1
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
(MÃ SỐ: 082.10.RD) BÁO CÁO TỔNG HỢP
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU
DÙNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
THỜI KỲ 2010 - 2020 8473
Các thành viên:
PGS.TS. Phạm Tất Thắng
ThS. Đặng Thanh Phương
Th.S. Lại Hồng Minh
CN. Bùi Thị Thanh Thủy
3
Mục lục
Trang
Mở đầu Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN
1.1 Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.1.1 Khái niệm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.1.2 Vai trò, vị trí và đặc trưng cơ bản của thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông
thôn
2.1.4 Một số đánh giá về khu vực nông thôn hiện nay
2.2. Thực trạng phát triển cầu của dân cư nông thôn về hàng tiêu dùng
2.2.1
Chi tiêu và cơ cấu chi tiêu bình quân đầu người ở nông thôn
2.2.2 Quĩ mua và cơ cấu quĩ mua của dân cư nông thôn
2.2.3 Khối lượng nhu cầu một số hàng tiêu dùng của dân cư nông thôn
2.3 Thực trạng phát triển cung ứng và bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn nước
ta hiện nay
2.3.1 Các chủ thể tham gia cung ứng hàng tiêu dùng trên thị trường bán lẻ nông thôn
nước ta hiện nay 4
2.3.2 Thực trạng các kênh cung ứng hàng tiêu dùng ở nông thôn
2.3.3 Thực trạng phát triển các loại hình và kết cấu hạ tầng bán lẻ hàng tiêu dùng trên
thị trường nông thôn
2.3.4 Chính sách phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 1995-2010
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng
ở nông thôn nước ta hiện nay
2.3.1 Những kết quả đạt được
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Chương 3:
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰ
M PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN
LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN THỜI KỲ 2010-2020
3.4.1 Đối với chính phủ
3.4.2 Đối với các địa phương
3.4.3 Đối với các doanh nghiệp bán lẻ
Kết luận
5
Chữ viết tắt
1/ Tiếng Anh
ASEAN – Hiệp hội các nước Đông Nam á
FDI - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP- Tổng sản phẩm quốc nội
M&A – Mua và sáp nhập công ty
ODA – Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TNCs – Công ty xuyên quốc gia
USD - Đô la Mỹ
WTO – Tổ chức thương mại thế giới
1/ Tiếng Việt
BGTVT – Bộ Giao thông vận tải
BLHH&DTDV – Bán l
ẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
CNH- Công nghiệp hoá
CN-TTCN – Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
HĐH – Hiện đại hoá
KCHTTM – Kết cấu hạ tầng thương mại
KD – Kinh doanh
thống phân phối của các doanh nghiệp vẫn chưa đến được với người dân, danh
mục hàng hóa trên thị trường nông thôn vẫn khá nghèo nàn, chợ vẫn là loại hình
bán lẻ phổ biến ở nông thôn, vấn đề nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị hiếu
người tiêu dùng chưa được quan tâm,…
Thực tế ở nước ta, từ khi n
ổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến
nay, vấn đề “trở về thị trường nội địa”, “chiếm lĩnh thị trường nội địa”, “thị
trường nội địa đang bị sao nhãng”, “doanh nghiệp Việt bỏ quên thị trường
nội địa”,… đã được đưa ra làm chủ đề trong nhiều hội thảo, hội nghị. Năm
2009, Chính phủ đã thực hiệ
n “Chương trình xúc tiến thương mại, thị trương
trong nước”, trong đó có chương trình “hàng Việt về nông thôn”. Kết quả thu
được từ hoạt động đưa hàng về nông thôn là rất lớn. Tình trạng cháy hàng,
doanh thu gấp chục lần bình thường chỉ sau vài ngày đưa hàng về giới
thiệu… đã khiến nhiều doanh nghiệp không khỏi ngỡ ngàng trước sức tiêu
thụ của người dân nông thôn, thị trường mà lâu nay chính các doanh nghiệp
trong nước đã bỏ
quên.
Từ những thực tế trên đây, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Tại sao
các doanh nghiệp bán lẻ ở nước ta vừa qua lại “bỏ quên” thị trường bán lẻ
đầy tiềm năng ở nông thôn? Làm thế nào để phát triển thị trường bán lẻ ở
nông thôn? Hơn nữa, Chính phủ cũng đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP
ngày 28 tháng 10 năm 2008 ban hành Chương trình hành động của Chính
phủ thực hiện Nghị quyế
t Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung Đảng
khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đồng thời, Thủ tướng Chính
phủ đã giao cho Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên
quan xây dựng Đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2009-2015
7
trong giai đ
oạn 1995 - 2010 và nghiên cứu chính sách phát triển cho giai
đoạn 2011 - 2020.
+ Về nội dung: Đề tài này giới hạn phạm vi nghiên cứu về giải pháp và
chính sách phát triển của Nhà nước đối với thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở
nông thôn.
4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
4.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm vừa qua, các cơ quan và tổ chức nghiên cứu trong
nước đã có những công trình nghiên cứu về thị trường nông thôn và thị
8
trường bán lẻ trong nước như: Đề tài khoa học cấp Bộ “Các loại hình kinh
doanh văn minh hiện đại, định hướng quản lý nhà nước đối với siêu thị tại
Việt Nam” do Vụ Thị trường trong nước thực hiện năm 2001; Đề tài khoa
học cấp Bộ “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu Thương m
ại thực hiện
năm 2002; Đề tài khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ
thống siêu thị của Việt Nam hiện nay” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực
hiện năm 2005; Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện
lợi vận doanh theo chuỗi ở Việt nam đến năm 2010” do Trường Cán bộ
Thương mại trung ương thực hiện năm 2005;
Đề án về “Phát triển thị trường
trong nước đến năm 2010 và định hướng đến 2020” do Vụ Thị trường trong
nước xây dựng và được thủ tướng chính phủ ra Quyết định phê duyệt vào
năm 2007; Tài liệu “Điều tra đánh giá thực trạng doanh nghiệp bán lẻ nhỏ và
vừa trong nước” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2007; Đề
tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu dịch v
ụ bán buôn, bán lẻ của một số nước
9
5. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở
nông thôn thời kỳ 1995 - 2009
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trườ
ng bán lẻ
hàng tiêu dùng ở nông thôn thời kỳ 2011 - 2020
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN
1.1. THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN
1.1.1. Khái niệm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
1.1.1.1. Một số khái niệm
Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng là khái niệm tổng hợp từ nhiều khái
niệm khác nhau, trong đó bao gồm những khái niệm cơ bản như:
+ Khái niệm về thị trường:
Nh
ững nghiên cứu và phân tích lý thuyết cho thấy có nhiều khái niệm ở
những cấp độ, phạm vi và chứa đựng nội hàm khác nhau về thị trường. Theo
các nhà kinh điển, thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá
trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Thị trường gắn với sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá là cơ sở kinh tế quan trọng của thị trường. Thị trường
ph
ản ánh trình độ và mức độ của nền sản xuất xã hội.
Những khái niệm này không còn chỉ rõ không gian cụ thể của thị trường, mà
xác định thị trường là quá trình xác lập quan hệ giữa người mua và người
bán. Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng
hoá - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị
trường tiền tệ. (Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến thị trường hàng hoá
mà không đề cậ
p đến thị trường dịch vụ hay thị trường lao động và thị trường
tiền tệ). Đồng thời, các giao dịch mua bán hàng hoá và dịch vụ hiện nay
không chỉ diễn ra trong thế giới thực, mà còn được thực hiện qua phương tiện
điện tử, nhất là mạng internet - thế giới ảo.
Như vậy, khái niệm thị trường hiện đại không chỉ bao gồm thị trường
thực, mà cả thị trường ảo. Tuy nhiên, dù là thị trường ảo hay thị trường thực
thì bản chất của thị trường vẫn là giải quyết các quan hệ giữa người mua và
người bán thông qua việc xác định mức giá của hàng hoá và dịch vụ. Người
bán và người mua là hai lực lượng cơ bản trên thị trườ
ng, là đại diện cụ thể
nhất của 2 yếu tố cung-cầu trên thị trường. Trên thị trường, quan hệ cung -
cầu hay cụ thể hơn là quan hệ giữa người mua và người bán được giải quyết
hay được thực hiện thông qua mức giá cả cụ thể do chính người mua và
người bán xác định dựa trên mức giá cả thị trường đã xác lập trước đó. Tóm
lại, cung - cầu và giá cả hàng hoá, dị
ch vụ là những yếu tố cơ bản trên thị
trường, trong đó cung, cầu là những yếu tố căn bản, có vai trò quyết định đối
với giá cả thị trường. Ngược lại, giá cả là yếu tố có vai trò tác động kích thích
hoặc kìm hãm sự phát triển của cung và cầu, xác định khối lượng cụ thể của
cung, cầu trên thị trường.
+ Khái niệm về bán lẻ hàng tiêu dùng:
Về khái niệ
m hàng hoá, cần phân biệt khái niệm hàng hoá tiêu dùng và
không kinh doanh.
Từ điển Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia định nghĩa: Bán lẻ bao gồm
việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa
điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên
quan.
Theo tài liệu của WTO về dịch vụ phân phối, hoạt động “bán hàng công
nghiệp/thương mại cho các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm cuối cùng
như là hoá chất, thi
ết bị và nguyên vật liệu cho sản xuất” không thuộc phạm
vi bán lẻ. Do đó, khái niệm “Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá trực tiếp cho
người tiêu dùng cuối cùng”.
Như vậy, điểm chung trong những khái niệm bán lẻ trên đây là: bán với
khối lượng nhỏ; bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra, một
vài khái niệm khác còn làm rõ thêm như: bán lẻ hàng hoá và bán lẻ dịch vụ;
người tiêu dùng mua để phục vụ cho nhu cầu củ
a cá nhân và hộ gia đình;
không dùng để kinh doanh (bán lại); không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất
(phân biệt giữa hàng tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất); bán lẻ là công
đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng;
bán lẻ qua cửa hàng, ki ốt và không qua cửa hàng, ki ốt.
+ Khái niệm về nông thôn:
Theo Từ điển bách khoa Việt nam (tập 3), nông thôn là phần lãnh thổ
của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh th
ổ đô thị, có môi
trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với
thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp.
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nông thôn Việt Nam là danh
từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống
chủ yếu bằng nông nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất c
a/ Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng nông thôn theo vùng địa lý:
Trong tiêu thức phân loại này, khu vực nông thôn có thể được phân
thành: nông thôn miền núi; nông thôn đồng bằng; nông thôn ven biển. Ví dụ,
thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn miền núi.
b/ Phân loại thị trường bán l
ẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn theo dấu hiệu
của người tiêu dùng:
+ Theo nghề nghiệp của người tiêu dùng, gồm: người tiêu dùng làm
nghề nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản); người
tiêu dùng làm nghề phi nông nghiệp (bao gồm: chế biến nông sản; tiểu, thủ
công nghiệp; kinh doanh buôn bán nhỏ;…). Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu
dùng cho người làm nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.
+ Theo giới tính của người tiêu dùng, g
ồm: nam; nữ. Ví dụ, thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng cho nam giới ở nông thôn.
+ Theo tuổi tác của người tiêu dùng, gồm: người già; trung niên; thanh
niên; trẻ em. Ví dụ, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng cho trẻ em nông thôn.
+ Theo thu nhập của người tiêu dùng, gồm: người có thu nhập cao;
người có nhập trung bình; người có thu nhập thấp. Ví dụ, thị trường bán lẻ
hàng tiêu dùng cho người có thu nhập cao ở nông thôn.
14
+ Theo tình trạng nhu cầu, gồm: người tiêu dùng tiềm năng; người tiêu
dùng mới xuất hiện lần đầu; người tiêu dùng thường xuyên. Ví dụ, thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng cho khách hàng tiềm năng ở nông thôn.
Ngoài ra, phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có thể
dựa trên những dấu hiệu khác từ người tiêu dùng như theo hành vi, tâm lý,…
c/ Phân loại thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn theo dấu hiệu
của người cung cấp dịch vụ
bán lẻ:
1.1.2.1. Vai trò trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đối với các nước kém phát triển và đang phát triển nói chung và với
nước ta nói riêng, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
đóng vai trò
cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể như:
15
Trước hết, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là một trong
những cơ sở quan trọng để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá
đất nước, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, để đi đến một xã hội ngày
càng văn minh, phồn thịnh, con đường đi tất yếu của mọ
i quốc gia là thực
hiện quá trình công nghiệp hoá. Nói cách khác, công nghiệp hoá là con
đường, cách thức để đạt năng suất lao động xã hội cao, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước giầu và nâng tầm
quốc gia trên bản đồ kinh tế thế giới. Đồng thời, các mô hình thực hiện công
nghiệp hoá cũng cho thấy, các nước XHCN đã thất bại với chính sách ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng. Vì vậy, từ
năm 1978 Trung Quốc đã thay đổi
hướng ưu tiên phát triển từ “công nghiệp nặng (sản xuất hàng tư liệu sản
xuất) - công nghiệp nhẹ (sản xuất hàng tư liệu tiêu dùng) - nông nghiệp” sang
“nông nghiệp - công nghiệp nhẹ - công nghiệp nặng”. Sự thay đổi này đã
giúp Trung Quốc đạt được thành tựu phát triển to lớn.
Bên cạnh đó, để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành
công nghiệp, nh
ất là các ngành công nghiệp nhẹ, các nước cũng từng thay đổi
từ mô hình “công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu” sang “công nghiệp hoá
hướng về xuất khẩu”. Mặc dù, xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại
Nhìn chung, tại các vùng nông thôn nói chung và vùng sản xuất nông
nghiệp nói riêng, người tiêu dùng vẫn thường sử dụng nhiều sản phẩm do
chính họ làm ra. Trong Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư
nhân và của
nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng, nền kinh tế đó là cơ sở của phương thức
sinh hoạt cổ truyền của các cộng đồng nông thôn, và chế độ thị tộc tuyệt đối
không thể dung hợp với nền kinh tế tiền tệ. Một nền kinh tế nông nghiệp sản
xuất tự cấp, tự túc rõ ràng có nhiều hạn chế, là vật cản đối với xu thế
vận
động, phát triển của lực lượng sản xuất, của sản xuất và của khoa học, kỹ
thuật. Thực tế cho thấy, lực lượng sản xuất và khoa học, kỹ thuật không
ngừng phát triển và trong thời đại hiện nay đã trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Để chuyển kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng
hoá, c
ần có những điều kiện cơ bản như: phân công lao động xã hội; thị
trường; năng lực tổ chức và quản lý sản xuất, tài chính; tiến bộ khoa học, kỹ
thuật, công nghệ…
Trong những điều kiện đó, vai trò của thị trường trong sản xuất hàng
hoá nói chung, trong việc chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc
lên sản xuất hàng hoá nói riêng đặc biệt
được coi trọng. Bởi vì, đã có kinh tế
hàng hoá tức là phải có mua bán, trao đổi sản phẩm, và do vậy, tất yếu phải
có thị trường.
Về phương diện này, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn có
những tác động chủ yếu như: 1) Sự hiện diện hay sẵn có của hàng hoá tiêu
dùng trên thị trường bán lẻ sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng của người dân
nông thôn phát triển: mở rộng tiêu dùng sang những hàng hoá mà họ không
thể sản xu
ất; chuyển từ tiêu dùng các sản phẩm tự sản xuất sang sản phẩm có
sẵn trên thị trường do chi phí (lao động, nguyên vật liệu) rẻ hơn; 2) Người
kết giữa thị trường đô thị và thị trường nông thôn. Qua đó, tiềm năng phát
triển tại các vùng nông thôn được khơi dậy và thu hút các doanh nghiệp đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời rút ngắn khoảng cách phát triển
giữa thành thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng nông thôn với nhau.
Thứ tư
, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là thị trường tiềm
năng, rộng lớn để các doanh nghiệp phát triển hệ thống phân phối hàng hoá
lớn về qui mô cung ứng hàng hoá, rộng về mạng lưới, đa dạng về loại hình
bán lẻ và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các quyết định về xây dựng hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá đã và
đang trở thành những chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Hệ th
ống
phân phối mạnh sẽ giúp doanh nghiệp tạo lập được lợi thế cạnh tranh bền
vững dài hạn trên thị trường và thành công trong kinh doanh.
Trong điều kiện của các nước đang phát triển, thị trường bán lẻ hàng
tiêu dùng ở nông thôn luôn là thị trường rộng lớn về không gian lãnh thổ và
với số lượng đông đảo khách hàng tiềm năng. Đồng thời, cùng với quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá, chính thị trườ
ng nông thôn hiện tại sẽ trở
thành thị trường đô thị với sức mua ngày càng cao trong tương lai. Do đó, thị
trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn sẽ là “miền đất hứa” để phát triển
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặt khác, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn với độ rộng sẵn
có và trong giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, từ truyền thống đến hiện đại
s
ẽ cho phép các doanh nghiệp có thể xây dựng và phát triển hệ thống phân
phối hàng hoá nói chung và hệ thống bán lẻ nói riêng bằng những phương
thức, hình thức và qui mô đầu tư phù hợp với năng lực thực tế của doanh
nghiệp và sử dụng hợp lý các nguồn lực đầu tư của mình. Đồng thời, khi thị
trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn phát triển nhanh sẽ giúp doanh
gian khác. Điều này sẽ tác động kéo giá cả của hàng loạt các hàng hoá, kể cả
hàng tư liệ
u sản xuất, tư liệu tiêu dùng và giá cả các dịch vụ liên quan. Như
vậy, hệ thống giá cả trong nền kinh tế sẽ được điều chỉnh để đảm bảo sự vận
hành thông suốt của nền kinh tế.
1.1.2.2. Vị trí trong hệ thống thị trường của nền kinh tế
Trước hết, về khái niệm, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn,
do những giới hạn ph
ạm vi của nó, là một bộ phận trong thị trường dịch vụ
phân phối nói riêng và hệ thống thị trường của nền kinh tế nói chung. Trong
nền kinh tế, cùng với những thị trường khác trong hệ thống thị trường chung,
thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn giữ vị trí trung gian trong quá
trình tái sản xuất xã hội giữa một bên là sản xuất và một bên là tiêu dùng.
Thứ hai, trong thị trường dịch vụ phân phối, thị
trường bán lẻ hàng tiêu
dùng nói chung và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn nói riêng là
thị trường mà ở đó kết thúc quá trình lưu thông của hàng hoá, hàng hoá đi
vào lĩnh vực tiêu dùng và giá trị hàng hoá được thực hiện đầy đủ. Cụ thể hơn,
trong thị trường dịch vụ phân phối, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng là thị
trường cuối cùng có sự tham gia trực tiếp của người tiêu dùng cuối cùng,
trong khi người sản xuất có thể phải qua nhi
ều trung gian (người bán buôn,
19
đại lý, người bán lẻ) khác để bán sản phẩm của mình đến người tiêu dùng
cuối cùng.
Cuối cùng, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng, xét theo phân khúc thị
trường về địa lý, bao gồm thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị và thị
trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn. Trong hai loại thị trường bán lẻ
hàng tiêu dùng này, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn, do các điều
sở hạ tầng chưa phát triển, nhất là hạ tầng giao thông, điện, nước sinh hoạt,
+ Thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn chịu nhiều ảnh hưởng
chi phối của điều kiện thời tiết, thị trườ
ng đô thị, nhất là thị trường trung tâm.
Đặc trưng này được qui định bởi: sản xuất nông nghiệp phụ thuộc lớn vào
điều kiện thời tiết, nếu xảy ra mất mùa thì sức mua trên thị trường bị giảm sút
nghiêm trọng và ngược lại; phần lớn hàng công nghiệp tiêu dùng được cung
ứng cho thị trường bán lẻ ở nông thôn đều thông qua các trung gian bán buôn
tại các thị trường đô thị, thị trường trung tâm.
20
1.1.3. Mối quan hệ trong phát triển thị trường bán lẻ ở nông thôn
1.1.3.1. Mối quan hệ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
trong hệ thống thị trường của nền kinh tế
Trong hệ thống thị trường của nền kinh tế, mối quan hệ giữa thị trường bán
lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn với các thị trường khác được thể hiện là mối quan
hệ giữa một bên là cung và một bên là cầu v
ề các yếu tố đầu vào cho phát triển
thị trường bán lẻ. Chẳng hạn, giữa thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng và thị trường
bất động sản có mối quan hệ cầu và cung mặt bằng kinh doanh bán lẻ. Hay giữa
thị trường tài chính, tiền tệ với thị trường bán lẻ có mối quan hệ cung - cầu về
vốn, tín dụng Giá cả các hàng hoá, dịch vụ đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đế
n
chi phí và hiệu quả kinh doanh bán lẻ. Ngược lại, nhu cầu về hàng hoá và dịch
vụ đầu vào trên thị trường bán lẻ sẽ qui định tính chất, qui mô và trình độ phát
triển của thị trường cung cấp về hàng hoá và dịch vụ đó.
1.1.3.2. Mối quan hệ phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn
trong thị trường dịch vụ phân phối của nền kinh tế.
Trong thị trường dịch vụ phân phối, mối quan h
ệ giữa thị trường bán lẻ
Trong mối quan hệ phát triển theo lãnh thổ, mối quan hệ giữa thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị là
mối quan hệ “thôn tính” một chiều. Trong đó, thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở
nông thôn là bên “bị thôn tính” trên các phương diện như: 1) Thị trường đô thị
“chiếm đoạt” hay “lôi kéo” một bộ phận nhu cầu mua hàng hoá tiêu dùng, nhất
là về các mặt hàng giá trị cao từ thị trườ
ng nông thôn; 2) Quá trình đô thị hoá
biến thị trường nông thôn thành thị trường đô thị, hay thị trường bán lẻ hàng
tiêu dùng ở nông thôn là dư địa cho thị trường đô thị phát triển.
Trong mối quan hệ phát triển trên cùng một thị trường, mối quan hệ giữa
thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn và thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng
ở đô thị là mối quan hệ giữa các cấp độ về trình độ phát triển. Trong đó, th
ị
trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở đô thị là thị trường có trình độ phát triển cao hơn
cả về cung, cầu và các điều kiện cho phát triển thị trường nói chung và phát
triển hệ thống kinh doanh bán lẻ nói riêng. Trong mối quan hệ này, thị trường
bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn là “bệ đỡ”, còn cho thị trường bán lẻ hàng
tiêu dùng ở đô thị là “lực kéo”. Vai trò “bệ đỡ” của thị trường bán lẻ hàng tiêu
dùng ở nông thôn thể hiệ
n trên các khía cạnh: 1) Cung cấp một bộ phận khách
hàng; 2) Cung cấp một phần không gian thị trường; 3) Tiếp nhận các “đợt sóng”
tiêu dùng đã có dấu hiệu thoái trào để thị trường đô thị bắt đầu một “đợt sóng”
tiêu dùng mới. Vai trò “lực kéo” của thị trường đô thị thể hiện ở khía cạnh: 1)
Thông qua việc chuyển giao các “đợt sóng” tiêu dùng, bán lẻ cho khách hàng từ
thị trường nông thôn sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn phát tri
ển; 2) Sự
phát triển của các nhà bán lẻ ở thị trường đô thị sẽ góp phần chuyển giao công
nghệ bán lẻ hiện đại hoặc trực tiếp đầu tư phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại
cho thị trường nông thôn.
1.1.3.4. Các mối quan hệ khác trong phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu
1.2. NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
HÀNG TIÊU DÙNG Ở NÔNG THÔN
1.2.1. Các điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội
Trước hết, các điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội là những yếu tố cơ
bản tạo nên môi trường sống của con người – môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội, môi trường văn hoá, Nhu cầu tiêu dùng của con người
thường chứa đựng trong nó những nét đặc trưng cơ bản nhất của môi trường
sống. Nói cách khác, các đ
iều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội có ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình hình thành lối sống và nhu cầu tiêu dùng của dân cư
nói chung và dân cư nông thôn nói riêng.
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng chủ yếu đến cơ cấu nhu cầu và cơ
cấu hàng hoá tiêu dùng của dân cư. Chẳng hạn, cơ cấu tiêu dùng hàng hoá
của dân cư nông thôn vùng biển sẽ khác biệt so với dân cư nông thôn miền
núi về các mặt hàng thực phẩm. Người dân vùng bi
ển thường có tỷ trọng tiêu
dùng các sản phẩm thuỷ sản cao hơn, nhưng tiêu dùng các sản phẩm thịt thấp
hơn so với dân cư miền núi. Hay, người dân vùng khí hậu ôn đới sẽ tiêu dùng
các mặt hàng may mặc, giầy dép, các mặt hàng năng lượng nhiều hơn so với
người dân ở vùng khí hậu nhiệt đới…
Môi trường văn hoá có ảnh hưởng chủ yếu đến hình thức bên ngoài của
sản phẩm (kiể
u dáng, mẫu mã, màu sắc,…). Ví dụ, người theo đạo hồi
thường mặc trang phục màu đen, trắng, hay người dân tộc thiểu số thường
mặc những bộ trang phục có màu sắc sặc sỡ,… Ngoài ra, môi trường văn hoá
cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng thực phẩm. Ví dụ, người theo đạo
Hindu không ăn thịt bò,…
Môi trường xã hội có ảnh hưởng chủ yếu đến tình trạng phân bố nhu cầu
tiêu dùng, các trào l
trường,… Những yếu tố này sẽ qui định khả năng thu nhập và qui mô tiêu
dùng của dân cư nông thôn trên thị trường bán lẻ.
1.2.2. Trình độ phát triển sản xuất ở nông thôn
Quá trình phát tri
ển sản xuất là quá trình chuyển biến lâu dài từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn, từ phát triển theo chiều rộng là chính sang phát triển
theo chiều sâu là chính. Nền sản xuất nhỏ gắn với loại hình tái sản xuất giản
đơn và tính tự cấp tự túc cao. Nền sản xuất lớn gắn với loại hình tái sản xuất
mở rộng và nền kinh tế hàng hoá phát triển theo hướng: 1)
Sự gia tăng qui
mô sản xuất, qui mô sản lượng sản phẩm trên cơ sở sử dụng nhiều hơn các
yếu tố đầu vào, các nguồn lực của sản xuất; 2) Tăng qui mô sản lượng sản
phẩm do tăng năng suất lao động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
Đối với kinh tế nông thôn, lý luận và thực tiễn lịch sử cho thấy, bước
chuyển t
ừ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn là quá trình diễn ra đồng
thời của: 1) Tiến trình hình thành những vùng nông nghiệp chuyên canh, tập
trung qui mô lớn tạo ra thị trường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; 2)
Tiến trình hình thành lao động chuyên môn hoá tạo tiền đề cho sự ra đời của
các ngành sản xuất phi nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, phát triển
các loại thị trường; 3) Chuyển từ hình thức tư hữu nh
ỏ sang hình thức tư hữu
lớn về tư liệu sản xuất; 4) Nhà nước tham tham gia vào quá trình chuyển biến
của nền sản xuất hàng hóa giản đơn thông qua các chính sách kinh tế, đẩy
mạnh tích luỹ.
Trong quá trình đó ở nông thôn, những người nông dân, thợ thủ công
vẫn dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động của chính họ.
24
Do đó, sản xuất hàng hoá ở nông thôn về cơ bản là vẫn là nền sản xuất hàng
Như vậy, quá trình phát triển trình độ sản xuất ở nông thôn từ sản xuất
nh
ỏ lên sản xuất lớn sẽ tác động mang tính quyết định đến trình độ phát triển
thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn một cách toàn diện, từ qui mô,
cơ cấu hàng hoá cung ứng trên thị trường đến phương thức, hình thức, tần
suất mua bán trên thị trường, cũng như dung lượng và cơ cấu của “cầu thực
tế” trên thị trường.
1.2.3. Trình độ phát triển nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn
Mặc dù, sả
n xuất quyết định qui mô và cơ cấu tiêu dùng, chất lượng và
tính chất của sản phẩm quyết định chất lượng và phương thức tiêu dùng.
Theo C.Mac “Sản xuất không phải chỉ tạo ra vật phẩm cho tiêu dùng, mà còn
đem lại cho tiêu dùng tính xác định của nó, tính chất của nó, sự hoàn thiện
của nó”. Tuy nhiên, C.Mac cũng khẳng định, tiêu dùng lại tạo ra nhu cầu và
mục đích của sản xuất. Hơn nữa, sản xuất quy
ết định tiêu dùng, nhưng quá
trình phát triển nhu cầu của người tiêu dùng là một hiện tượng khách quan do
25
tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, văn hoá, xã hội,… chứ không phụ thuộc
hoàn toàn vào sản xuất. Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại,
các nhà sản xuất không còn định hướng sản xuất dựa trên khả năng của sản
xuất, mà chuyển sang định hướng sản xuất theo nhu cầu thị trường. Người
tiêu dùng là “thượng đế”, nhu cầu của người tiêu dùng là một căn c
ứ quan
trọng để xác định khối lượng, cơ cấu, chất lượng sản phẩm xã hội. Sư phát
triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực phát triển của sản
xuất. Như vậy, với tư cách là mục đích và động lực của sản xuất, tiêu dùng
có tác động trở lại đối với sản xuất.
Theo thuyết A.Maslow, nhu cầu tự nhiên c
trường bán lẻ.
Đối với khu vực nông thôn, do hạn chế về mức thu nhập và khả năng gia
tăng thu nhập nhanh cũng như do tác động của các điều kiện tự nhiên, văn hoá,
xã hội, nên trình độ phát triển nhu cầu tiêu dùng nói chung thường ở mức thấp
hơn so với khu vực đô thị. Điều đó sẽ không chỉ hạn chế trình độ phát triển thị
trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn về qui mô, cơ
cấu, chủng loại hàng