Một số giải pháp phát triển bền vững KCN tỉnh vĩnh phúc - Pdf 95

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC
KCN 3
I. Khái quát chung về sự hình thành KCN 3
II. Đặc điểm, vai trò của KCN 4
1. Đặc điểm của KCN 4
2. Vai trò của KCN 5
3. Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề và theo quy mô hoạt động. 6
4. Nguyên tắc bố trí các KCN 7
III. Cơ sở lý luận phát triển bền vững các KCN 7
1. Quan niệm về phát triển bền vững 7
2. Cơ sở lý luận phát triển bền vững các KCN 8
IV. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững các KCN 10
1. Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 10
2. Chất lượng cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của vùng 10
3. Cơ chế chính sách đối với sự phát triển bền vững các KCN 11
4. Nguồn lao động đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng 11
V. Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững KCN 11
PHẦN II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KCN TẠI VĨNH
PHÚC 13
I. Giới thiệu chung về tỉnh Vĩnh Phúc 13
II. Đánh giá chung về sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 14
1. Đặc điểm kinh tế- văn hóa xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 14
2. Tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 15
III. Tình hình phát triển các KCN trên địa bàn Vĩnh Phúc 19
1. Giới thiêụ chung về các KCN 19
2. Thực trạng phát triển nội tại các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 20
3. Tác động lan tỏa của quá trình phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc 23
4. Những bất cập cần được giải quyết trong quá trình phát triển các

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của cán bộ quý cơ quan
nơi em được thực tập, đặc biệt là sự chỉ đạo hướng dẫn tận tình của Thầy
giáo- Ths. Bùi Đức Tuân đã giúp em hoàn thành đề tài này!
Mặc dù đã rất cố gắng, song không thể thiếu những khiếm khuyết về nội
dung của đề tài, Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến và sự thông cảm
của quý Thầy( Cô) để em hoàn thành tốt đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
PHẦN I:
SỰ CẦN THIẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KCN
I. Khái quát chung về sự hình thành KCN
Theo Nghị Định của Chính Phủ số 29/ 2008/ NĐ- CP ngày 14 tháng 3
năm 2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thì khái
niệm khu công nghiệp được hiểu như sau:
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có danh giới địa lý xác định
được thành lập theo điều kiện trình tự và thủ tục theo quy định của chính
phủ.
Các KCN bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 18, khi các nước tư bản phát triển
bắt đầu quan tâm việc mở rộng thương mại quốc tế, đặc biệt vào nửa cuối thế
kỷ XX cá khu công nghiệp trên thế giới phát triển mạnh mẽ khi các nước tư
bản phát triển đang cạnh tranh mạnh mẽ trong các cuộc chiến tìm kiếm thị
trường và trnh giành đòi phân chia lại thị trường thế giới.
Ở giai đoạn này tại các nước phát triển đã đạt trình độ cao biểu hiện: vốn
có hiện tượng thừa, giá nhân công cao, tài nguyên trở nên khan hiếm hơn tất
cả những điều này đã làm cho chi phí sản xuất tăng cao dẫn đến lợi nhuận của
các nhà tư bản giảm. Trong khi đó tại các nước đang phát triển thì lại có
nguồn tài nguyên dồi dào và phong phú, có quy mô dân số đông và trẻ …
nhưng lại thiếu vốn và công nghệ hiện đại do nguồn vốn tích lũy trong nước
và nhận viện trợ còn ở mức thấp và chưa được sử dụng một cách hiệu quả,

hạn diện tích rõ ràng, cùng sử dụng cơ sở hạ tầng với mức phí là như nhau xét
trong phạm vi cùng một KCN. Tại đây các doanh nghiệp có cơ hội tiết kiệm
được chi phí sản xuất do khả năng tiếp cận với nguồn nguyên liệu tại chỗ( sử
dụng đầu ra của nhà máy này để làm nguyên vật liệu cho nhà máy kia), từ đó
nâng cao sức cạnh tranh của thành phẩm trên thị trường tiêu dùng.
Các KCN hoạt động theo quy định chung của Chính phủ đã ban hành
trong các văn bản pháp luật, bên cạnh đó có nhiều chính sách ưu đãi của
Chính Phủ, nhưng đồng thời cũng có những chính sách hỗ trợ ưu tiên phát
triển của các cấp các ngành ở chính quyền địa phương.
Nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chủ yếu từ nước ngoài đổ vào dưới
dạng FDI hoặc do các tổ chức, cá nhân trong nước tham gia xây dựng dưới
dạnh DDI.
Có nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại và
hoạt động trong một KCN theo những điều kiện bình đẳng với nhau và Sản
phẩm của các cơ sở sản xuất này phần lớn dành cho xuất khẩu ra ngoài phạm
4
vi quốc gia. Điều này góp phần cải thiện thâm hụt cán cân thương mại quốc tế
do có sự gia tăng nguồn thu ngoại tệ.
Cơ chế quản lý kinh tế trong các KCN phụ thuộc nhiều vào sự điều tiết
của thị trường, song sự điều chỉnh bằng các chính sách vĩ mô từ phía chính
phủ là rất quan trọng đối với sự phát triển của các KCN đặc biệt là công tác
xúc tiến và cải thiện môi trường đầu tư.
2. Vai trò của KCN
KCN có vai trò tiên phong trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc
dân, là nơi thử nghiệm các chính sách mới đặc biệt là chính sách kinh tế đối
ngoại và chính sách thu hút vốn đầu tư.
Là trọng điểm kinh tế của địa phương, đóng góp lớn cho ngân sách, mở
mang ngành nghề mới, là khu vực tạo ra nhiều việc làm mới…góp phần thúc
đẩy sự hình thành các khu dân cư, khu đô thị mới kéo theo sự phát triển các
ngành cung cấp dịch vụ mới đáp ứng các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.

vệ môi trường, đô thị hoá theo hướng văn minh….
Thực hiện tốt những điều trên chính là giải quyết một phần quan trọng
những đòi hỏi được đặt ra của quá trình phát triển bền vững nền kinh tế- xã
hội của địa phương và của quốc gia.
3. Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề và theo quy mô hoạt động
Tuỳ theo vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của từng vùng từng địa
phương để xác định quy mô và loại hình doanh nghiệp:
Đối với các thành phố lớn và ở các vùng đô thị nên hình thành KCN có
quy mô từ 100ha- 300ha với mục tiêu thu hút FDI. Với mục tiêu di dời các cơ
sở công nghiệp trong nội thành vào các KCN thì quy mô thường không vượt
quá 100ha, chủ đầu tư là các doanh nghiệp có vốn DDI.
Đối với các tỉnh nằm liền kề các thành phố lớn nếu:
- phát triển theo mục tiêu thu hút FDI thì quy mô nên ở mức 200ha-
400ha
- nếu phát triển KCN nhằm phát huy nội lực bằng cách khai thác thế
mạnh của địa phương, thì quy mô thường trên 100ha. Chủ đầu tư là các doanh
nghiệp DDI.
- Vùng có cảng biển và khả năng tiếp cận tốt với nguồn nguyên liệu nên
phát triển các KCN nặng với quy mô từ 300ha- 500ha. Thường do các doanh
nghiệp liên doanh làm chủ đầu tư.
Căn cứ vào tính chất ngành nghề và mục đích sản xuất, có các loại hình
KCN:
KCX là nơi chỉ sản xuất hàng hoá phục vụ xuất khẩu.
6
KCN là nơi sản xuất các sản phẩm cung cấp cho cả thị trường trong nước
và thị trường thế giới.
KCNC là khu công nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại.
Ngoài ra phân ra các loại hình KCN: KCN đa ngành, KCN chuyên
ngành, KCN sinh thái, KCN hỗn hợp….
4. Nguyên tắc bố trí các KCN

nguồn lực hiệu quả và tiết kiệm, sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.
Công tác quy hoạch cân đối nguồn lực cho phát triển phù hợp với tình hình
thực tiễn và xu thế phát triển.
2. Cơ sở lý luận phát triển bền vững các KCN
Phát triển bền vững KCN là quá trình duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế
của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN duy trì ở
mức cao và ổn định; dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sử
dụng vốn và công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường.
Đồng thời phải sử dụng các yếu tố đầu vào sản xuất hiệu quả nhất trên
phương diện tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, có các biện pháp thiết thực để
tái tạo cải thiện tài nguyên, bảo vệ môi trường sông và hệ sinh thái xung
quanh khu vực có KCN.
KCN góp phần thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập cho
người lao động, đóng góp cho phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, góp phần
CDCC kinh tế, CDCC lao động theo hướng tích cực, phát triển các KĐT mới,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn…
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu phát triển hàng đầu của mỗi quốc
gia, trong quá trình đó xảy ra tình trạng tài nguyên bị sử dụng lãng phí, môi
trường sống bị ô nhiễm và không được đảm bảo, bất bình đẳng diễn ra ngày
càng sâu sắc do nhóm người yếu thế trong xã hội không được tiếp cận đầy đủ
với các nhu cầu tối thiểu cho sự phát triển. Mục tiêu cuối cùng của phát triển
kinh tế chính là phục vụ và cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn để mọi người đều có cơ hội phát triển đầy
đủ khả năng của mình trong một xã hội công bằng và văn minh.
8
Vì vậy phát triển bền vững là một tất yếu khách quan trong tiến trình lịch
sử phát triển của loài người, cần được vận dụng tốt và phù hợp với hoàn canh
riêng của từng địa phương, của từng quốc gia.
Mặt khác, có một thực tế tồn tại là tại các nước đang phát triển nhu cầu

- một là, bền vững trong nội tại các KCN
- hai là, bền vững lan tỏa ra ngoài hàng rào KCN
9
Bản thân các KCN phải được đặt ở những vị trí thích hợp, có tính chiến
lược lâu dài, hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại và đồng bộ đặc biệt là phải có
khu xử lý chất thải tập trung. Phải đảm bảo việc giữ vững và cải thiện môi
trường sinh thái khu vực trong cũng như ngoài hàng rào KCN.
Về tình hình thu hút đầu tư khả quan, các doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới, đóng góp đáng kể cho ngân sách
địa phương…
Có sự đấu nối, kết hợp hài hòa hệ thống hạ tầng kinh tế- xã hội như:
BCVT, giao thông, điện, nước, nhà hàng, khách sạn, nhà ở cho công nhân,
bệnh viện, trường học….
Một KCN trong quá trình xây dựng và phát triển phải chứa đựng những
yếu tố trên thì mới được coi là KCN phát triển theo hướng bền vững.
IV. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững các KCN
1. Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Đây là hai trong các yếu tố quyết định đến sự thành công của KCN. Vị
trí đặt KCN thuận lợi sẽ đảm bảo cho hoạt động lưu thông hàng hóa đồng thời
giảm chi phí vận chuyển giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Khí hậu, thời tiết, địa chất, khả năng cung cấp nguyên liệu của vùng
cũng tác động quan trọng đến sự thu hút vốn đầu tư cho phát triển KCN.
Quy mô quy đất tự nhiên giành cho phát triển KCN sẽ tạo ra khả năng
mở rộng quy mô sản xuất của KCN trong tương lai, tạo cơ hội tăng cường
liên kết giữa các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển theo
hướng hiệu quả. Điều này lại làm gia tăng uy tín của KCN đối với nhà đầu tư.
2. Chất lượng cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của vùng
Các KCN phải nằm trong khu vực được hưởng ưu đãi chính sách của
nhà nước, vùng và địa phương. Được các cấp, ban ngành tạo điều kiện thuận

11
T ỷ lệ này thể hiện mật độ dày hay thưa số lượng các nhà máy hoạt động
sản xuất kinh doanh trong các KCN. Th ể hi ện t ính hi ệu qu ả trong khai th
ác v à s ử d ụng m ặt b ằng, t ỷ l ệ n ày ở m ức 60%- 70% l à h ợp l ý.
Trong đ ó c ó:
t ỷ lệ lấp đầy = diện tích đất công nghiệp đã cho thuê/ diện tích đất công nghiệp có
thể cho thuê
Chỉ tiêu này được dùng để mức độ thành công trong việc thu hút đầu tư.
Một KCN thành công trong thu hút đầu tư có thể đạt tỷ lệ lấp đầy 100%, tức
là toàn bộ diện tích dùng làm nhà x ưởng phục vụ sản xuất và kinh doanh đã
có nhà đầu tư đang hoạt động hoặc đang triển khai thực hiện cam kết đầu tư.
2. Số dự án đầu tư: là một trong các chỉ tiêu dùng để so sánh hiệu
quả khai thác giữa các KCN với nhau. cơ cấu ngành kinh tế tính trong tổng số
dự án đầu tư vào một KCN phản ánh mức độ chuyên môn hóa và thế mạnh
riêng của KCN đó.
3. T ổng mức vốn đầu tư: phản ánh tính hiệu quả trong thu hút đầu
tư, nếu quy mô vốn đầu tư vào KCN lớn sẽ góp phần nâng cao uy tín của
KCN trong quá trình kêu gọi nhà đầu tư.
Trong đó có: tỷ lệ vốn thực hiện/ vốn cam kết thể hiện tình hình phát triển
trong thực tế của các dự án cam kết tại các KCN.
4. t ỷ lệ vốn đầu tư trên một diện tích đất công nghiệp = Tổng vốn đầu tư/
tổng diện tích đất công nghiệp. Dùng để xác định tính hấp dẫn trong thu hút vốn,
có thể dùng chỉ tiêu này để so sánh tính hiệu quả trong khai thác và sử dụng
mặt bằng giữa các KCN v ới nhau một cách chính xác hơn.
5. Tổng số lao động làm việc trong các KCN, được dùng để đánh
giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm của các KCN. Đây là
một chỉ tiêu dùng để đánh giá tác động lan tỏa của việc phát triển các KCN.
6. Tỷ lệ vốn đầu tư bình quân trên một công nhân = Tổng vốn đầu tư / tổng
số lao động. Chỉ tiêu này được dùng để xác định trình độ khoa học công nghệ
được áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ
Tỉnh Vĩnh Phúc có 1 lợi thế "trời cho" là tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và
gần Sân bay Quốc tế nội bài. Trên địa phận của tỉnh có đờng sắt Hà Nội - Lào
Cai có 4 đờng quốc lộ 2A, 2B, 2C và QL 23 chạy qua. Từ Vĩnh Phúc có thể dễ
dàng đi Quảng Ninh, Lạng Sơn bằng đờng Quốc lộ 1A quốc lộ 18 mới đợc
xây dựng. Có 2 con sông lớn (sông Hồng và sông Lô) và 3 con sông nhỏ chảy
qua rất thuận lợi cho giao thông đờng thuỷ, toàn bộ xã, phờng của tỉnh đã có
đờng ô tô đi đến trung tâm xã
2- Diện tích tự nhiên của tỉnh: 1231km
2

Trong đó: Đất nông nghiệp: 87.298,70ha
Đất phi nông nghiệp: 35.400,48ha
Đất cha sử dụng: 2.724,96ha
3- Thời tiết và khí hậu:
+ Nhiệt độ trung bình năm 2005 : 23,2
o
C
+ Số giờ nắng trong năm 2005: 1.407,7 giờ
+ Lợng ma trong năm 2005: 1.484,2 giờ
+ Độ ẩm trung bình năm 2005: 82,3%
13
3- Dân số: 1,169 triệu ngời, trong đó: nam: 566.137 ngời; nữ: 602.930 ngời.
Mật độ dân số: 852 ngời/ km
2
; Dân số thành thị: 195.151 = 18,3%; Dân
số nông thôn: 973.916 = 81,7%.
Lao động trong độ tuổi và ngoài độ tuổi có lao động thực tế năm 2006:
765.420 ngời. Trong đó: Trong độ tuổi lao động: 736.750 = 63% dân số.
II. ỏnh giỏ chung v s phỏt trin kinh t xó hi tnh Vnh Phỳc

Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt 1323$/ người/ năm, cao
hơn mức bình quân chung cả nước; xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả tích
cực bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 2%/ năm tính đến hết 2008 còn
10,2%. Là một trong mười địa phương đứng đầu cả nước về giáo dục. Hệ
thống y tế từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở được quan tâm đầu tư ngày càng đáp ứng
tốt nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Về thu đầu tư: Các dự án đầu tư vào Vĩnh Phúc chủ yếu là lĩnh vực công
nghiệp (chiếm 90%). Sản phẩm công nghiệp chiếm thị phần lớn trong nước và
có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Hiện nay Vĩnh Phúc được coi là một
trung tâm sản xuất ô tô,xe gắn máy, gạch ốp lát hàng đầu của Việt Nam; Và
đang có nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn đầu tư vào tỉnh như dự án đầu tư
sản xuất máy tính của tập đoàn Hồng Hải(Đài Loan) có tổng vốn đầu tư 1 tỷ $
đang được tích cực triển khai…
2. Tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Phát triển doanh nghiệp trên địa bàn
Trong năm 2008 số doanh nghiệp dân doanh thành lập mới đạt 580
doanh nghiệp và 93 chi nhánh tăng so với năm2007 là 9,2%; Với tổng số vốn
đăng ký đạt 3800 tỷ đồng tăng so với 2007 là 8,7%. Trong đó đã có 406
doanh nghiệp đi vào hoạt động chiếm 70% số doanh nghiệp trong năm. Luỹ
kế đến năm 2008 tổng số doanh nghiệp được thành lập trên địa bàn đạt 2500
doanh nghiệp và 203 chi nhánh, với tổng số vốn đăng ký là 11187 tỷ đồng và
số doanh nghiệp đang hoạt động chiếm 80% tổng số doanh nghiệp đăng ký.
Số doanh nghiệp dân doanh đóng góp vào NSNN ngày càng tăng, năm 2008
đạt 291 tỷ đồng tăng 32,75% so với năm 2007 và đã tạo việc làm cho hàng
vạn lao động.
Thực hiện Quyết định số 1696/ QĐ- TTg, ngày 29/ 11/ 2007 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp
100% vốn nhà nước thuộc tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008- 2010. Các doanh
nghiệp đã tích cực triển khai các bước chuẩn bị chuyển đổi.
Tiến độ thực hiện các dự án lớn

số 16 về đào tạo đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Vĩnh Phúc, đẩy mạnh đào tạo
nghề cho lao động khu vực nông nghiệp- nông thôn, các xã giành đất cho phát
triển công nghiệp, dịch vụ.
Để đảm bảo thực hiện các mục tiêu, năm 2008 các trường cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề của tỉnh được bổ sung tăng 25% chỉ tiêu
đào tạo so với năm 2007; được tập trung đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất;
ngoài ra còn giành 30 tỷ đồng để thực hiện các nội dung đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực của tỉnh theo mục tiêu của nghị quyết.
Về giáo dục và đào tạo
16
Ngành Giáo dục- Đào tạo có những chuyển biến tích cực cả về quy mô
và chất lượng:
Hết năm 2008, 100% xã phường trên địa bàn tỉnh đạt phổ cập THCS, có
tỷ lệ tốt nghiệp THCS và học tiếp THPT đạt 85%. Có trên 6000 học sinh đỗ
đại học và cao đẳng trong kỳ thi tuyển sinh năm 2008, số lượng giáo viên đạt
chuẩn và trên chuẩn đều tăng so với các năm trước.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cấp học được quan tâm đầu tư, tính
đến hết năm học 2007- 2008 tỷ lệ phòng học kiên cố bậc học phổ thông đạt
85,4% tăng 5,5% so với năm học trước.
Về khoa học- công nghệ; Tài nguyên và môi trường
Việc chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ được tích cực
triển khai; cơ bản hoàn thành điều chỉnh qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến
2010của 3 huyện Bình Xuyên, Tam Dương và Vĩnh Tường; bãi bỏ 13 qui
hoạch không phù hợp với diện tích 346,81 ha.
Cấp sổ đăng ký quản lý chất thải nguy hại cho 85 chủ nguồn thải; đã xác
định 5 đơn vị được phép nhập khẩu phế liệu… Đồng thời đã tổ chức các hoạt
động truyền thông về bảo vệ môi trường.
Về công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ
Mạnglưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở được tăng cường, chất lượng các dịch
vụ y tế được nâng lên. Hết năm 2008, 100% số trạm y tế cấp xã có bác sĩ; số

Về an ninh- quốc phòng và nôi vụ trên địa bàn
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn tiếp tục được giữ vững và ổn
định; tình hinh an ninh nông thôn được đảm bảo, phạm pháp hình sự và tai tệ
nạn xã hội được kiềm chế. Tuy nhiên, có nơi có lúc tình hình an toàn trật tự
còn diễn biến phức tạp, như: khiếu kiện đông người; xảy ra 31 vụ đình công
với 17562 lượt người tham gia với nguyên nhân chủ yếu là đòi tăng lương,
giảm giờ làm, tăng khẩu phần ăn, đảm bảo các chế độ….
Về công tác cải cách hành chính phòng chống tham nhũng và thực
hành tiết kiệm
Đã phê duyệt và triển khai đề án một cửa liên thông và được quan tâm
đầu tư cơ sở vật chất nhằm hoạt động có hiệu quả hơn; công tác rà soát các
văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện có nề nếp hơn. Một số đơn vị đã
triển khai làm việc thêm ngày thứ 7 để giải quyết những nhu cầu bức thiết của
nhân dan và doanh nghiệp.
Thực hiện nghị quyết số13/ 2008/ NĐ- CP và 14/ 2008/ NĐ- CP của
chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh
và cấp huyện; tỉnh đã thành lập Sở Ngoại vụ, giảm số cơ quan chuyên môn
18
thuộc UBND tỉnh từ 24 cơ quan xuống còn 19 cơ quan; và giảm từ 14 aơ
quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện xuống còn 12 cơ quan.
Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng tỉnh Vĩnh Phúc đã được thành lập
và kiện toàn về tổ chức đã đi vào hoạt động theo quy định; công tác tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm
được đẩy mạnh.
III. Tình hình phát triển các KCN trên địa bàn Vĩnh Phúc
1. Giới thiêụ chung về các KCN
Tính đến thời điểm kết thúc năm 2008, sau khi chia tách huyện Mê Linh
về Hà Nội. Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có 9 KCN được Thủ Tướng Chính
Phủ phê duyệt chủ trương đầu tư với tổng diện tích 2284ha chiếm 1,85% toàn
bộ diện tích , Cả 9 khu công nghiệp hiện nay đều đã có chủ đầu tư hạ tầng.

Về tỷ lệ lấp đầy và cơ cấu vốn đầu tư:
Các KCN đang hoạt động trên địa bàn có tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt
55,9% cao hơn mức trung bình cả nước là 49,9%; tuy nhiên vẫn còn thấp hơn
so với các tỉnh như Đồng Nai (hơn 63%), Bình Dương ( hơn 60%).
Hầu hết các KCN đều có số dự án có vốn FDI nhiều hơn số dự án có vốn
DDI. T ính đến hết năm 2008 có cơ cấu vốn đầu tư vào tỉnh:
- Lĩnh vực công nghiệp: có 246 dự án, gồm 90 dự án FDI với số vốn đầu
tư 1765,7 triệu $ chiếm 88,89% tổng vốn đầu tư FDI; và 156 dự án DDI với
số vốn 9532 tỷ đồng chiếm 62,75% tổng vốn đầu tư DDI.
- Lĩnh vực Thương Mại- Dịch vụ: có 75 dự án, gồm 5 dự án FDI với số
vốn đầu tư 178,84 triệu $ chiếm 9% tổng vốn đầu tư FDI và 70 dự án DDI với
số vốn đầu tư 1161 tỷ đồng chiếm 7,5% tổng vốn đầu tư DDI.
- Lĩnh vực nông nghiệp: có 5 dự án FDI với số vốn 41,94 triệu $ chiếm
2,11% tổng số vốn FDI; có 6 dự án DDI với số vốn 71,7 tỷ đồng chiếm 0,46%
tổng vốn DDI.
- Lĩnh vực du lịch- đô thị: có 16 dự án DDI với số vốn 3962,6 tỷ đồng
chiếm 25,67% tổng vốn DDI.
- Lĩnh vực Giáo dục- đào tạo: có 9 dự án DDI với số vốn 709,5 tỷ đồng
chiếm 4,62% tổng vốn DDI.
Như vậy, tính đến hết năm 2008 trên địa bàn tỉnh có 357 dự án thực
hiện thủ tục đầu tư qua ban quản lý dự án còn hiệu lực. Gồm 100 dự án
FDI với tổng số vốn đầu tư là 1986,4 triệu $ và 257 dự án DDI với tổng vốn
đầu tư là 15437,32 tỷ đồng. Trong đó:
- Đầu tư trong KCN, CCN: Có 171 dự án chiếm 47,9% tổng số dự án,
gồm 84 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đầu tư là 1512,65 triệu $ chiếm
20
76,15% tổng vốn đầu tư FDI; 87 dự án DDI với tổng vón đầu tư 3246,84 tỷ
đồng chiếm 21,03% tổng vốn đầu tư DDI.
- Đầu tư ngoài hàng rào KCN,CCN: có 186 dự án chiếm 52,1% tổng số
dự án, gồm 16 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 473,806 triệu $ chiếm 23,85%

Có 74 doanh nghiệp hoạt động hòa vốn hoặc mới đi vào hoạt động,
chiếm 51,39% tổng số dự án; gồm 40 doanh nghiệp DDI và 34 doanh nghiệp
FDI.
21
Có 17 doanh nghiệp hoạt động thua lỗ chiếm 11,81% tổng số dự án; Do
thị trường còn nhỏ hẹp, năng lực tài chính còn yếu, sản phẩm chưa có chỗ
đứng trên thị trường.
Về công tác xây dựng hạ tầng các KCN:
KCN Bình Xuyên I: tỷ lệ lấp đầy đạt 79,4%; tỷ lệ thực hiện vốn đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng là 39,79% đạt mức 228,2 tỷ đồng.
Các tuyến đường giao thông nội bộ KCN chưa thể đấu nối khép kín do
gặp khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng, việc xây dựng nhà máy xử lý
nước thải chưa thể thi công do công tác giải phóng mặt bằng có vướng mắc.
có một số thay đổi về khu chức năng so với quy hoạch chi tiết đã được Bộ
Xây Dựng phê duyệt.
KCN Khai Quang: Tỷ lệ lấp đầy đạt 74,1%; tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện
xây dựng hạ tầng KCN đạt 54,56% ở mức 156,04 tỷ đồng. Trạm xử lý nước
thải giai đoạn I với công suất 1800m
3
/ ngày đêm, đã hoàn thành nhưng vẫn
chưa thể hoạt động do chủ đầu tư chưa hoàn chỉnh hồ sơ thu hồi và giao đất
cho các trạm trung chuyển, thu gom nước thải khu vực phía bắc KCN.
KCN Kim Hoa: Tỷ lệ lấp đầy đạt 100% giai đoạn I, tỷ lệ vốn thực hiện
xây dựng hạ tầng KCN đạt 64,9% ở mức 61 tỷ đồng, một phần diện tích KCN
năm trên địa bàn huyện Mê Linh đang được tiến hành bàn giao. Nhà máy xử
lý nước thải ở giai đọan II chưa được triển khai xây dựng do có vướng mắc về
thủ tục đất đai.
KCN Bá Thiện: tỷ lệ lấp đầy đạt 56,9%; chủ đầu tư là công ty TNHH
compal Việt Nam, tỷ lệ vốn thực hiện xây dựng hạ tầng KCN đạt 4,87% ở
mức 3,82 triệu $ chủ yếu đang ở giai đoạn san nền và làm đường.

án đầu tư trong quá trình hoạt động nhằm điều hòa tốt hơn hiệu quả kinh tế-
xã hội của các dự án trong các KCN
3. Tác động lan tỏa của quá trình phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc
3.1. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001-2008 luôn ở
mức hai con số và cao hơn mức trung bình cả nước; năm 2008 tốc độ tăng
trưởng kinh tế( theo giá cố định 1994) của Vĩnh Phúc đạt 14,78% là một trong
những tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong bối cảnh kinh tế thế
giới đang suy thoái và ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế trong nước.
Trong đó khu vực công nghiệp- xây dựng tăng 14,95%; dịch vụ tăng 19%;
nông- lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,9%.
23
Giá trị gia tăng ngành công nghiệp tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao
tính bình quân cả giai đoạn 2002-2008 đạt mức trên 25%, năm 2002 thấp nhất
đạt 22,3%, năm 2007 đạt mức cao nhất 38,55%;
Năm 2008 Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) đạt
30554,7 tỷ đồng chiếm 97,23% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh,
tăng 18% so với năm 2007.Với cơ cấu DDI đạt 3685,89 tỷ đồng ; FDI đạt
26868,8 tỷ đồng. Tính cả giai đoạn 2002-2008 tốc độ tăng bình quân giá trị
sản xuất đạt khoảng 25%/năm.
Các KCN nộp ngân sách ngày càng lớn, năm 2008 đã nộp ngân
sách( chưa tính thuế XNK và VAT) đạt 6558,2 tỷ đồng chiếm 89,35% tổng
thu ngân sách; tăng 39,6% so với năm 2007. Tổng thu ngân sách địa phương
năm 2008 đạt 9228,2 tỷ đồng tăng 57,2% so với năm 2007; trong đó thu nội
địa đạt 7340 tỷ đồng; thu thuế XNK và thuế VAT đạt 1700 tỷ đồng. Tổng chi
ngân sách địa phương đạt 6609,5 tỷ đồng tăng 42,3% so với năm 2007.
Vốn huy động đầu tư phát triển năm 2008 đạt 10287 tỷ đồng tăng 32%
so với năm 2007, có cơ cấu: vốn ngân sách địa phương quản lý đạt 2812 tỷ
đồng, tăng 31%; vốn của các bộ ngành trung ương đầu tư trên địa bàn đạt 470

Từ khi các KCN đi vào hoạt động, đặc biệt là những thời điểm các dự án
lớn đi vào sản xuất và gia tăng sản lượng công nghiệp thì kinh tế Vĩnh Phúc
lại đạt được tốc độ tăng trưởng cao kỷ lục và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tỷ trọng đóng góp của khu vực công nghiệp và xây dựng ngày
càng tăng cao từ 20,71% năm 1997 lên 38,97% năm 2000 và đạt mức 57%
năm 2008; cùng với đó là sự giảm tỷ trọng đóng góp của khu vực nông
nghiệp- lâm nghiệp và thủy sản, từ mức 45% năm 1997 xuống 20,5% năm
2005 và còn 18,3% năm 2008.
Sự phát triển các KCN đã kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp
phụ trợ trên địa bàn tỉnh phát triển. Tỷ lệ nội địa hóa ngày càng tăng đến năm
2008. Một số ngành cơ khí bổ trợ cũng được hình thành trên địa bàn, góp
phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm công nghiệp của tỉnh; tính đến
năm 2008 tỷ lệ nội địa hóa ngành sản xuất ô tô của Vĩnh Phúc đạt 27%; của
xe máy đạt 75% công nghệ phần mềm cũng đang đưngs trước nhiều cơ hội
phát triển.
3.3. Góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu lao động:
Cơ cấu lao động của tỉnh những năm gần đây chuyển dịch theo hướng
tích cực; số lao động phổ thông và lao động nông nghiệp giảm dần qua các
năm; có sự gia tăng đáng kể lao động phi nông nghiệp cả về số lượng và chất
lượng.
Sự phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh những năm qua đã đóng vai trò
quan trọng trong sự chuyển dịch cơ cấu lao động nói trên. Tại những nơi có
KCN thì người dân một phần bị mất đất canh tác do đó nhận được những
khoản tiền bồi thường để chuyển nghề, một phần là do diện tích đất canh tác
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status