Nghiên cứu giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống sản xuất đỗ gỗ mỹ nghệ đồng kỵ, xã đồng quang, huyện từ sơn, tỉnh bắc ninh - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những nghiên cứu và số liệu trong khoá luận
này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một khoá luận hay nghiên cứu
nào trước đây.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ thực hiện khoá luận này đều đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong khoá luận đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Tác giả

Trần Thị Hồng Nhung

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn
BGH Nhà trường; Ban Chủ nhiệm khoa và các thầy cô trong Khoa Kinh
tế&PTNT đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian
học tập và rèn luyện ở trường.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy ThS Lê Khắc Bộ - Bộ môn
Phân tích định lượng, đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong suốt
thời gian nghiên cứu. Đồng thời, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình
tới các thầy cô trong Khoa Kinh tế & PTNT đã giúp đỡ tôi trong quá trình
triển khai khoá luận tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập, tôi xin chân thành cảm ơn các chú, các bác,
các anh chị công tác tại UBND phường Đồng Kỵ; các hộ gia đình – doanh
nghiệp – công ty trên địa bàn phường Đồng Kỵ đã tiếp nhận tôi, tận tình giúp
đỡ cung cấp số liệu và những thông tin cần thiết để phục vụ cho quá trình
nghiên cứu đề tài này.
Do điều kiện năng lực bản thân còn hạn chế, khoá luận có thể còn có
chỗ thiếu sót, tôi mong được sự giúp đỡ đóng góp ý kiến xây dựng của các

Trđ : Triệu đồng............................................................................................viii
UBND : Ủy ban nhân dân..............................................................................viii
PHẦN I: MỞ ĐẦU...........................................................................................1
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài....................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................3
1.2.1 Mục tiêu chung.........................................................................................3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.........................................................................................3

iii


1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu................................................................4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ..............................................................................4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu..................................................................................4
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ........................................5
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG ....................5
SẢN XUẤT ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ......................................................................5
2.1 Cơ sở lý luận...............................................................................................5
2.1.1 Một số khái niệm......................................................................................5
2.1.2 Các quan điểm phát triển bền vững........................................................11
2.1.3 Sự cần thiết phát triển bền vững làng nghề truyền thống.......................13
2.1.4 Các yếu tố tác động đến phát triển làng nghề truyền thống...................17
2.1.5 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
tại làng nghề Đồng Kỵ.....................................................................21
2.2 Cơ sở thực tiễn..........................................................................................24
2.2.1 Tình hình phát triển làng nghề ở một số nước trong khu vực................24
2.2.2 Tình hình phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam......................30
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ.................................33
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU...................................................................33
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu.............................................................33

4.2.4 Số lượng và chất lượng sản phẩm..........................................................64
4.2.5 Giá bán sản phẩm...................................................................................65
4.2.6 Thương hiệu...........................................................................................67
4.2.7 Công nghệ sản xuất................................................................................67
4.2.8 Chính sách Nhà nước.............................................................................69
4.2.9 Môi trường..............................................................................................70
4.2.10 Xã hội...................................................................................................72
4.2.11 Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế............................................................74
4.3 Đánh giá chung về phát triển bền vững làng nghề truyền thống sản xuất đồ
gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ.......................................................................75
4.3.1 Điểm mạnh.............................................................................................75

v


4.3.2 Điểm yếu................................................................................................76
4.3.3 Cơ hội.....................................................................................................78
4.3.4 Thách thức..............................................................................................79
4.4 Định hướng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống sản
xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ..........................................................80
4.4.1 Định hướng.............................................................................................80
4.4.2 Giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống sản xuất đồ gỗ mỹ
nghệ Đồng Kỵ..................................................................................82
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................92
5.1 Kết luận.....................................................................................................92
5.2 Kiến nghị...................................................................................................93
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................95
8, Châu Như Quỳnh (2009), “Gỗ Đồng Kỵ “suy thoái” cùng kinh tế”, Bản tin
kinh tế báo điện tử Dân trí ngày 08/03/2009...................................95
/>.........................................................................................................95

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ

: Bình quân

CC

: Cơ cấu

CP

: Chi phí

CPLĐ

: Chi phí lao động

CTCP

: Công ty cổ phần

DN

: Doanh nghiệp

ĐVT

: Đơn vị tính

Ha

: Ủy ban nhân dân

viii


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển bền vững làng nghề truyền thống về kinh tế - xã hội
và môi trường đang được toàn xã hội quan tâm. Nghị quyết hội nghị lần thứ
VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông thôn
và nông dân đã đề cập đến vấn đề này. Nhà nước ta cũng xác định cụ thể vai
trò của làng nghề truyền thống bên cạnh phát triển nông nghiệp và công
nghiệp trong nông thôn. Phát triển làng nghề truyền thống không chỉ tạo công
ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, ổn định an ninh xã
hội mà còn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng thương hiệu sản phẩm
cho từng vùng miền, khai thác lợi thế so sánh và lợi thê cạnh tranh bởi nguồn
lực vốn có của mỗi địa phương. Do vậy, phát triển bền vững các làng nghề
truyền thống luôn mang tính thời sự, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống sẽ tạo ra nhiều công ăn
việc làm, góp phần nâng cao thu nhập, thu hẹp và tiến tới xóa bỏ nghèo đói.
Địa phương nào có làng nghề truyền thống phát triển thì ở đó đời sống của
người dân nông thôn được nâng cao. Vì vậy, việc phát triển làng nghề truyền
thống góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, cụ thể là cơ cấu kinh tế
nông nghiệp giảm tỷ trọng nhưng tăng về giá trị sản lượng, công nghiệp tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ tăng cả về giá trị sản lượng và tỷ trọng. Mặt khác,
phát triển làng nghề truyền thống góp phần chuyển dịch lao động nông nghiệp
sang làm nghề, xây dựng nông thôn mới, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt
Nam đã gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO), việc áp dụng những tiến

thống đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ nhằm xây dựng thương hiệu của sản phẩm nổi
tiếng với sự đóng góp của những người thợ bàn tay vàng; giữ gìn bản sắc văn
hóa lâu đời của dân tộc; góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, làng nghề truyền thống sản xuất
đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ vẫn còn gặp phải những khó khăn và thử thách trong

2


việc duy trì và phát triển sản xuất. Đó là những khó khăn trong việc huy động
nguồn vốn, khai thác vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ sản xuất. Các cơ
sở sản xuất còn khiếm tốn về qui mô, hiệu quả kinh tế sản xuất phát triển
chưa ổn định. Trong khi, vấn đề xã hội như giáo dục và an ninh xã hội cũng
như ô nhiễm môi trường do sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống gây ra chưa
có cách giải quyết cụ thể và triệt để.
Tiềm năng phát triển làng nghề truyền thống sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
Đồng Kỵ còn rất lớn. Lực lượng lao động của địa phương dồi dào, với những
kinh nghiệm quý báu của ông cha truyền dạy; sự cần cù; chịu khó và những
bàn tay vàng của người thợ đang ngày đêm miệt mài, xây dựng thương hiệu
sản phẩm Đồng Kỵ không chỉ thị trường trong nước mà ngày càng vươn xa tới
các cường quốc trên Thế giới. Việc phát triển làng nghề truyền thống sản xuất
đồ gỗ mỹ nghệ ở Đông Kỵ đang góp phần tích cực trong quá trình công nghiệp
hóa hiện đại hóa nông thôn mới. Để đánh giá một cách đầy đủ thực trạng phát
triển làng nghề truyền thống sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, những thuận lợi
và khó khăn của làng nghề chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống sản xuất đỗ gỗ mỹ
nghệ Đồng Kỵ, xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung

+ Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu phát triển bền vững trong sản xuất đồ gỗ
mỹ nghệ cho làng nghề truyền thống Đồng Kỵ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội - môi trường của vùng trước mắt cũng như lâu dài.
- Phạm vi về không gian
Tiến hành nghiên cứu tình hình sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tại các hộ gia
đình và các công ty trên địa bàn nghiên cứu. Đồng thời, tập trung vào một số mặt
hàng mỹ nghệ như: bộ bàn ghế mỹ nghệ loại 1, giường và tủ thờ mỹ nghệ.
- Phạm vi về thời gian
+ Thu thập tài liệu về sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ trong 5 năm gần đây
(2005 – 2009).
+ Đề tài được thực hiện từ ngày 23/11/2009 đến ngày 26/05/2010.

4


PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
SẢN XUẤT ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
* Làng nghề
Đây là một khái niệm mang tính chất đặc thù của Việt Nam, song ở
nước ta hiện nay chưa có một tiêu chí thống nhất nào cho khái niệm này.
- Theo Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo (2002): Làng nghề là những
làng nông nghiệp nhưng có thêm một hoặc nhiều nghề phụ, phi nông nghiệp
như nghề gốm sứ, dệt lụa, khảm trai.
- Tính chất định lượng của làng nghề:
+ Ngành nghề phi nông nghiệp do làng nghề sản xuất mang tính chất
đặc thù của làng hoặc do người dân ở làng tham gia.
+ Số hộ và số lao động tham gia trực tiếp đối với nghề chiếm ít nhất
30% tổng số hộ hoặc số lao động của làng nghề.

- Làng nghề truyền thống là làng nghề đã hình thành từ lâu đời ( thường
là trên 50 năm tính từ thời điểm 1954) sản phẩm có tính cách riêng biệt mang
đặc thù, có giá trị văn hóa và lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến,
phương thức truyền nghề - cha truyền con nối hoặc gia đình, dòng tộc.
- Theo định nghĩa này thì một nghề được xếp vào các nghề thủ công
truyền thống cần hội tụ đủ các yếu tố sau:
+ Đã hình thành và phát triển lâu đời.
+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề.
+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề.
+ Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định.
+ Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất.

6


+ Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng
cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn
hóa Việt Nam, với những giá trị văn hóa phi vật thể rất cao.
+ Làng nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng
góp đáng kể vào ngân sách của Nhà nước.
* Ngành nghề truyền thống
Đối với những ngành nghề được xếp vào ngành nghề thủ công truyền
thống nhất thiết phải có các yếu tố sau:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển từ lâu đời ở nước ta.
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo.
- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam.
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước là chủ yếu.
- Sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị
và chất lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, mỹ

trường và Phát triển (WCED) như là “Sự phát triển đáp ứng được những yêu
cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các
thế hệ mai sau”. Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự
đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các
công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên;
phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển
kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển bền vững là nhu cầu
cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.
Điều đó đã được khẳng định qua Tuyên bố Rio de Janeiro (1992) về môi
trường và phát triển, bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự
21. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (2002) ở
Johannesburg, các nguyên tắc trên và Chương trình nghị sự 21 về phát triển
bền vững đã được khẳng định lại và cam kết thực hiện đầy đủ. Phát triển bền
vững đã trở thành đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước
ta. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng

8


cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước nhấn
mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong
đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các
cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Quan điểm
phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội IX
của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế
đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và
“Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo
đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn

Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa người sản xuất,
những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với
nhau. Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế,
người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông
qua trao đổi, mua bán hàng hóa.
* Đồ gỗ mỹ nghệ
Đồ gỗ mỹ nghệ là những sản phẩm đồ gia dụng như bàn ghế, giường tủ,
kệ, vật trang trí...được làm từ chất liệu chủ yếu là gỗ. Các sản phẩm này có
thể được làm từ rất nhiều các loại gỗ khác nhau như gỗ lim, táu, trắc, cẩm lai,
giáng hương... Đây là những loại gỗ có chất lượng tốt và bền. Các sản phẩm
đồ gỗ mỹ nghệ được các nghệ nhân làm thủ công bằng tay hoặc có sự trợ giúp
từ các loại máy móc, có độ tinh xảo cao, sang trọng và đậm nét truyền thống
với những nét chạm trổ hoa văn đẹp mắt.
* Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ
Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là hoạt động thao tác trên chất liệu gỗ của các
nghệ nhân, nhằm biến những khối gỗ thô mộc thành những sản phẩm đồ nội
thất có kiểu dáng sang trọng, đẹp mắt với những nét chạm trổ tinh xảo. Hoạt
động sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ diễn ra theo rất nhiều công đoạn, từ định hình
khối gỗ, bào gỗ theo hình thù đã định trước cho đến các công đoạn đòi hỏi sự

10


tỉ mỉ như tiện, chạm trổ và phun sơn, đánh vecni hoàn thiện sản phẩm... Để
tạo ra một sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ có chất lượng cao và đẹp, thì người nghệ
nhân phải có tay nghề cao đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định
trong thực hiện các công đoạn trên.
Ngày nay, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ đã có sự trợ giúp từ máy móc,
nhưng vai trò của người nghệ nhân vẫn rất quan trọng. Nét tinh tế, sang trọng
trong sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ phụ thuộc phần lớn vào tay nghề của người

* “Phát triển bền vững” qua một số nghiên cứu ở Việt Nam
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những
năm khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt
Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ.
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu
nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể
đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi
trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học
Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát
triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời
trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền
vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây dựng
tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do
Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ
thuật Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền
vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các
tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc
gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời
cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho
Việt Nam. "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000) do Lưu
Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và
hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững. Công trình này đã xác
định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi

12


trường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững
như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và
Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính,

trọng hơn cả là thời gian qua ở làng nghề truyền thống đã có hàng trăm ngàn hộ
nông dân chuyển sang phát triển ngành nghề truyền thống hoặc vừa sản xuất
nông nghiệp vừa phát triển các ngành nghề truyền thống. Việc sản xuất trong các
làng nghề truyền thống đang hướng vào những sản phẩm kỹ thuật cao, thị trường
tiêu thụ rộng khắp, chứng tỏ rằng sản xuất và lưu thông hàng hóa của làng nghề
truyền thống phát triển mang tính hàng hóa tập trung khá rõ nét.
* Phát triền làng nghề truyền thống là biện pháp hữu hiệu để giải
quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để
giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn như: Đẩy mạnh việc hợp
tác lao động quốc tế, đưa dân tới xây dựng vùng kinh tế mới, thâm canh tăng
vụ... Những biện pháp này ít nhiều đã có tác động tích cực giải quyết một
phần công ăn việc làm cho người lao động nông thôn. Một trong những giải
pháp mang tính chiến lược là phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn
với nhiều ngành nghề đa dạng phong phú và có khả năng phát triển rộng khắp
trong nông thôn. Sự pháp triển của làng nghề truyền thống không chỉ thu hút
lao động trong gia đình, làng xã mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ
các địa phương khác đến làm thuê. Đồng thời, làng nghề truyền thống phát
triển còn kéo theo nhiều nghề dịch vụ khác phát triển, tạo ra nhiều công ăn
việc làm cho người lao động.
Làng nghề truyền thống phát triển đều thu hút hàng nghìn lao động từ
nơi khác đến làm thuê như Đồng Kỵ, Đa Hội (Bắc Ninh), Vạn Phúc (Hà
Đông)... Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm thường xuyên
cho 4 – 6 người (trong đó thuê từ 2 – 4 người). Ngoài số lao động thường
xuyên, các hộ và các cơ sở sản xuất ngành nghề còn thu hút lao động thiếu
việc làm từ lao động nông nghiệp, bình quân 5 người/cơ sở và 2 người/hộ
ngành nghề...

14


15


được nâng cao, lại là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong làng nghề.
Ngày nay, phát triển nghề thủ công không có nghĩa là dùng hoàn toàn kỹ
thuật thô sơ, không dùng đến máy móc, mà phải dùng kỹ thuật theo hướng
hiện đại hóa. Hàng hóa trên thị trường ngày càng đa dạng phong phú thì sớm
hay muộn nghề thủ công tất yếu phải thay đổi cho phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng. Có nghĩa là, người lao động phải luôn luôn thích nghi với điều kiện
và kĩ thuật mới.
Thực hiện hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp ở đô thị và khu
công nghiệp tập trung với các làng nghề truyền thống là vấn đề hết sức quan
trọng. Sự liên kết này có tác dụng và hiệu quả rõ rệt, nhất là các làng nghề
truyền thống làm gia công, sản xuất phụ với tư cách là vệ tinh cho doanh
nghiệp lớn. Các làng nghề truyền thống tiến hành sản xuất các loại phụ tùng,
chi tiết sản phẩm hoặc sản xuất chế biến nông sản thực phẩm ở giai đoạn thô,
cung cấp cho các doanh nghiệp lớn ở thành thị làm đầu mối lắp ráp, hoàn
thiện sản phẩm. Từ đó, tinh chế các loại sản phẩm bán ra thị trường trong
nước cũng như nước ngoài. Đây là hình thức liên kết cần được khuyến khích
phát triển rộng khắp làng nghề truyền thống.
* Phát triền làng nghề truyền thống góp phần gìn giữ bản sắc văn
hóa dân tộc
Làng nghề truyền thống là một cụm dân cư sinh sống tạo thành làng
quê hay phường hội. Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hóa. Những phong
tục, tập quán, đền thờ, miếu máo...của mỗi làng xã vừa có nét tương đồng của
văn hóa dân tộc, vừa có nét riêng của mỗi làng quê, làng nghề. Các sản phẩm
của làng nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu và phát triển các
giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộc. Những sản phẩm đó làm cho
sản phẩm trong làng nghề vừa mang nét đặc trưng riêng biệt, vừa mang những

nghề truyền thông. Thế nhưng nhiều nghề thủ công truyền thống hiện nay
phát triển trong điều kiện hết sức khó khăn về vốn. Nguyên nhân là các hộ gia
đình, các cơ sở sản xuất trong làng nghề không có đủ tài sản để vay vốn sản

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status