BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH
PHAN THÙY LINH
Người hướng dẫn Luận văn: ĐẶNG VŨ TÙNG
Hà Nội, 2010
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ
1.1. Lý luận cơ bản về phát triển bền vững ............................................................ 9
1.1.1. Khái niệm phát triển bền vững................................................................. 9
1.1.2. Một số mô hình phát triển bền vững ...................................................... 12
1.1.3. Những nguyên tắc chính phát triển bền vững ở Việt Nam .................... 15
1.2. Làng nghề, làng nghề truyền thống ............................................................... 16
1.2.1. Khái niệm và phân loại .......................................................................... 16
1
2.3.9. Đặc thù chất thải các làng nghề.............................................................. 63
2.3.10 An toàn lao động và bệnh nghề nghiệp................................................. 63
2.3.11 Môi trường tại các làng nghề Nam Định............................................... 65
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững làng nghề tỉnh Nam Định ............. 36
2.4.1. Yếu tố kinh tế ........................................................................................ 36
2.4.2. Yếu tố môi trường .................................................................................. 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ......................................................................................... 74
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ
3.1. Đánh giá chung về tính bền vững các làng nghề tại Nam Định............................. 77
3.1.1 Kết quả và tồn tại ........................................................................................ 77
3.1.2 Nguyên nhân của những kết quả tồn tại trong phát triển làng nghề ........... 80
3.1.3. Nhận xét về sự phát triển làng nghề tại Nam Định..................................... 82
3.2. Phương hướng phát triển ổn định làng nghề ...................................................... 82
.3.2.1 Quan điểm và định hướng phát triển làng nghề tại Nam Định ................... 82
3.2.2. Mục tiêu phát triển ...................................................................................... 82
3.3. Những giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề ................................................... 82
3.3.1. Qui hoạch và giải quyết mặt bằng sản xuất cho các làng nghề ................. 84
3.3.2. Thị trường tiêu thụ...................................................................................... 86
3.3.3. Nguyên vật liệu sản xuất ............................................................................ 88
3.3.4. Về vốn ........................................................................................................ 88
3.3.5. Khoa học công nghệ ................................................................................... 89
3.3.6. Môi trường làng nghề ................................................................................ 90
3.3.7. Đào tạo, bồi dưỡng lao động tại làng nghề ............................................... 91
3.3.8. Chăm lo đến đời sống tinh thần của người làm nghề................................. 92
3.3.9. Tổ chức sản xuất tại làng nghề................................................................... 92
: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNNT
: Công nghiệp nông thôn
CNNQD
: Công nghiệp ngoài quốc doanh
CTTNHH
: Công ty trách nhiệm hữu hạn
DNTN
: Doanh nghiệp t nhân
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nớc
ĐH - CĐ
: Đại học - Cao đẳng
GTSXCN
: Giá trị sản xuất công nghiệp
: Trung học cơ sở
THCN
: Trung học chuyên nghiệp
VLXD
: Vật liệu xây dựng
UBND
: y ban nhõn dõn
XNHT
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Các xã có nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp.................................... 38
Bảng 2. Các làng nghề phân bố trên địa bàn.................................................... 39
Bảng 3. Số hộ sản xuất tại làng nghề ............................................................... 48
Bảng 4. Phân bố lao động tại các làng nghề .................................................... 53
Bảng 5. Thu nhập của người lao động theo nhóm nghề .................................. 60
Bảng 6. Thu nhập giá trị sản xuất của làng nghề ............................................. 61
Bảng 7. Các dấu hiệu và triệu trứng bệnh mắc phải ........................................ 72
4
1. Cơ sở của đề tài
Nam Định - địa danh ta thường gọi bằng cái tên thân thương: "Thành Nam",
đất không rộng, người không đông nhưng ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào cũng thu
hút được sự chú ý của đông đảo bạn bè trong nước và quốc tế.
Người dân Nam Định không những có truyền thống đấu tranh chống ngoại
xâm mà còn tự hào về sức lao động sáng tạo của chính mình trong mọi lĩnh vực,
xứng đáng với quê hương ngàn năm văn hiến. Với một lực lượng lao động dồi dào,
có bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh thông, từ lâu Nam Định đã được coi là mảnh đất
trăm nghề thể hiện qua những tên đường, tên phố như: Hàng Đồng, Hàng Tiện,
Hàng Thiếc, Hàng Giấy, Hàng Dầu … Từ xa xưa nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ
nổi tiếng như hàng thêu, hàng mộc của Nam Định đã từng hiện diện ở các cuộc triển
lãm khu vực Đông Nam á và ngày nay vẫn được bạn bè nhiều nước trên thế giới ưa
chuộng. Các ngành sản xuất công nghiệp cũng được hình thành từ rất sớm như: cơ
khí, may mặc, giầy da và còn là cái nôi của ngành dệt cả nước, tồn tại và phát triển
hơn một thế kỷ qua.
Thực hiện đường lối đổi mới, những năm trở lại đây ngành công nghiệp đã có
sự phát triển đáng kể. Đặc biệt 5 năm 2005 - 2009 nhịp độ tăng trưởng bình quân
tăng 20,2%. Kết quả phát triển công nghiệp đã cho phép cải thiện một bước cơ cấu
kinh tế theo hướng tích cực. Tỷ lệ trong GDP của công nghiệp, nông nghiệp và dịch
vụ từ chỗ 23,36 - 38,25 - 38,39 (năm 2002) đã dịch chuyển thành 31,52 - 31,92 36,56 (năm 2008).
Thành công đó của ngành công nghiệp có sự đóng góp rất to lớn của các làng
nghề, làng nghề truyền thống với cách thức tổ chức đa dạng là nơi tập trung nhiều
loại hình doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ sản xuất ra các sản phẩm đặc trưng
đậm đà bản sắc dân tộc đã nhiều thế kỷ tạo dựng ấn tượng với cộng đồng quốc tế
trong giao lưu kinh tế và giao lưu văn hoá.
6
Làng nghề truyền thống Nam Định có nguồn gốc sâu xa bắt nguồn và gắn bó
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát điều tra, thống kê tổng hợp, phân tích đánh giá.
- Tham quan học tập, kế thừa các tài liệu nghiên cứu.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo khoá luận gồm 3
chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề.
Chương II: Thực trạng làng nghề tỉnh Nam Định.
Chương III: Những giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững làng nghề
tỉnh Nam Định
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ LÀNG NGHỀ
1.1 Lý luận cơ bản về phát triển bền vững
1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát
triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong
tương lai xa.
Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế
giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa...
riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và
Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Tóm lại : Phát triển bền vững là chất lượng cải tiến trong lối sống, thiết kế,
công nghệ, hiệu quả, cách sắp đặt các mục tiêu ưu tiên.
Tuy nhiên, lấy gì để đo được sự phát triển bền vững? Và có thể đưa ra khái
niệm “Phát triển bền vững ở mức chấp nhận được”? Đây là vấn đề không đơn giản,
hiện đang được nghiên cứu. Đã có nhiều hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu được đề xuất,
nhưng được thừa nhận ngày càng rộng rãi là 4 mức độ đo sau:
Độ đo kinh tế:
Độ đo kinh tế của sự phát triển bền vững được tính trên giá trị GDP hoặc
GNP. Tuy nhiên với cách tính này, để phát triển kinh tế phải tiêu tốn tài nguyên và
tạo ra các chất thải độc hại. Do vậy, trong độ đo này cần phải tính đến việc hạn chế
tối đa nhu cầu tiêu thụ tài nguyên không tái tạo và mức độ tái sinh tài nguyên, vật
liệu từ các chất thải. Bên cạnh các giá trị bình quân GDP, GNP, sự chênh lệch các
giá trị này ở các tầng lớp dân cư khác nhau cũng được tính như một giá trị đo kinh
tế của sự phát triển bền vững trên quy mô toàn cầu và được thể hiện ở mức độ và
quy mô duy trì viện trợ của các nước công nghiệp phát triển cho các nước đang phát
triển; sự công bằng về kinh tế và trao đổi thương mại giữa hai nhóm nước trên thể
10
hiện ở các khía cạnh: tăng giá nguyên liệu thô, hạ giá thiết bị, xoá nợ nước ngoài và
trừng phạt kinh tế đối với các nước đang phát triển.
Độ đo môi trường:
Độ đo môi trường của sự phát triển bền vững có thể đánh giá thông qua chất
lượng các thành phần môi trường không khí, nước, đất, sinh thái; mức độ duy trì các
nguồn tài nguyên không tái tạo; việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên không tái tạo; nguồn vốn của xã hội dành cho các hoạt động bảo vệ môi
trường; khả năng kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động kinh tế xã hội,
tiềm ẩn các tác động tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của
người dân.
của con người hướng tới sự giảm nghèo đói, nâng cao chất lượng cuộc sống của
mình. ở đây, sự vượt lên nghèo đói không phải bằng bất cứ cách nào mà chỉ bằng
các phương thức phù hợp với đạo đức thế giới về cuộc sống cộng đồng. Trong văn
hoá xanh có cả thái độ đúng đắn của con người đối với các hiện tượng tiêu cực trong
môi trường xã hội như: chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội đang làm mai một
cuộc sống tốt đẹp của nền văn minh nhân loại.
1.1.2 Một số mô hình phát triển bền vững
Có khá nhiều mô hình biểu diễn nội dung phát triển bền vững đã được nghiên
cứu, dưới đây là 4 sơ đồ mô hình phát triển bền vững được đề cập nhiều nhất hiện
nay
* Các mô hình phát triển bền vững cụ thể trong một số lĩnh vực hoạt động sản
xuất của xã hội và địa bàn sinh sống của cộng đồng cũng đã được thực hiện và
được phân theo các loại sau:
¾ Phát triển bền vững theo ngành: công nghiệp, nông nghiệp.
¾ Phát triển bền vững theo cộng đồng: miền núi, đồng bằng, đô thị, duyên
hải.
¾ Phát triển bền vững theo lãnh thổ: thành phố, lưu vực sông, vùng ven
biển.
12
Hình vẽ 1. Một số mô hình phát triển bền vững
CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO CHO
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
MÔ HÌNH CỦA HỘI ĐỒNG THẾ GIỚI
VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
hợp với thực tế đất nước và bối cảnh thế giới có ý nghĩa hết sức quan trọng. Mô
hình phát triển bền vững ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở nghiên cứu và thực
nghiệm, phù hợp với thực tế của các địa phương và mong muốn của nhà quản lý.
14
1.1.3 Những nguyên tắc chính phát triển bền vững ở Việt Nam
Tại “Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất” năm 1992 và đã ký kết Chương trình
Nghị sự 21 về việc thực hiện cam kết quốc tế và phát triển bền vững. Việt Nam chủ
trương xây dựng và ban hành Định hướng chiến lược về Phát triển bền vững
(Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam). Nội dung liên quan đến môi trường vật
thể, cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên Việt Nam có 8 nguyển tắc chính:
Nguyên tắc 1: Con người là trung tâm của phát triển bền vững, đáp ứng ngày
càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng
đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc nhất quán
trong mọi giai đoạn phát triển.
Nguyên tắc 2: Phát triển kinh tế là trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới,
bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh an
toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa phát triển kinh tế
với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên
thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền.
Từng bước thực hiện nguyên tắc: "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng
có lợi".
Nguyên tắc 3: Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là một yếu tố không
thể tách rời của quá trình phát triển. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc: "người gây
thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn", coi yêu cầu về bảo vệ
môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững.
Nguyên tắc 4: Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng
nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương
một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và
nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia
đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã
hội và văn hóa.”
Tuy nhiên, khái niệm làng nghề cũng được mở rộng khi khoa học kỹ thuật,
công nghệ và phân công lao động phát triển. Lúc này làng nghề không còn bó hẹp
trong khuôn khổ làng thủ công. Bởi lẽ, công nghệ sản xuất của một số làng nghề
không còn là công nghệ thủ công mà thay vào đó là công nghệ cơ khí hoặc bán cơ
16
khí. Hơn nữa, đi theo các ngành nghề thủ công, một số dịch vụ và ngành nghề phục
vụ cho nó cũng xuất hiện. Do đó, mô hình làng nghề với nhiều ngành nghề kết hợp
đã bắt đầu được hình thành.
Để hiểu thế nào là làng nghề truyền thống, trước hết cần phải nắm rõ khái
niệm về nghề truyền thống: “Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời,
tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển
đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề truyền thống phải
đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Thứ hai tạo
ra sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Thứ ba phải gắn với tên tuổi của một
hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.”
Sự phát triển của nghề truyền thống là nhân tố trực tiếp và chủ yếu nhất đưa tới
sự xuất hiện của các làng nghề: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn
hoặc các điểm dân cư tương tự trên mộtđịa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động
ngành nghề, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề phải
đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các
hoạt động ngành nghề; Thứ hai phải có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối
thiểu 2 năm; Thứ ba phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.”.
Từ hai khái niệm trên ta thấy “Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền
làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác. Một số làng mới được
hình thành do chủ trương của một số địa phương nhằm tạo việc công ăn việc làm
cho người dân, cho thợ đi học nghề ở các nơi khác rồi về dạy lại cho người dân ở
địa phương mình.
Mỗi cách phân loại nêu trên đều có những đặc thù riêng và tuỳ theo mục đích
mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp.
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường
nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra
thành 6 nhóm ngành chính , mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ.
- Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: có số
lượng làng nghề lớn, chiếm 20% tổng số làng nghề, phân bố khá đều trên cả nước,
phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức
18
sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về qui trình sản xuất so với thời điểm khi
hình thành nghề.
- Làng nghề dệt, nhuộm, ưom tơ, thuộc da: nhiều làng có từ lâu đời, có các
sản phẩm mang tính lịch sử, văn hoá mang đậm nét địa phương. Những sản phẩm
như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may...không chỉ là những sản phẩm có giá trị mà còn là
những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao. Quy trình sản xuất không thay đổi
nhiều, với nhiều lao động có tay nghề cao. Tại các làng nghề nhóm này, lao động
nghề thường là lao động chính (chiểm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp).
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: hình thành từ hàng
trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho
hoạt động xây dựng. Lao động gần như thủ công hoàn toàn, qui trình công nghệ thô
sơ, tỉ lệ cơ khí hoá thấp, ít thay đổi. Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu về xây
dựng nhà cửa, công trình ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng phát
triển nhanh và tràn lan ở các vùng nông thôn. Nghề khai thác đá cũng phát triển ở
tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt
động xuất khẩu.
Ngoài ra, tại Nghị định số 73/1995/NĐ -CP ngày 01/11/1995 và sau đó là
Nghị định số 01/2008/NĐ -CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ của
Bộ NN&PTNT, Chính phủ giao bộ NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà
nước lĩnh vực ngành nghề nông thôn. Trên cơ sở đó, Bộ NN&PTNT đã xây dựng,
ban hành một số văn bản nhằm chỉ đạo thúc đẩy phát triển làng nghề. Có thể kể tới
Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội
dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP; Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/4/2007
ngày 18/4/2007 về việc đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông
thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề...
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2006-2015 của Bộ
NN&PTNT là thực hiện “Mỗi làng một nghề”, với mục tiêu khôi phục và phát triển
làng nghề nông thôn để tạo việc làm, tạo thu nhập từ phi nông nghiệp với các hoạt
động như: hỗ trợ phát triển làng nghề nông thôn, khuyến khích các hộ gia đình, tư
nhân, HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp đa dạng; Đào tạo nghề hỗ trợ chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông
nghiệp; Xây dựng cơ chế quản lý chất thải làng nghề.
20
b. Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát
triển các làng nghề. Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông và
những yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và phát
triển của các làng nghề. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần thực hiện
mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tạo việc làm, giảm nghèo ở
nông thôn thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề. Ngược lại, sự
phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải
vụ; các hộ cá thể tạo nghề cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ.
Đặc biệt ở làng nghề dệt, thêu ren, mây tre đan thì mỗi cơ sở có thể thu hút 200-250
lao động.
Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao cấp cao gấp từ 3 đến 4 lần
so với thu nhập của người lao động thuần nông. Điều này cũng khiến số hộ gia đình
chuyển từ sản xuất thuần nông sang sản xuất công nghiệp và chuyên làm nghề ngày
càng tăng.
d. Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải quyết việc
làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hoá lâu dài.
Điểm chung của nhiều làng nghề là thường nằm trên trục giao thông đường bộ hay
đường sông. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm/tuyến du lịch lữ
hành. Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc
sắc, các làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn
hoá hay một hệ thống di tích lịch sử. Bên cạnh đó khách quan còn được tận mắt theo
dõi quá trình sản xuất ra các sản phẩm, thậm chí là tham gia thực hành vào một khâu
sản xuất nào đó, chính điều này tạo nên sức hấp dẫn của du lịch làng nghề.
Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần gia
tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp/dịch vụ ở địa phương, đồng thời tăng
thêm cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các hoạt động giới thiệu và bán sản
phẩm truyền thống, nâng cao đời sống người dân thông qua các dịch vụ phụ trợ...
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề
22
Theo nhiều nghiên cứu, sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của các làng nghề
trong suốt chiều dài lịch sử đã chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã
hội. Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề:
Một là, sự biến động của nhu cầu thị trường. Sự tồn tại và phát triển của
của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi
hỏi các hộ sản xuất kinh doanh phải có lượng vốn khá lớn để đầu tư vào cải tiến
công nghệ và kỹ thuật, nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của sản
phẩm.
Sáu là, yếu tố nguyên vật liệu. Cũng giống như bất kỳ quá trình sản xuất
công nghiệp nào, yếu tố nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất
của làng nghề. Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuất
tới nơi có nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá cả thành phẩm của
đơn vị sản xuất.
Bảy là yếu tố truyền thống. Yếu tố truyền thống vừa có tác dụng hai mặt,
vừa tích cực vừa tiêu cực đối với sự phát triển của làng nghề. Đối với các sản phẩm
của làng nghề truyền thống đòi hỏi phải duy trì yếu tố truyền thống với những quy
ước và ràng buộc trong luật nghề. Song, đôi khi yếu tố truyền thống lại làm cản trở
sự phát triển của nền kinh tế nói chung, và các làng nghề nói riêng. Cái khó nhất là
làm sao vừa đưa vào được những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại vừa duy trì
được yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc.
Tóm lại:
Mặc dù ngành nghề thủ công Việt Nam trong những năm qua đã chuyển biến
tích cực rõ rệt đặc biệt sau khi Quyết định 132/2000/QĐ được ban hành, song để sản
phẩm của ngành nghề có khả năng thâm nhập vào một số thị trường khó tính như
Mỹ, Nhật và EU, việc chấn hưng phát triển làng nghề còn có nhiều tồn tại nhất định.
Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát
triển làng nghề. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân bao gồm cả chủ quan và khách
quan, các làng nghề chưa được phục hồi đẩy đủ, còn nhiều hạn chế trong hoạt động
vì vậy chưa phát huy hết được vai trò của làng nghề trong việc nâng cao đời sống
của nhân dân, trong việc thúc đẩy quá trình hình thành kinh tế thị trường và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn.
24