giải pháp phát triển bền vững làng nghề nuôi rắn tại xã vĩnh sơn huyện vĩnh tường tỉnh vĩnh phúc - Pdf 22

bộ giáo dục và đào tạo

trờng đạI học nông nghiệp Hà NộI

Nguyễn Huy Hải
GII PHP PHT TRIN BN VNG LNG NGH
NUễI RN TI X VNH SN, HUYN VNH TNG,
TNH VNH PHC luận văn thạc sĩ kinh tế Chuyên ngành: kinh tế nông nghiệp
Mã số : 60.31.10

Ngời hớng dẫn : PGS.TS. NGUYễN HữU NGOAN Hà Nội - 2010
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s kinh t
iLI CAM OAN

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng
nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn Nguyễn Huy Hải

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
iiiMỤC LỤC

Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
1. MỞ ðẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.2 Cơ sở thực tiễn 27
2.3 Tình hình gây nuôi sinh sản Rắn 33

4.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm rắn của các hộ ñiều tra 92
4.3.1 Thị trường tiêu thụ 92
4.3.2 Kết quả tiêu thụ 94
4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chăn nuôi rắn 96
4.4.1 Thuận lợi 96
4.4.2 Khó khăn 97
4.5 ðịnh hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc ñẩy quá trình
chăn nuôi rắn 98
4.5.1 ðịnh hướng 98
4.5.2 Một số giải pháp 100
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
5.1 Kết luận 105
5.2 Kiến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 118
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
vDANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang

3.1 Tình hình ñất ñai của xã vĩnh sơn qua 3 năm ( 2007-2009 ) 56
3.2 Tình hình dân số và lao ñộng trong xã từ năm 2007-2009 58
3.3 Thông tin chung về chăn nuôi rắn của xã Vĩnh Sơn 63
4.1 Quy mô chăn nuôi rắn của xã Vĩnh Sơn qua 3 năm 2007- 2009 69
4.2 Thống kê lao ñộng kỹ thuật chăn nuôi rắn của các hộ ñiều tra qua
3 năm (2007 -2007) 71
4.3 Tình hình ñầu tư chăn nuôi rắn của các hộ ñiều tra năm 2009 76
4.4 Một số chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả chăn nuôi rắn của các hộ

xu hướng ngày càng giảm mạnh theo tốc ñộ ñô thị hoá, công nghiệp hoá ñất
nước. Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao ñộng. Ngành nghề phi nông
nghiệp phát triển chậm, lao ñộng thủ công vẫn là chủ yếu, cơ sở hạ tầng kém
phát triển.
Do vậy việc mở rộng và phát triển các ngành nghề mới, khôi phục và
phát triển các làng nghề truyền thống sẽ tạo nhiều việc làm, thu hẹp và tiến tới
xoá bỏ ñói nghèo, nâng cao ñời sống của người dân, ñồng thời rút ngắn sự
cách biệt giữa thành thị và nông thôn.
Trong những năm gần ñây nhu cầu hưởng thụ những sản phẩm ñặc sản
của thực khách trong và ngoài nước ngày càng tăng, do ñó việc gây nuôi
những cây, con ñặc sản nhằn cung cấp cho thị trường là một hướng ñi hiệu
quả, góp phần tích cực vào việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giải
quyết việc làm tại chỗ cho người dân nông thôn và gián tiếp hạn chế nạn khai
thác bừa bãi rắn trong tự nhiên, từ ñó tạo ñiều kiện thực hiện tốt chính sách
xoá ñói, giảm nghèo của ðảng và nhà nước.
Việc phát triển nghề chăn nuôi rắn truyền thống của làng nghề nuôi rắn
tại xã Vĩnh Sơn - huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc ñã tạo ra nhiều công ăn
việc làm cho phần lớn lực lượng lao ñộng trên ñịa bàn, tăng thêm thu nhập,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
2giúp nhiều gia ñình thoát nghèo và vươn lên giàu có, ñáp ứng nhu cầu ngày
càng cao về văn hoá ẩm thực cũng như cung cấp phần lớn nguyên liệu cho
ngành y dược trong nước và xuất khẩu.
Vĩnh Sơn là xã ñất chật, người ñông, diện tích canh tác bình quân trên
khẩu chưa ñầy 500 m
2
. Chăn nuôi rắn là nghề truyền thống của ñịa phương.
Hiện nay có 973 hộ nuôi rắn/ 1175 ≈ 83% số hộ trong toàn xã và ñã ñược

và mở rộng thị trường tiêu thụ rắn của làng nghề rắn Vĩnh Sơn - huyện Vĩnh
Tường - tỉnh Vĩnh Phúc, ñảm bảo làng nghề phát triển bền vững.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
+ Vị trí, vai trò của làng nghề và lịch sử phát triển làng nghề ở Việt Nam?
+ Việc phát triển làng nghề nuôi rắn có gì giống và khác với các làng
nghề khác như thế nào?
+ Phát triển bền vững làng nghề nuôi rắn là như thế nào?
+ Những giải pháp nào nâng cao hiệu quả hoạt ñộng nuôi, chế biến và
tiêu thụ rắn?
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Nghiên cứu toàn bộ hoạt ñộng nuôi, chế biến và tiêu thụ các loại rắn
hiện có trên ñịa bàn.
+ Nghiên cứu những tác ñộng của việc chăn nuôi rắn ñến phát triển
kinh tế - xã hội và môi trường của xã Vĩnh Sơn.
- Về không gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tại xã Vĩnh Sơn -
huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Thời gian nghiên cứu:
+ Các số liệu phân tích lấy trong 3 năm, từ năm 2007 ñến năm 2009.
+ Thời gian thực hiện ñề tài từ tháng 9 năm 2009 ñến tháng 10 năm
2010. Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
42. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

văn hóa riêng ñể hoạch ñịnh chiến lược phù hợp nhất với quốc gia ñó.
- Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn
những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng ñáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai. ðó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn
tài nguyên ñược tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự ña dạng
sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên ñối với cuộc sống của con
người, ñộng vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này
tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sình
thái mà còn ñi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình ñẳng
giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm chí nó còn bao hàm
sự cần thiết giải trừ quân bị, coi ñây là ñiều kiện tiên quyết nhằm giải phóng
nguồn tài chính cần thiết ñể áp dụng khái niệm phát triển bền vững
Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" ñược. ðề cập trong báo cáo
Brundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh
tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi
trường. Nội dung khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội,
ñặc biệt là bình ñẳng xã hội. Với ý nghĩa này, nó ñược xem là "tiếng chuông"
hay nói cách khác là "tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong
thế giới ñương ñại.
Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó ñã gây ñược sự chú ý và thu hút
sự quan tâm của toàn nhân loại (các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ,
ñảng phái chính trị, các nhà tư tưởng, các phong trào xã hội, và ñặc biệt là
giới khoa học với việc làm dấy lên các tranh luận về khái niệm này mà ñến
nay vẫn chưa ngã ngũ).
Một số quan ñiềm cho rằng khái niệm "Phát triển bền vững” mới chỉ
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
6dừng lại ở cấp ñộ lý thuyết mơ hồ và phức tạp. Theo chúng tôi, khái niệm này

trường cho phát triển bền vững. Công trình này ñã xác ñịnh phát triển bền vững
qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa, ñã
tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế,
xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác
ña lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội
của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen
(1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của Worl Bank.
2.1.2 Tổng quan về làng nghề
2.1.2.1 Khái niệm làng nghề
Cho ñến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề, theo
giáo sư Trần Quốc Vượng thì: Làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà,
Phù Lãng, Hương Canh làng giấy vùng Bưởi, Dương Ổ làng rèn sắt Canh
Diễn, Phù Dực, ða Hội ) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và
chăn nuôi nhỏ song ñã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp
thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp có phường, có ông trùm, ông
phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, ñã chuyên tâm, có quy trình công nghệ
nhất ñịnh sống chủ yếu bằng nghề ñó và sản xuất ra những mặt hàng thủ
công, những mặt hàng ñã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng hoá và có
quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và tiến tới mở rộng ra
cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều ñã
nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng ñã ñi vào lịch sử, vào ca
dao tục ngữ” trở thành văn hoá dân gian.
Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ
truyền thủ công, ở ñấy không nhất thiết tất cả dân làng ñều sản xuất hàng thủ
công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng ñồng thời là người làm nghề
nông nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao ñã tạo ra những người thợ chuyên
sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình ”
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
8

2.1.2.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng nghề xuất hiện từ lâu ñời và còn tồn tại
ñến ngày nay. Có làng nghề tồn tại hàng trăm năm, hàng nghìn năm nó liên
quan chặt chẽ ñến các yếu tố truyền thống và kinh nghiệm dân gian ñược tích
luỹ lại và ñược truyền từ ñời này sang ñời khác (có tính chất truyền nghề).
- Làng nghề mới là những làng nghề ra ñời do sự ảnh hưởng của các
làng nghề truyền thống và sự gắn kết giữa sản xuất với tiêu dùng xã hội mà
ñòi hỏi phải tổ chức một cách chuyên môn hoá cao ñể ñáp ứng nhu cầu việc
làm, sản xuất và thị trường.
ðể thống nhất các tiêu chí xác ñịnh làng nghề nông thôn trong quá trình tổ
chức các loại hình sản xuất kinh doanh làng nghề nông thôn hiện nay, ngày
18/12/2009 Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành thông tư số 116/2009/TT-BNN.
Làng nghề rắn Vĩnh Sơn ñã ñược UBND Tỉnh Vĩnh Phúc công nhận là
làng nghề truyền thống tại quyết ñịnh số 3120/Qð-UBND ngày 24/11/2006.
Tuy nhiên ñây là làng nghề truyền thống ñặc thù, nuôi một trong những loài
vật hoang dã (rắn) rất có giá trị, việc phát triển và mở rộng làng nghề nuôi rắn
ñem lại nguồn thu nhập rất lớn cho nhân dân là rất cần thiết, nhưng việc mở
rộng gây nuôi này cũng cần có quy hoạch cụ thể, cần có sự phát triển bền
vững cả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và ñặc biệt không làm ảnh hưởng
gây mất cân bằng hệ sinh thái.
2.1.2.2 ðặc ñiểm, con ñường hình thành của làng nghề
2.1.2.1 ðặc ñiểm của làng nghề
Khi nói ñến làng nghề, thường có sự so sánh ñặc ñiểm của nó với làng
thuần nông hoặc phố nghề (tiểu thủ công nghiệp ở ñô thị). Trong lịch sử phát
triển, do xuất phát ñiểm từ nền nông nghiệp tự túc và nông thôn phát triển ở
trình ñộ thấp, có thể thấy những ñặc ñiểm nổi bật của làng nghề hiện nay là:
ra ñời, phát triển ở nông thôn và có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp; lao
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
11thế hoàn toàn bằng công nghệ hiện ñại và phải có sự kết hợp giữa công nghệ
truyền thống và công nghệ hiện ñại trong quá trình sản xuất.
ðể tồn tại, sản xuất trong làng nghề phải có sự kết hợp công nghệ hiện
ñại ở những công ñoạn nhất ñịnh với kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất thủ công
theo hướng tiểu công nghiệp hiện ñại, thủ công nghiệp tinh xảo. ðối với
những làng nghề truyền thống, công nghệ có sự cải tiến, song vẫn mang yếu
tố truyền thống. ðặc ñiểm này tồn tại trong suốt quá trình CNH, HðH nông
nghiệp nông thôn kể cả khi quá trình này hình thành.
c. ðại bộ phận nguyên liệu của làng nghề thường là tại chỗ hoặc vùng lân cận
Làng nghề truyền thống ñược hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn
nguyên liệu tại chỗ, trên ñịa bàn ñịa phương. ðặc biệt, nghề truyền thống sản
xuất những sản phẩm tiêu dùng (làm tương ) nguyên liệu thường có tại chỗ,
trên ñịa bàn ñịa phương.
d. Phần ñông lao ñộng trong làng nghề là lao ñộng thủ công, nhờ vào kỹ
thuật khéo léo, tinh xảo của ñôi bàn tay và ñầy tính sáng tạo của người
thợ, của các nghệ nhân. Phương pháp dạy nghề chủ yếu ñược thực hiện
theo phương thức truyền nghề
Lao ñộng trong làng nghề ñặc biệt là làng nghề truyền thống, chủ yếu là
lao ñộng thủ công nhờ vào kỹ thuật khéo léo. Trước kia, do trình ñộ khoa học
và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công ñoạn trong quy trình sản
xuất ñều là lao ñộng thủ công, giản ñơn. Ngày nay cùng với sự phát triển của
khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều
công ñoạn trong sản xuất làng nghề, ñã giảm bớt lực lượng lao ñộng thủ công
giản ñơn. Tuy nhiên, một số công ñoạn trong quá trình sản xuất vẫn phải duy
trì kỹ thuật lao ñộng thủ công tinh xảo. Hầu hết các làng nghề dù hình thành
bằng con ñường nào ñi chăng nữa thì chúng ñều có các nghệ nhân làm nòng

làng nghề sản xuất tương Bần ñã ñứng trước những khó khăn không nhỏ và
nhiều hộ sản xuất trong làng nghề ñã lâm vào tình trạng ñiêu ñứng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
13h. Hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ gia ñình,
một số ñã có sự phát triển thành tổ chức khác nhau - doanh nghiệp tư nhân
Với hình thức này, hầu như tất cả các thành viên trong hộ ñều ñược huy
ñộng vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh.
Người chủ gia ñình thường ñồng thời là người thợ cả, người quản lý mà trong
số họ có không ít nghệ nhân. Tổ chức sản xuất - kinh doanh theo hộ gia ñình
ñảm bảo ñược sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy ñộng ñược mọi
lực lượng có khả năng lao ñộng tham gia sản xuất - kinh doanh, tận dụng
ñược thời gian và nhu cầu ñầu tư thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất).
ðây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ. Từ khi thực hiện
phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, nhiều hộ gia ñình ñã mạnh dạn ñầu
tư về mọi mặt ñể thành lập doanh nghiệp nhằm ñáp ứng yếu tố sản xuất, thị
trường cho các sản phẩm của làng nghề
i. Khả năng tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn
Hiện nay, nguồn vốn ñể các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề
phát triển sản xuất chủ yếu là vốn tự có và ñi vay trong làng, nhất là của
những người họ hàng. Trong những năm vừa qua, lượng vốn mà làng nghề
vay của các tổ chức tín dụng ñã tăng lên, song vẫn chưa ñáp ứng ñược yêu
cầu. Trong quá trình phát triển làng nghề sẽ tạo ñiều kiện thuận lợi hơn khi
tiếp cận các nguồn vốn, nguồn vốn ñầu tư từ ñó mở rộng phát triển sản xuất.
2.1.2.2 Quá trình hình thành của làng nghề
Khảo sát, nghiên cứu về các làng nghề cho thấy, dù ñó là làng nghề gì,
sản xuất - kinh doanh mặt hàng bao nhiêu, thành lập từ bao giờ, tuy thời ñiểm
xuất hiện của chúng có khác nhau nhưng tựu chung lại chúng thường xuất

Xuân Tín của làng vàng bạc Châu Khê (Hải Dương), tổ nghề Lưu Công Hành
của làng thêu Quất ðộng (Hà Tây), tổ nghề Phạm ðông Lễ của làng chiếu
ðông Lễ (Thái Bình)…
Một số người có cơ hội ñi lại sinh sống ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
15tập quán sản xuất ở nhiều ñịa phương, trong ñó có những nghề thủ công thích
hợp với họ và quê hương họ. Quá trình tiếp xúc và sinh sống ở những ñịa
phương này ñồng thời cũng là quá trình mày mò, học hỏi, lắm vững nghề kỹ
thuật thủ công, tạo cho họ khả năng sản xuất ñộc lập. Sau khi học ñược nghề
họ quay về quê mình sản xuất và từ ñó lan truyền dần hình thành làng nghề
khi có ñược những ñiều kiện thuận lợi về kinh tế - xã hội.
Bốn là, một số làng nghề mới ñược hình thành trong những năm gần
ñây (thời kỳ từ 1954 lại nay) ñược hình thành một cách có chủ ý, do các ñịa
phương thực hiện chủ trương phát triển nghề phụ trong các HTX nông
nghiệp, phát triển TTCN trong nông thôn, nên ñã cho thợ ñi học nghề tại các
trường dạy nghề hoặc tới các làng nghề khác học nghề rồi về làm và dạy cho
những người khác. Phần lớn các làng nghề mới ở miền Bắc, ñược hình thành
trong thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung - bao cấp, hợp tác hoá nông nghiệp,
ñều ñược hình thành trên cơ sở tổ, ñội, HTX ngành nghề như vậy.
Năm là, trong thời kỳ ñổi mới nền kinh tế ñang chuyển dịch theo cơ
chế thị trường nhiều làng nghề ñược hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ
một số làng nghề truyền thống, tạo thành một cụm làng nghề trên một vùng
lãnh thổ lân cận làng nghề truyền thống. Con ñường hình thành này dựa trên
cơ sở sự phục hồi và phát triển mạnh của một số làng nghề truyền thống.Các
cơ sở, hộ gia ñình trong các làng nghề ñó thuê thêm người làm ở các làng lân
cận. Những người này sau một thời gian làm thuê và làm ñược việc, trở về
làng mở nghề sản xuất ñộc lập, dần lan truyền khắp làng và trở thành làng

lao ñộng thuê ngoài là 3.070 lao ñộng. Năm 1998, các làng nghề ở Hưng Yên
ñã giải quyết cho 12.391 lao ñộng. Năm 1997, các làng nghề ở Hà Tây ñã giải
quyết việc làm cho 113.956 lao ñộng. Năm 1998, lao ñộng trong các ngành
nghề TTCN ở Vĩnh Phúc khoảng 22.000 lao ñộng…
Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) ngoài việc giải quyết việc làm cho gần
2.430 lao ñộng của xã còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5.500 – 6.000
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
17lao ñộng của các khu vực lân cận ñến làm thuê hàng năm Nghề sản xuất da
và giả da ở làng Kiêu Kỵ (Hà Nội) thu hút tới 1.400 lao ñộng của làng vào
làm việc.
2.1.3.2 Tăng giá trị sản phẩm hàng hoá
Sự phục hồi và phát triển các làng nghề có ý nghĩa rất quan trọng ñối
với phát triển kinh tế ñịa phương. Với quy mô nhỏ bé, hàng năm làng nghề
cũng ñã sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, ñóng góp
ñáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho ñịa phương nói riêng. Sản
phẩm của làng nghề là nhân tố quan trọng thúc ñẩy phát triển sản xuất hàng
hoá ở nông thôn.
Chẳng hạn, tổng giá trị sản phẩm hàng hoá của các làng nghề tỉnh Nam
ðịnh ñạt khoảng 224 tỷ ñồng/năm, riêng 3 làng Vân Chàng, ðồng Côi, Thôn
Tư của xã Nam Giang ñạt giá trị hàng hoá 50 tỷ ñồng/năm, làng nghề Xuân
Tiến ñạt 22,2 tỷ ñồng/năm, làng nghề Yêu Xá ñạt 16 tỷ ñồng/năm… Năm
1997, giá trị sản phẩm hàng hoá của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh ñạt 193,3 tỷ
ñồng, riêng làng mộc mỹ nghệ ðồng Kỵ ñạt giá trị hàng hoá 30 tỷ ñồng/năm…
Làng nghề gốm sứ Bát Tràng, năm 1997 giá trị sản phẩm hàng hoá tiểu thủ
công nghiệp ñạt 83,9 tỷ ñồng, doanh thu dịch vụ ñạt 14,4 tỷ ñồng.
Tỷ trọng hàng hoá ở làng nghề cao hơn rất nhiều so với các làng thuần
nông khác. Nếu ñem so sánh những ñịa phương có nhiều làng nghề thì kinh tế

khoảng xấp xỉ 75% tổng giá trị công nghiệp ñịa phương toàn tỉnh. Tỷ lệ tương
ứng ñó ở Bắc Ninh là 73,7%, ở Hà Nam và Nam ðịnh là 69,9%. Làng Trai
Trang (Hưng Yên) thu nhập từ ngành nghề phi nông nghiệp chiếm tới gần
80% thu nhập của xã. Làng Bát Tràng (Hà Nội) thu nhập từ ngành nghề phi
nông nghiệp chiếm 99% tổng thu nhập toàn xã (riêng nghề gốm sứ chiếm tới
86%). Tỷ trọng doanh thu của làng ða Hội (Bắc Ninh) chiếm tới 90% tổng
giá trị sản xuất – kinh doanh cả xã. Thu nhập của khảm trai Chuyên Mỹ (Hà
Tây) chiếm 85% tổng thu nhập của cả xã.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế
192.1.3.4 Sử dụng hiệu quả nguồn lực và giải quyết một số vấn ñề xã hội
Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, làng nghề truyền
thống không ñòi hỏi số vốn ñầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ
thủ công, thô sơ mà những người thợ trong làng nghề ñều có thể tự sản xuất hoặc
chế tạo ñược. Hơn nữa, ñặc ñiểm của sản xuất làng nghề truyền thống là quy mô
nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu lao ñộng ít nên rất phù hợp với khả năng huy ñộng
vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia ñình. Với mức vốn ñầu tư không
lớn, trong ñiều kiện hiện nay thì ñó là một lợi thế ñể các làng nghề có thể huy
ñộng các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt ñộng sản xuất kinh doanh.
Chẳng hạn, theo kết quả ñiều tra của Cục Chế biến nông lâm sản và
ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), thì bình
quân vốn của một doanh nghiệp ở nông thôn ðBSH khoảng trên 1 tỷ ñồng;
trong khi ñó vốn bình quân của một hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp
khoảng 20,5 triệu ñồng và của một hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề chỉ có
khoảng 9,2 triệu ñồng. Trong ñó các hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp thì
ñại bộ phận có quy mô vốn từ 10 - 30 triệu ñồng (chiếm 49,5%), tiếp ñến là
loại có quy mô từ 5 - 10 triệu ñồng (20,6%), dưới 5 triệu ñồng cũng chiếm tới
16,4%, số trên 30 triệu ñồng chỉ chiếm có 13,5%. Ngoài vấn ñề giải quyết việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status