1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
TÌM HIỂU VỀ LÀNG NGHỀ NUÔI RẮN
Ở XÃ VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH
VĨNH PHÚC (1986- 2008)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI - 2012
HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: MỘT VÀI NÉT VỀ XÃ VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH TƯỜNG,
TỈNH VĨNH PHÚC 13
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên 13
1.1.1. Vị trí địa lý 13
1.1.2. Thời tiết, khí hậ u 14
1.1.3. Địa hình, đất đai 15
1.2. Tình hình kinh tế- xã hội 18
1.2.1. Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn 18
1.2.2. Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Vĩnh Sơn 20
1.3. Nghề nuôi rắn 22
1.3.1. Một số khái niệm 22
1.3.2. Vai trò của ngành chăn nuôi nói chung và nghề nuôi rắn nói riêng
trong phát triển kinh tế 23
Chương 2: NGHỀ NUÔI RẮN Ở XÃ VĨNH SƠN TRONG
NHỮNG NĂM 1986- 2008 26
2.1. Tình hình nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trước 1986 26
2.2. Sự phát triển của nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong những năm
3.3.7. Về phát triển sản phẩm và nguồn nhân lực 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
5 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH-KT
:
Khoa học kỹ thuật
TNHH
:
Trách nhiệm hữu hạn
CM – KT
:
Chuyên môn – kỹ thuật
KH- CN
:
Khoa học công nghệ
ĐVT
:
Đơn vị tính
UBND
:
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm
2006 – 2008 16
Bảng 1.2. Tình hình hộ khẩu và lao động xã Vĩnh Sơn qua 3 năm
(2006 – 2008) 19
Bảng 1.3. Tình hình cơ sở hạ tầng của xã tính đến tháng 12 năm 2008 21
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2006 – 2008) 32
Bảng 2.2: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm 2006 – 2008 33
Bảng 2.3 Thông tin chung của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn
năm 2008 36
Bảng 2.4. Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn
năm 2008 37
Bảng 2.5. Tình hình nuôi rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn
năm 2008 40
Bảng 2.6. Tình hình chi phí chăn nuôi rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã
Vĩnh Sơn năm 2008 42
Bảng 2.7. Tổng giá trị sản xuất một số loại sản phẩm rắn của các nhóm
hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 47
Bảng 2.8. Kết quả và hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn của các nhóm hộ
điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 55
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Cấu trúc hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm rắn của các nhóm
hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn 49
Sơ đồ 3.1 Mô hình liên kết bốn nhà trong sản xuất 72
7
8
kinh tế, thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn, tăng thêm lượng hàng
hoá và gia tăng tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Nghị quyết TW5 khoá 9 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001- 2005 đã đề ra nhiều giải pháp phát triển
công nghiệp nông thôn, trong đó chỉ rõ “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp…” và nhấn mạnh “Nhà nước
hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạnh các nhàng công nghiệp ở nông thôn, nhất
là công nghiệp chế biến Nông- Lâm- thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên
liệu tại chỗ cần nhiều lao động như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp
khai thác mỏ, dệt may, da giầy, có khí lắp ráp, sửa chữa…” [5, tr 2]
Như vậy, đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở khu vực nông thôn trong
đó có làng nghề là khâu mấu chốt trong việc thúc đẩy nền kinh tế.
Làng nghề trong lịch sử nước ta có nhiều: làng thuần nông, làng buôn,
làng thủ công…phát triển làng nghề sẽ góp phần củng cố kinh tế hộ gia đình,
đồng thời góp phần giải quyết nguồn nhân lực dư thừa tại chỗ (hạn chế sự lưu
động dân cư). Do vậy, phát triển nông thôn có vai trò hết sức quan trọng và có
ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung của cả nước,
việc nghiên cứu làng nghề thực sự có ý nghĩa thời sự và thực tiễn.
Đất nước ta sau hơn hai mươi năm đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành
kinh tế đã phát huy được tính năng động và tiềm lực sẵn có để tạo nên một
bức tranh kinh tế toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần đẩy mạnh công
cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Với mục tiêu cơ bản trở thành
nước công nghiệp vào năm 2020, trước hết nước ta cần phải đẩy nhanh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt là phát triển các
thạc sĩ sử học của mình. 10
Do điều kiện có hạn và với phạm vi yêu cầu của một đề tài luận văn
thạc sĩ, chúng tôi đi sâu nghiên cứu làng nghề nuôi rắn Vĩnh Sơn giai đoạn
1986- 2008. Đây là làng nghề chăn nuôi tiêu biểu ở tỉnh Vĩnh Phúc.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những thông tin, tư liệu,
những hiểu biết cụ thể, đúng đắn về làng nghề.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở trình bày sự phát triển của nghề nuôi rắn tại xã Vĩnh Sơn,
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó góp phần xây dựng nông thôn mới
ở địa phương.
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong nghề nuôi
rắn ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian qua.
+ Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn
ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian tới.
+ Nghiên cứu làng nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn sẽ góp thêm tư liệu và có cơ
sở khoa học cho việc biên soạn lịch sử địa phương, địa chí của huyện, trước mắt
phục vụ công tác phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Vĩnh Sơn- huyện Vĩnh Tường -
tỉnh Vĩnh Phúc.
Do thời gian và điều kiện có hạn nên số liệu phục vụ cho mục đích
nghiên cứu của đề tài được thu thập chủ yếu trong ba năm 2006, 2007 và
2008. Tập trung nghiên cứu, phân tích sự phát triển của nghề nuôi rắn.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghề nuôi rắn là một nghề không mới nhưng những năm gần đây mới
được chú trọng phát triển, vì vậy những nghiên cứu về nghề nuôi rắn là không
nhiều. Một số nghiên cứu trước đây như:
huyện - xã, ban địa chính của huyện.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương 12
Chương 1: Một vài nét về xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 2: Nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong những năm 1986- 2008.
Chương 3: Nhận xét và một số kiến nghị giải pháp để tiếp tục phát triển
làng nghề. 13
Chương 1:
MỘT VÀI NÉT VỀ XÃ VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH TƯỜNG,
TỈNH VĨNH PHÚC
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Vĩnh Sơn là xã nằm ở trung tâm của huyện Vĩnh tường, diện tích tự
nhiên 327.34ha, trong đó 231,45ha là đất nông nghiệp, dân số 5483 người.
nằm cách quốc lộ 2 khoảng 3km về phía Tây Nam, Vĩnh Sơn có đường biên
giới tiếp giáp với 5 xã. Bắc giáp Đại Đồng, Tây giáp Thổ Tang và Thượng
Trưng, Nam giáp Vũ Di, Đông giáp Bình Dương. Huyện lộ Thổ Tang đi Bình
Dương ra đường 13 chạy qua giữa xã là đường trục chính của Vĩnh Sơn.
Giống như một xã trong huyện, Vĩnh Sơn cũng có những tên gọi khác
nhau qua các thời kỳ.
Từ xưa, sau khi lập tỉnh Vĩnh Yên (1889) thì Sơn Tang, Lương Trù
nằm trong tổng Lương Điền gồm: Sơn Tang, Lương Trù, phương Viên, Đông
Viên, Lương Điền, Lach Trung, Phong Doanh, Thổ Tang, Vân Ổ, Xuân Húc,
thống kênh mương tưới tiêu.
Sau cách mạng, hệ thống kênh mương được chú trọng hơn, hiện nay, đã
có hệ thống kênh mương dẫn nước từ Liễn Sơn về và hệ thống kênh mương từ
3 trạm bơm điện từ sông Phan lên do vậy toàn bộ diện tích gieo trồng được
tưới và 1 trạm bơm tiêu úng cho cánh đồng. Từ đó, toàn bộ diện tích được
tưới tiêu chủ động, không bị úng, hạn, năng suất cây trồng tăng nhanh.
Xã Vĩnh Sơn chịu ảnh hưởng chủ yếu của đặc điểm khí hậu nhiệt đới
gió mùa. Có hai đợt gió mùa chính: Mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc tràn về mang theo hơi lạnh, mùa hè lại chịu ảnh hưởng của gió mùa
Tây Nam tạo ra khoảng thời gian nắng nóng. Nhiệt độ cao trung bình hàng
năm là 24,9
o
C, nhiệt độ trung bình thấp là 17,9
o
C. Tháng có nhiệt độ thấp
nhất là vào tháng 12, có lúc nhiệt độ xuống tới 14
o
C. Tháng có nhiệt độ cao là
vào tháng 9 – 10, nhiệt độ trung bình là 22,4
o
C. Độ ẩm trung bình hàng năm
là 80%, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.526mm, số ngày mưa trung bình
một năm là 133 ngày. Bên cạnh đó, đây cũng là vùng chịu nhiều ảnh hưởng
của mưa bão (vào tháng 7 - 8) như đổ nhà cửa, tàn phá hoa màu gây thiệt hại
không chỉ tới kinh tế mà tới cả đời sống người dân. 15
1.1.3. Địa hình, đất đai
Xã Vĩnh Sơn là một xã thuộc vùng đồng bằng nên có địa hình bằng
100
327,34
100
327,34
100
100,0
100,0
100,0
1. Đất nông nghiệp
231,45
70,7
230,45
70,4
236,27
72,18
99,6
102,5
101,1
- Đất canh tác
210,53
91,0
210,53
91,4
226,42
95,83
100
107,5
103,7
- Đất nuôi trồng thủy sản
11,4
69,2
66,9
69,0
63,14
69,33
100,8
94,4
97,5
Trong đó diện tích nuôi rắn
8,6
12,9
8,85
13,2
9,1
14,41
102,9
102,8
102,9
- Đất chuyên dùng
7,6
7,9
7,6
7,8
7,6
8,35
100,0
100,0
100,0
- Đất phi nông nghiệp khác
21,89
Tổng diện tích đất phi nông nghiệp năm 2008 là 91,07 ha giảm 6% so
với năm 2007, bình quân mỗi năm giảm 2,5%. Trong đó đất thổ cư giảm từ
66,9 ha xuống còn 63,14 ha (năm 2008), diện tích đất thổ cư giảm do xã tiến
hành xây dựng 5 nhà văn hóa thôn và các công trình phúc lợi xã hội. Bên
cạnh đó các hộ vẫn mở rộng diện tích gây nuôi rắn nên diện tích gây nuôi rắn
hàng năm vẫn tăng lên. Năm 2006, diện tích gây nuôi rắn là 8,6 ha đến năm
2008 diện tích gây nuôi rắn là 9,1 ha, bình quân mỗi năm tăng 2,9%. Điều này
chứng tỏ nghề nuôi rắn truyền thống vẫn được các hộ dân trong xã duy trì và
phát triển với quy mô ngày càng được mở rộng. 18
1.2. Tình hình kinh tế- xã hội
1.2.1. Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn
Lao động là một nhân tố quan trọng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho
xã hội trong sản xuất cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Tình hình biến động về nhân khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn được thể hiện
ở bảng 1.2. 19
Bảng 1.2. Tình hình hộ khẩu và lao động xã Vĩnh Sơn qua 3 năm (2006 – 2008)
Chỉ tiêu
ĐVT
2006
2007
2008
So sánh (%)
SL
1. LĐ làm nghề rắn
LĐ
1842
47,3
1943
48,9
2145
52,9
105,5
110,4
107,9
2. LĐ khác
LĐ
2055
52,7
2028
51,1
1910
47,1
98,7
94,2
96,4
III. Tổng số hộ
Hộ
1228
100
1295
100
1304
100
38,2
454
27,1
103,6
91,7
97,5
IV. Một số chỉ tiêu khác
1. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
%
1,7
1,51
1,7
–
–
–
2. Tỷ lệ sinh con thứ ba
%
–
5. Tỷ lệ hộ gia đình đạt gia đình văn hóa
%
46,7
73,4
74,8
–
–
–
Nguồn: Ban Thống kê xã Vĩnh Sơn 20
Qua bảng 1.2 ta thấy tổng số nhân khẩu của xã năm 2008 giảm đi so
với năm 2007, nhưng số lao động năm 2008 lại tăng so với năm 2007. Năm
2007 số lao động là 3970 lao động, năm 2008 tăng lên là 4055 lao động, bình
quân mỗi năm tăng 2%. Cùng với đó là sự tăng lên của lao động làm nghề
rắn. Năm 2006 số lao động làm nghề rắn là 1842 lao động chiếm 47,3 % tổng
số lao động, năm 2008 là 2145 lao động chiếm 52,9% tổng lao động toàn xã,
bình quân mỗi năm tăng 7,9%. Điều này chứng tỏ hơn một nửa số lao động
của xã Vĩnh Sơn tập trung vào nghề nuôi rắn và chế biến các sản phẩm từ rắn
truyền thống. Nghề nuôi rằn truyền thống đã giúp cho người dân đảm bảo và
ổn định cuộc sống.
Bên cạnh đó là sự tăng lên của các hộ nuôi rắn. Năm 2006, số hộ nuôi
rắn là 750 hộ chiếm 61,1% tổng số hộ thì tới năm 2008 số hộ nuôi rắn đã tăng
lên tới 950 hộ chiếm 72,9%, bình quân mỗi năm tăng 12,5%. Các hộ nuôi rắn
- Đường cấp phối, lát gạch
m
7809
2. Thủy lợi - Trạm bơm
Trạm
2
- Kênh mương cứng hóa
m
4235
3. Điện - Trạm biến áp
Trạm
2
- Tỷ lệ hộ dùng điện
%
100
4. Chợ nông thôn
Chợ
1
5. Hợp tác xã chăn nuôi rắn
HTX
3
6. Trại rắn trung tâm
Trại
1
nước tưới kịp thời cho 100% diện tích đất gieo trồng. Hệ thống mương máng
luôn được chỉ đạo nạo vét, sửa chữa, từng bước được nâng cao. Đến năm
2010, số kênh mương cứng hóa của xã lên tới 4235 m, còn lại vẫn là kênh
mương đất. Đây cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng của các
trạm bơm. 22
Công trình điện: hệ thống điện của xã đầy đủ, đáp ứng 100% nhu cầu
sử dụng điện để sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong toàn xã. Hiện nay xã
có 2 trạm biến áp phục vụ nhu cầu điện cho toàn xã.
Xã có một chợ nhỏ phục vụ nhu cầu trao đổi mua bán của nhân dân
trong xã. Hiện nay xã chỉ mới có 1 trại rắn trung tâm, 3 HTX rắn, tuy hoạt
động rất có hiệu quả nhưng vẫn chưa thể đáp ứng tối đa các nhu cầu của các
hộ nuôi rắn trong xã.
Các công trình phúc lợi:
Giáo dục là vấn đề luôn được xã quan tâm và chú trọng. Năm 2008 đã
nghiệm thu và đi vào sử dụng trường mầm non. Hiện nay xã tiếp tục triển
khai xây dựng 9 phòng học bộ môn và nhà điều hành trường trung học cơ sở,
8 phòng học trường tiểu học. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác
giáo dục của các nhà trường từng bước được đầu tư nâng cấp. Phương pháp
giáo dục luôn được cải tiến. Đội ngũ giáo viên thường xuyên được đào tạo bồi
dưỡng nâng cao trình độ, đến nay 100% giáo viên của cả 3 trường đề đạt
chuẩn và trên chuẩn. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên.
Bên cạnh đó xã cũng đang tiến hành hoàn thiện và đi vào sử dụng 5 nhà
văn hóa thôn phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân trong toàn xã.
Xã có 1 trạm y tế đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho
người dân. Công tác tiểm chủng mở rộng luôn được coi trọng, tỷ lệ tiêm
chủng cho các đối tượng đều đạt 100%.
1.3. Nghề nuôi rắn
Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó
góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hóa cho xuất
khẩu.Tùy theo lợi thế so sánh của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu các sản
phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu
ngoại tệ hay trao đổi để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Vì vậy sự phát triển của ngành chăn
nuôi sẽ ảnh hưởng tới sự phân bổ và phát triển của các ngành sản xuất khác.
Chăn nuôi không những cung cấp nguốn sản phẩm hàng hóa cho thị
trường trong nước và cho xuất khẩu mà còn giúp sử dụng một cách đầy đủ 24
hợp lý lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn. Do đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong
nông nghiệp lại chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số lao động của nước
ta và các nước đang phát triển khác. Lực lượng lao động này có một thời gian
nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra. Vì vậy việc phát
triển ngành chăn nuôi đã tạo công ăn việc làm cho người nông dân và giúp họ
tăng thêm thu nhập nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đối với ngành sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan
trọng. Trong sản xuất nông nghiệp thì hai ngành chính cấu thành nên nó là
trồng trọt và chăn nuôi. Hai ngành này có mối liên hệ mật thiết với nhau thúc
đẩy nhau cùng phát triển.
Một nền nông nghiệp phát triển bền vững và ổn định là nền nông
nghiệp có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt và chăn
nuôi. Trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển, ngược lại
chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng trọt. Nguồn phân hữu
cơ mà ngành chăn nuôi cung cấp cho ngành trồng trọt có vai trò hết sức quan
trọng. Do vậy để có một nền nông nghiệp bền vững thì không thể coi nhẹ vai
trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp.
kinh tế quốc dân.