính luôn được vẽ với tầm vóc lớn hơn.

2.3

Nét và mảng trong tranh

2.3.1

việc đốt lá tre rồi lấy than của nó, màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm, màu vàng lấy từ
hoa hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu sơn lấy từ sỏi núi, màu trắng
là điệp…. Đây là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu
tương ứng với số bản khắc gỗ, nên thường thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4
màu mà thôi.

2.5

Các thể loại và đề tài của tranh dân gian Đông Hồ
Thể loại và đề tài của tranh Đông Hồ có thể chia thành sáu loại chính:
-

Tranh thờ cúng: Để đáp ứng nhu cầu của tâm linh.
Tranh lịch sử: Nhằm đề cao những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ
nước.
Tranh chúc tụng (hay còn gọi là mơ ước đầu năm): Tranh chỉ xuất hiện vào dịp tết
đến xuân về, nên tranh này hết sức phong phú. Có ý nghĩa chúc cho mọi người,
mọi nhà gặp nhiều điều tốt lành trong năm mới, tiêu biểu như: “Đại cát”, “Vinh
hoa”, “Phú quý”; mong muốn sum vầy, hạnh phúc thì có: “Gà đàn”, “Lợn đàn”.

Trang 9


-

Tranh sinh hoạt: Phản ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, thú vui như: “Đánh
vật”, gây cười như “Hứng dừa”, châm biếm như “Đánh ghen”, đả kích khôn khéo
như “Đám cưới chuột”, “Thầy đồ cóc”.
Tranh phong cảnh: Đề cao thú chơi tao nhã, lịch sự, đề cao vẻ đẹp thùy mị, duyên
dáng của người con gái có bốn cô “Tố nữ”, thú chơi cây cảnh có “Mai- Lan- Cúc Trúc”, hoa nở bốn mùa có “Xuân- Hạ- Thu- Đông”.


Về thiết bị
Trước khi bắt tay vào làm tranh, các nghệ nhân làng Đông Hồ đều chuẩn bị
những dụng cụ thiết yếu, chúng được cất giữ như những bảo bối trong nhà. Thiết
bị đó bao gồm:

2.6.1.2.1

Dụng cụ sáng tác mẫu tranh
Đó là các bút lông, mực nho (hay mực tàu) và giấy bản mỏng. Khi vẽ mẫu
tranh, nghệ nhân sẽ dùng bút lông chấm vào mực tàu đã pha và vẽ hình mẫu lên
các bản giấy mỏng. Sau đó, giấy mẫu được dán vào mặt trước của tấm gỗ, và nét
vẽ sẽ thấm ra mặt sau tờ giấy, nhờ đó người thợ khắc mới khắc được hình vẽ lên
bản gỗ.
Trang 10


2.6.1.2.2

Dụng cụ khắc ván tranh
Dụng cụ được dùng để khắc ván in tranh là mũi đục, hay gọi là ve bằng
thép cứng, và dùi đục dùng để gõ đục. Mỗi bộ ve khắc ván gồm khoảng 40 chiếc,
chia ra 4 loại:

-

Móng: là lưỡi ve lòng máng, cong nhiều
Thoảng: là lưỡi ve hơi lòng máng, hơi cong
Thẳng: là lưỡi ve thẳng
Dẫy nền: là lưỡi ve lòng máng, thân ve uốn cong để dũi, đào sâu xuống gỗ.Mỗi


Trang 11


2.6.2

Kĩ thuật làm tranh

2.6.2.1

Khâu vẽ mẫu
Đây là khâu đầu tiên, quan trọng và khó nhất trong quy trình kĩ thuật làm
tranh. Sau khi chuẩn bị nguyên liệu, thiết bị, nhà xưởng xong, thì đòi hỏi người
nghệ sĩ phải ra mẫu, hay sáng tác mẫu tranh. Sau khi sáng tác được mẫu nào thì
đem ra khắc vào bản gỗ (ván khắc). Đó là những công đoạn khó nhất của nghề làm
tranh, ít người thông thạo cả hai. Số người có khả năng sáng tác mẫu không nhiều.
Họ thường là những nghệ nhân giỏi trong làng.

2.6.2.2

Khắc ván
Nghệ nhân khắc ván phải là người có kỹ thuật chạm giỏi. Ván in thường
chia làm hai loại là ván in nét và ván in màu. Ván in nét làm bằng gỗ thị, gỗ thừng
mực. Gỗ thị thớ đa chiều dùng để khắc ván in nét có thể tạo nét tinh vi, mảnh nhỏ,
nét bền. Gỗ mực nhẹ, nạc, mềm và rất dễ khắc nhưng độ bền không cao. Ván in
màu bằng gỗ giổi hay gỗ vàng tâm, là loại gỗ nhẹ, thớ mềm xốp, dễ hút màu, do
đó in đượm màu thuốc cái.

2.6.2.3


Về giá trị nghệ thuật dòng tranh dân gian Đông Hồ
Sáng tạo nghệ thuật trong tranh Đông Hồ không phải là cảm hứng trong
sáng tác, mà là nghệ thuật trong kỹ thuật làm tranh, hình ảnh trong tranh và đặc
biệt trong cách sử dụng màu sắc:

- Tranh làng Ðông Hồ dùng ván để in. Bởi vậy, chất lượng nghệ thuật của tranh phụ
thuộc khá nhiều vào bản khắc gỗ. Ðể có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo như
vậy đòi hỏi phải có người vẽ mẫu trước. Những người vẽ mẫu và người chế tác bản khắc
đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đức tính tỉ mỉ và đặc biệt phải
có trình độ kĩ thuật cao. Sau khi hoàn thành bản khắc thì công việc in tranh không còn
khó khăn gì, một người mới vào nghề cũng có thể in được.
- Tranh dân gian Ðông Hồ không áp dụng chặt chẽ về cơ thể học, các nguyên tắc về
ánh sáng hay luật xa gần của tranh hiện đại mà mang nhiều tính ước lệ trong bố cục,
trong cách miêu tả về màu sắc. Tất cả đều sử dụng lối vẽ đơn tuyến bình đồ để thể hiện,
do đó xem tranh dân gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản
nhưng hợp lí hợp tình. Nghệ thuật vẽ của tranh Đông Hồ còn mang dáng dấp của nghệ
thuật thời nguyên thủy.
 Ta có thể thấy, trong tranh “Đánh ghen” [Phụ lục, hình 3], nghệ nhân sử dụng phối
cảnh ước lệ "đơn tuyến bình đồ" tạo ra bố cục không gian tượng trưng và khái
quát, cách tạo hình nhân vật mang yếu tố biếm họa, thể hiện ở sự cường điệu hóa
các hình thể và đường nét trong tranh, tạo nên sự sôi động, nhưng không kém phần
hài hước, vui nhộn trước một tình huống bi kịch gia đình.
 Bức tranh “Đàn lợn âm dương” [Phụ lục, hình 4] nhìn một cách tổng thể, đây là
một bố cục hình chữ nhật được đặt trong khung hình chữ nhật. Bức tranh diễn tả
lợn mẹ và đàn lợn con trông thật sinh động, các nét cong của mông, lưng và đầu
lợn con trông mềm mại và nhịp nhàng song không làm mất đi hình mảng cơ bản
của nó. Để tăng thêm sự hài hòa, cân bằng của đường nét, trên mình lợn được
điểm xuyết bởi các vòng xoáy âm dương, vừa khiến các mảng đỡ đặc, vừa thể hiện
tính hài hòa trong trang trí. Những con lợn trong tranh không giống lợn thực,
những đặc điểm của mắt, mũi, miệng, tai, lưng được nghệ nhân khai thác triệt để

Từ hai bên cánh cổng ta đã bắt gặp những Tiến tài- Tiến lộc [Phụ lục, hình
5] vẽ hình hai vị thần mũ áo triều phục văn quan, một vị mang biển Tiến tài, một
vị mang biển Tiến lộc. Theo tục lệ của dân làng, dán hai bức tranh này ngoài cổng,
tài lộc sẽ kéo vào trong nhà, và với năm mới, hai vị thần Tiến tài, Tiến lộc sẽ mang
lại sự thịnh vượng. Người nông dân cầu mong sinh được con trai để lấy người nối
dõi dòng tộc qua bức tranh Vinh hoa [Phụ lục, hình 2] có hình em bé như một tiên
đồng, hình dáng mập mạp, tóc để trái đào, tay ôm con gà trống. Họ cầu mong một
gia đình quây quần đầm ấm, chan hòa hạnh phúc như ý nghĩa của hai bức tranh Gà
đàn và tranh Gà thư hùng là bức tranh toàn cảnh của gia đình đoàn tụ, mẫu mực
cho sự thủy chung và tinh thần trách nhiệm.

-

Tranh Đông Hồ ca ngợi truyền thống “tôn sư trọng đạo”:
Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo đã có từ lâu trong lịch sử dân tộc
ta. Tranh Đông Hồ nổi tiếng cũng bởi phản ánh nội dung này trong tranh. Bức
Trang 14


tranh vừa mang nhiều ẩn ý phê phán và cả khuyến khích việc học hành là Thầy đồ
cóc [Phụ lục, hình 6]. Tranh có nhiều ẩn dụ, với ý nghĩa khuyên con cháu học
hành thì khung cảnh trường học tấp nập như vậy là niềm mơ ước của nhiều trẻ em
thời bấy giờ. Tranh Thầy đồ cóc (hay Lão Oa giảng độc) hướng đến đề tài giáo dục
- một chủ đề mang tính thời đại, quy luật tất yếu của xã hội, nhằm đào tạo lớp
người kế cận thành những con người mới có đạo đức, có kiến thức, có năng lực.
Đề tài có tầm cỡ và quan trọng như vậy, lại lấy “xã hội” loài cóc làm đối tượng
phản ánh, ít nhiều mang chất trào lộng, hài hước và chấm biếm, tưởng phi lý, nhạo
báng nhưng lại có lý và tâm đắc. Tâm đắc và hợp lý ở tính nhân văn sâu sắc của
bức tranh. Là loại tranh cổ, đã có từ trước khi Pháp sang cướp nước ta, thời Nho
học và đức Khổng Tử đang được tôn thờ. Các bậc cha mẹ đều mong muốn con



Về phương diện xã hội, tranh Đông Hồ thành công trong việc phê phán, đả
kích sâu cay tầng lớp phong kiến thống trị với những thói hư tật xấu. Hai bức
tranh tiêu biểu là Thầy đồ cóc và Đám cưới chuột được nghệ sĩ dân gian thể hiện
rất tài tình. Tranh Thầy đồ cóc bên cạnh ý nghĩa khuyến khích việc học và “tôn sư
trọng đạo”, còn được diễn giải bằng bốn câu thơ với ẩn ý đả kích: “Tìm thầy hỏi
bạn nhái chi mà/ Thấy học xem bằng ếch thấy hoa/ Mở mắt chão chàng soi vũ trụ/
Đem gan cóc tía đối sơn hà”. Tuy có bốn câu thơ, nhưng có đủ cả ếch, cóc, nhái,
chão chàng làm ta liên tưởng đến bài “Rắn đầu biếng học” của Lê Quý Đôn trong
câu “Thấy học xem bằng ếch thấy hoa” có ý tương tự, chung nỗi chán chường mỉa
mai; hay với cụ Tú Xương trong bài “Nào có ra gì cái chữ Nho”, học hành đỗ đạt
dưới chế độ cũ có ra sao, thi đỗ làm quan tức là làm tay sai cho bọn thống trị, để
hà hiếp bóc lột dân nghèo. Ở đây còn có ý nói, có khi làm tay sai mà không biết vì
“mắt chão chàng” nhìn trừng trừng nhưng không tinh tường. Thế mà dám đem gan
và sức ấy ra để phản Tổ quốc, hại nhân dân. Thầy đồ cóc quả là một bài học triết
lý với miền Nam nước ta thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và đến nay ý nghĩa sâu
sắc đó vẫn còn tác dụng. Bức tranh Đám cưới chuột [Phụ lục, hình 11] rất nổi
tiếng, cũng mang tính đả kích sâu sắc, đánh một đòn rất trúng, rất hiểm vạch mặt
bọn thống trị không hề khoan nhượng. Ngoài ra, các bức tranh khác về nội dung
châm biếm, đả kích thói hư tật xấu của bọn quan tham cũng như lũ giặc xâm lược
nước ta như: Tranh Trê và Cóc; Cóc múa kì lân; Chuột Tầu rước rồng vàng; hay
“Văn minh tiến bộ toa tăng xương - phong tục cải lương moa tăng phú” (nghĩa là:
Thời đại văn minh tiến bộ anh hãy cẩn thận; Phong tục thay đổi, tôi cóc cần),... Về
phương diện gia đình, tranh phê phán, đả kích cũng đa dạng, nhiều đối tượng,
nhiều khía cạnh. Tiêu biểu là tranh Đánh ghen, là bức tranh sinh hoạt dí dỏm mang
tính phê phán và giáo dục cao.
2.6.4
2.6.4.1


cơ bản các nghệ nhân vẫn tôn trọng các khuôn mẫu truyền thống, song có thay đổi,
cải biến một số họa tiết trang trí sao cho đỡ rườm rà, gợi cảm giác thanh thoát.
Tranh Tố nữ được cải biến về màu sắc, đường nét, kết hợp cả hai phong cách tranh
Đông Hồ và Hàng Trống. Nghệ nhân Trần Nhật Tấn trên cơ sở tranh Tố nữ truyền
thống đã sáng tác bộ tranh Tố nữ quan họ. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cải biến
tranh khắc gỗ dân gian (theo lối khắc in âm bản) thành tranh khắc gỗ (in khắc
dương bản) với hai màu đen, trắng. Nghệ nhân cho biết, có khá nhiều khách hàng
thích loại tranh này.

CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH CHO LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRANH DÂN
GIAN ĐÔNG HỒ

3.1 Tiềm năng du lịch của làng tranh Đông Hồ
-

Làng Đông Hồ vốn có nền tảng rất vững chắc để phát triển du lịch làng nghê. Nền
tảng đó là nghề thủ công truyền thống làm tranh đã tồn tại hơn 5 thế kỷ. Nghề làm,
vẽ tranh dân gian chính là tài nguyên nhân văn có giá trị to lớn của dân tộc Việt
Trang 17


Nam. Tuy trong thời gian gần đây, nghề làm tranh đã dần bị mai một nhưng công
cụ, cách thức vẽ chỉ còn lại duy nhất ở ngôi làng này. Không chỉ có nghề làm tranh
truyền thống, làng Đông Hồ còn có nhiều giá trị văn hóa tinh thần khác được thể
hiện qua ngày lễ, ngày hội (ngày hội Đông Hồ diễn ra vào các ngày 13,14,15
tháng 3 âm lịch). Không chỉ riêng Đông Hồ mà toàn tỉnh Bắc Ninh lễ hội diễn ra
liên tục từ tháng riêng, đến tháng tư âm lịch. Đây có thể nói là động lực để khách
du lịch đến Bắc Ninh nói chung và làng Đông Hồ nói riêng. Chính vì thế nơi đây
có thuận lợi về nguồn khách du lịch và có khả năng phát triển du lịch làng nghề rất

-

Cơ sở vật chất- kỹ thuật: Tuy hiện nay chỉ còn lại 3 gia đình theo nghề làm tranh
nhưng cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương và các nghành chức năng
đầu tư xây dựng cho làng tranh Đông Hồ một trung tâm giao lưu văn hóa, sưu tầm,
phục chế và phát triển tranh dân gian Đông Hồ, tạo điều kiện khôi phục nghề
truyền thống và phát triển du lịch hiệu quả. Năm 2006, đã đầu tư 2,5 tỷ đồng để
xây dựng, lưu giữ tranh dân gian Đông Hồ, nơi này có tổng diện tích là 2000 mét
Trang 18


vuông, bao gồm các hạng mục: sân, vườn sinh thái, khu trưng bày và khu sản xuất
tranh… với kiến trúc theo dạng nhà cổ vùng Bắc Bộ.

3.2

Đề xuất hướng phát triển của làng tranh Đông Hồ trong phát triển du lịch

3.2.1

Thực trạng khai thác của làng tranh dân gian Đông Hồ
Hiện nay cả làng Đông Hồ chỉ còn xót lại 3 nghệ nhân hay 3 gia đình còn
theo nghề truyền thống này, đó là: gia đình ông Nguyễn Hữu Sam, Nguyễn Đăng
Chế và Trần Nhật Tuấn. Vừa đến đầu làng Đông Hồ chúng ta có thể nhìn thấy
ngay khu triễn lãm tranh của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và ngay bên cạnh đó là
nhà của nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam và Trần Nhật Tuấn. Có thể nói rằng du
khách khi đến đây sẽ không thể nào tránh khỏi sự hụt hẫng và thất vọng vì ngôi
làng tuy không nhỏ nhưng đặt chân đến lại chỉ đi thăm quan 2, 3 nhà cạnh nhau,
không cố được cảm giác đi tham quan làng nghề mà chỉ giống như đi tham quan
một hay hai khu triễn lãm tranh, không thấy hết được giá trị làng quê nơi đây và

nghề.
 Có thể xây dựng nhiều cuốn phim truyền hình giới thiệu cho đông đảo quần
chúng nhân dân.
 Đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực: tổ chức các lớp đào tạo nghệ nhân, tạo điều
kiện thu hút nguốn lao động, khuyết khích họ phát triến, giúp đỡ để họ gắn bó
với nghề.
 Hoàn thiện năng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên tại làng Đông Hồ.
 Tuyên truyền về giá trị truyền thống tranh dân gian Đông Hồ như một di sản văn
hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
 Tăng cường quảng bá hình ảnh của làng Đông Hồ đến bạn bè trong và ngoài
nước.
 Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
 Tìm đầu ra cho tranh Đông Hồ.
-

Phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại làng nghề truyền thống tranh dân gian
Đông Hồ: Nhà nước và chính quyền địa phương phải hỗ trợ, giúp đỡ người dân để
người dân gắn bó với nghề, quy hoạch lại làng nghề môt cách thống nhất, đồng bộ
phục vụ cho phát triển du lịch, nhằm tạo tính đặc trưng duy nhất, thu hút sự thích
thú của du khách khi đến du lịch, người dân phải học cách làm du lịch một cách
khao học, có tri thức.

-

Gợi ý tour du lịch đến làng tranh Đông Hồ:






tích cực và là sự thích ứng trước thời đại mới. Thay đổi đó không làm mất đi đặc trưng cơ
bản của tranh dân gian Đông Hồ, hơn thế còn khẳng định được những bước đi riêng của
một làng tranh đang đứng trước nguy cơ bị mai một và thất truyền. Thách thức với làng
tranh Đông Hồ hiện nay là rất lớn, tuy chỉ còn hai gia đình nghệ nhân còn gắn bó với
nghề và quyết tâm bảo tồn, phát triển nghề tranh này, nhưng những việc họ làm thật ý
nghĩa và thật đáng trân trọng. Về mặt ý nghĩa, tranh Đông Hồ vẫn luôn là sản phẩm tinh
thần độc đáo của văn hóa và nghệ thuật Việt Nam, là đối tượng quan tâm tìm hiểu của
nhiều người ở trong và ngoài nước. Có thể khẳng định rằng tranh Đông Hồ là một nét đẹp
riêng, độc đáo, là những bức tranh lưu giữ hồn Việt và dẫu cho thời gian với những thăng
trầm lịch sử có làm mai một đi những bức tranh, làm phai mờ những nghệ nhân thì hồn
Việt ẩn chứa trong tranh vẫn luôn trường tồn mãi mãi.

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.A. Radugin (chủ biên) (2002), Từ điển bách khoa văn hóa học, người dịch Vũ
Đình Phòng, Viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
2. Phạm Côn Sơn (2004) Làng nghề truyền thống Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá
dân tộc.
3. Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam”
tháng 8/1996.

Trang 21


4. Tiến sĩ Mai Thế Hởn, giáo sư, tiến sĩ Hoàng Ngọc Hòa, phó giáo sư, tiến sĩ Vũ
Văn Phúc, Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (2003), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Bạch thị Lan –luận án cấp trường : Phát triển bền vững làng nghề truyền thống
vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ(2011).
6. Nguyễn Bá Vân, Chu Quang Chứ (1984), Tranh dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa
dân tộc.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status