THƯ
VIỆN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN BÍCH LIÊN
NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI VƯỜN NHÀ Ở THỊ
XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS. PHẠM VĂN NGỌT
TP. HỒ CHÍ MINH - 2010
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Bình Phước là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có nền kinh tế nông
nghiệp phát triển với cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, có diện tích đất nông –
lâm nghiệp và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản chiếm 82,5% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Đó
là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông - lâm nghiệp ở Bình Phước.
Thị xã Đồng Xoài được thành lập năm 1999, thuộc tỉnh Bình Phước, có 16.957 ha diện tích tự
nhiên và 50.758 nhân khẩu. Thị xã Đồng Xoài gồm 8 đơn vị hành chính cơ sở. Đó là các phường
Tân Đồng, Tân Xuân, Tân Bình, Tân Phú, Tân Thiện và các xã Tiến Thành, Tân Thành, Tiến Hưng.
Thị xã đang trong quá trình phát triển, đô thị hóa nhưng nhìn chung nông nghiệp vẫn là thế mạnh ở
Đồng Xoài, trong đó các vườn nhà với diện tích nhỏ lẻ đã hình thành từ lâu đời cùng một số trang
trại xuất hiện gần đây trồng các loài cây công nghiệp như Điều, Tiêu, Cà phê, Nhãn, Cam, Xoài,…
- Nghiên cứu thành phần nông hóa thổ nhưỡng của một số loại đất trồng cây ở vườn nhà (đất đỏ
bazan, đất xám bạc màu… )
- Phân tích hiện trạng các kiểu sinh thái vườn nhà: diện tích, cơ cấu cây trồng và cây dại, tình
hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả kinh tế của các vườn.
4. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 5/2009 đến tháng 2/2010.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vườn nhà (trừ các vườn Cao su) được thành lập từ 5
năm trở lên ở thị xã Đồng Xoài. Đề tài nghiên cứu trong phạm vi 8 xã, phường thuộc thị xã Đồng
Xoài đó là: Tân Phú, Tân Bình, Tân Đồng, Tân Thiện, Tân Xuân, Tiến Thành, Tiến Hưng, Tân
Thành.
Không nghiên cứu về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất, trong rau quả… cũng như sự ảnh
hưởng của nó đến sức khỏe của người nông dân trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
6. Ý nghĩa của đề tài
Những kết quả nghiên cứu được của đề tài có thể làm cơ sở để xây dựng và nhân rộng những
mô hình sinh thái vườn nhà bền vững, hiệu quả kinh tế cao cho thị xã Đồng xoài nói riêng và toàn
tỉnh Bình Phước nói chung. Từ đó, góp phần chuyển dịch và thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
tăng hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các kiểu sinh thái vườn nhà ở tỉnh Bình Phước.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Hệ sinh thái
Hệ sinh thái được nghiên cứu từ lâu, vì thế khái niệm này đã có từ thế kỷ XIX dưới các tên khác
nhau như “Sinh vật quần lạc” (Dukachaev,1846; Mobius,1877). Sukachaev (1944) mở rộng khái
tạo nên cảnh quan vườn và đồng ruộng của nông thôn, đóng góp vào hệ sinh thái chung trên lãnh
thổ.
- Vườn là mô hình sản xuất bổ sung cho ruộng đồng. Đồng ruộng trồng cây hàng năm ngắn
ngày, số loài cây trồng hạn chế: cây lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, cây công nghiệp
hàng năm, rau quả. Các loài cây vườn nhiều hơn gấp bội, rất phong phú, phần lớn là cây lâu năm…,
rau và một số cây thực phẩm ngắn ngày chịu bóng có thể trồng xen trong vườn. Sản phẩm vườn là
một hợp phần quan trọng và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, cung cấp nhiều mặt hàng
cho thị trường. Ngoài chức năng kinh tế, một vài kiểu vườn phục vụ các mục tiêu văn hóa, xã hội,
phúc lợi công cộng, nghiên cứu tài nguyên, bảo vệ sinh thái và tài nguyên (công viên, vườn cây gỗ,
vườn quốc gia).
- Hệ thống canh tác vườn Việt Nam là một kiểu vườn nhiệt đới hỗn loài, tập hợp nhiều loài cây
trồng trên một đơn vị diện tích, tận dụng ánh sáng với những tầng tán khác nhau, yêu cầu ánh sáng
khác nhau, tận dụng diện tích với phương thức tăng vụ, trồng xen. Vườn gia đình hay công viên là
một tổ hợp nhiều loài cây, khác với đồng ruộng, trên mỗi mảnh đất ở từng thời vụ chỉ trồng một thứ
cây. Vườn là một phương thức canh tác đạt hiệu quả sử dụng tài nguyên môi trường ( đất, nước, ánh
sáng), áp dụng một kỹ thuật thâm canh cao.
- Vườn là trung tâm điều chỉnh và phối hợp giữa 2 thành phần vườn - ruộng đồng trong hệ
thống sản xuất của nông dân. Những gì cần cho gia đình, thị trường yêu cầu mà đồng ruộng không
sản xuất được thì phải sản xuất ở vườn. Vườn phải tạo công ăn việc làm để sử dụng nhân lực trong
những thời vụ và thời gian nghỉ việc đồng ruộng, là điều kiện thuận lợi để sử dụng lao động phụ
trong gia đình… Nhiều vườn còn là nơi gây giống, giữ giống cây trồng.
- Căn cứ vào chức năng và mục tiêu, vườn có thể phân loại: [14]
+ Vườn sản xuất nông lâm nghiệp (kể cả vườn giống). Vườn thường kết hợp với ao nuôi cá
(hoặc mương nuôi tôm, cá đào trong vườn ở đồng bằng sông Cửu Long) và chuồng trại chăn nuôi
gia súc gia cầm, tạo thành một hệ thống tương hỗ đạt hiệu quả kinh tế cao.
+ Vườn phúc lợi công cộng, vườn cảnh: tạo một hệ sinh thái hài hòa làm nơi nghỉ ngơi, giải trí
cho dân đô thị.
+ Vườn nghiên cứu cây rừng.
cáo “Tương lai của chúng ta” (Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới
(WCED) (1987). Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu
cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của các thế hệ tương
lai”. Năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của
Liên Hợp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp
của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với
bảo vệ môi trường.[8]
Hội nghị thượng đỉnh Quả Đất lần thứ II về phát triển bền vững đã họp tại Johannesberg (Cộng
hòa Nam Phi) (từ ngày 26/8 – 04/09/2002) để thảo luận về những gì đã làm được và chưa làm được
trong 10 năm, kể từ sau Hội nghị Rio de Janeiro đến năm 2002. Đồng thời, Hội nghị này đã nêu ra
những vấn đề bức xúc hiện nay là: nước sinh hoạt và sản xuất, tình hình năng lượng, sản xuất nông
nghiệp, đa dạng sinh học, quản lý hệ sinh thái và sức khỏe con người [8].
1.1.5. Nông nghiệp bền vững
Định nghĩa “Nông nghiệp bền vững” được nhiều tác giả thừa nhận là “việc thiết kế những hệ
thống cư trú lâu bền của con người; đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra
mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu
cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả”. (Mollison và Slay,
1994).[24]
Nông nghiệp bền vững có cơ sở nền tảng là Sinh thái học, mục tiêu là nhất thể hóa xã hội loài
người vào các hệ sinh thái bền vững, do đó có tác giả còn gọi là Nông nghiệp sinh thái. Trong vườn
và trang trại theo nông nghiệp bền vững, mục tiêu là sử dụng cho hết chất dinh dưỡng để không trở
thành nguyên nhân gây ô nhiễm. Thực hiện việc đó bằng trồng nhiều loại cây, mỗi loại sử dụng
những loại chất dinh dưỡng khác nhau, bón phân vào lúc mà cây có thể sử dụng được hết (thí dụ,
bón vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây: bón lót, bón thúc…). Trồng cây và cỏ dọc đường ranh
giới khu đất, phủ mặt đất và ít cày xới bằng cách trồng cây phân xanh. [24]
Những nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững:
- Tính đa dạng: trồng những loài, giống cây khác nhau; lai tạo giống; luân canh; trồng cây lưu
Cỏ và
cây dại
Nhiệt độ
Ẩm độ
Sinh
vật
trung
tâm
Không khí
Ánh sáng
Đất
Nước
Các thành tố không phải sinh vật
Hình 1.2. Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái vườn nhà
(Nguồn: Đường Hồng Dật, 1999) [14]
1.2. Tổng quan tài liệu
1.2.1. Tài liệu nước ngoài
Các công trình về hệ sinh thái vườn nhà không phong phú như các tài liệu khoa học khác. Năm
1990, Karyono, khảo sát cấu trúc vườn nhà trong diện tích đất nông thôn của lưu vực Citarum,
điều kiện tự nhiên nhằm có cơ sở đề xuất một số biện pháp xử lý và phương hướng phát triển mô
hình vườn thích hợp với từng vùng. Tác giả đã phân tích những đặc điểm có liên quan đến vườn như
khí hậu thủy văn, đất đai, giống, kỹ thuật, các điều kiện thuận lợi và khó khăn của từng vùng để dự
kiến biện pháp phát triển vườn cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó tác giả cũng lưu ý đến các giống cây trồng thích hợp, kháng được bệnh do sâu rầy.
Đường Hồng Dật (1999), trong cuốn “Nghề làm vườn- cơ sở khoa học và hoạt động thực tiễn” đã
lý giải một số vấn đề của hoạt động làm vườn, phân biệt vườn với ruộng, phân biệt vườn nhà với
các loại vườn khác, phân tích các mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ sinh thái vườn, chủ yếu
là vườn nhà và kết luận vườn là một hệ sinh thái nông nghiệp tạo ra năng suất kinh tế cao. Tác giả
cũng nêu cách thiết kế các loại vườn, chia khu cho từng loại vườn (4 khu chính), mỗi khu có đặc
điểm và cách thiết lập khác nhau.[14]
Trần Thị Phú (2004), nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây trồng ở vườn nhà Huế. Tác giả đã
xác dịnh được 520 loài thuộc 311 chi trong 122 họ của 4 ngành thực vật trồng ở các vườn nhà Huế.
[28]
Thanh Hương (2005), nêu lên tầm quan trọng của vườn (rau) trong cuộc sống, hiện trạng vườn
hiện nay của các gia đình, phân loại một số loại cây thường trồng
trong vườn và tập trung vào trồng rau để cải thiện bữa ăn gia đình. [17]
Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2006), đã nêu lên khái niệm, cấu trúc hệ sinh thái vườn, tầm quan trọng
và vai trò của vườn đối với đời sống con người. Tác giả cho biết có nhiều khái niệm khác nhau về
vườn và có thể chia thành 3 loại: vườn hoa kiểng, vườn rau đậu và vườn cây ăn trái; một đặc điểm
chính để phân biệt vườn nhà với vườn và vườn rừng là vườn nhà có thêm một căn nhà và công lao
động thường do trong hộ gia đình thực hiện. [2]
Trần Thế Tục (2008), nêu khái niệm và phân loại vườn tạp, những tiến bộ kỹ thuật có thể áp
dụng để cải tạo vườn tạp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đó là kỹ thuật chọn tạo nhân giống, kỹ thuật
tạo tán, tỉa cành, kỹ thuật bón phân, bao quả, điều khiển ra hoa quả trái vụ, ứng dụng các thành tựu
bảo vệ thực vật đối với cây ăn quả. Ngoài ra tác giả còn đề ra hướng chọn lựa các giống tốt có thế
cạnh tranh trên thị trường để cải tạo vườn tạp.[32]
Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2008), nêu đặc điểm vườn nhà, các thành phần của
Toạ độ địa lý của thị xã Đồng Xoài:
- Từ 11o31’25” đến 11o33’36” vĩ độ Bắc
- Từ 106o53’36” đến 106o55’31” kinh độ Đông
Hình 2.1. Bản đồ thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (tỉ lệ 1/25.000)
(Nguồn: Ủy ban nhân dân thị xã Đồng Xoài) [34]
Thị xã Đồng Xoài có diện tích tự nhiên là 16.769,83 ha, chiếm 2,44% diện tích của cả tỉnh Bình
Phước. Toàn thị xã có 3 xã và 5 phường. Trung tâm hành chính thị xã đặt tại phường Tân Phú. Ranh
giới hành chính của thị xã Đồng Xoài như sau:
- Phía Đông giáp huyện Đồng Phú.
- Phía Tây giáp huyện Chơn Thành
- Phía Nam giáp huyện Đồng Phú
- Phía Bắc giáp huyện Đồng Phú
- Phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Dương.
Đến nay toàn thị xã có diện tích tự nhiên là 16.848 ha, gần bằng 2,46% diện tích cả tỉnh Bình
Phước và bằng khoảng 0,05% diện tích toàn quốc. Với dân số năm 2001 là 56.120 người, mật độ
dân số khoảng 333 người/km2.
- Địa hình: nằm ở độ cao trung bình 88,63 m so với mực nước biển, là vùng đất đồi tương đối
bằng phẳng, hơi lượn sóng. Là một thị xã miền núi nhưng Đồng Xòai có địa hình tương đối bằng
phẳng so với các vùng khác. Địa hình có độ dốc
8 - 15o
131.503
19,19
1.241,7
7,37
15 - 20o
86.103
12,56
> 20o
108.051
15,76
Tổng diện tích
685.394
100
16.848
6
7
8
9
10
11
12
bình
26,1
27,1
28,0
28,0
27,4
26,9
26,5
14,4 2632,2
Độ ẩm % 71,7
70,0
71,8
75,9
82,3
84,8
86,4
87,1
81,4
75,9
Nhiệt
độ(0 C)
Lượng
mưa
(mm)
88,1
cằn, sinh trưởng và phát triển rất kém. Khả năng cung cấp nước tưới của thị xã cho nông nghiệp rất
khó khăn, chưa đầy 10% diện tích đất nông nghiệp có tưới tiêu, vì vậy trong sản xuất nông nghiệp
cần phải chọn và đưa vào sử dụng những loại hình sử dụng đất ít hoặc không cần nước tưới. Bên
cạnh đó, nguồn nước sinh họat cũng gặp rất nhiều khó khăn do mùa nắng kéo dài mà các hồ, đập lại
dự trữ nước ít. [34]
Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 80,1%.
2.1.1.3. Các loại đất
Thị xã Đồng Xòai có 3 loại mẫu chất đá mẹ hình thành đất là đá bazan, đá phiến sét, mẫu chất
phù sa cổ và được phân bố thành 3 khối tập trung.
Trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000, đất Thị xã Đồng Xòai có 3 nhóm đất, với 7 đơn vị bản đồ đất. (Hình
2.2)
Hình 2.2. Bản đồ các loại đất ở thị xã Đồng Xoài (tỉ lệ 1/25.000)
(Nguồn: Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Bình Phước, 2007 ) [29]
Ghi chú:
Nhóm đất xám
Nhóm đất đỏ vàng
Nhóm đất dốc tụ
- Nhóm đất xám
Có 8.812,4ha (52,31%) là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất ở thị xã Đồng Xòai. Phân bố nhiều
nhất ở xã Tân Thành 3.760,2 và xã Tiến Hưng 3.562,6 ha và các xã khác như: Tân Phú 300,8ha,
Tiến Thành 509,4ha, Tân Xuân 281,9ha, Tân Bình 347,1ha, Tân Đồng 50,4ha.
Đất xám chủ yếu có địa hình bằng phẳng < 3o có diện tích bằng 94,18% diện tích đất xám.
2.1.1.4. Tài nguyên nước
- Sông, suối
Trên địa bàn thị xã Đồng Xòai có 01 con sông lớn chảy qua: Sông Bé và suối Rạt, nhánh sông
Đồng Nai.
+ Sông Bé chảy dài dọc theo trung tâm tỉnh Bình Phước theo hướng Bắc-Nam, chảy qua các
huyện Phước Long, Lộc Ninh, Bình Long, thị xã Đồng Xòai và chảy về tỉnh Bình Dương. Trên
dòng Sông Bé đã quy hoạch 04 công trình thủy lợi lớn theo 04 bậc thang: Thủy điện Thác Mơ, Cần
Đơn, Sóc Phu Miêng và Phước Hòa. Hiện nay công trình thủy điện Thác Mơ (1,47 tỷ m3) đã đưa
vào sử dụng từ 1995. Công trình Cần Đơn đang trong giai đọan thi công và công trình Phước Hòa
đang trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Trên địa bàn thị xã Đồng Xòai, sông Bé cũng chạy từ Bắc
xuống phía Nam dọc theo phía Tây thị xã; là ranh giới giữa thị xã Đồng Xòai và huyện Bình Long.
Suối Cam và suối Sông Rinh là hai nhánh của Sông Bé thường cạn vào mùa khô và ngập sâu vào
mùa mưa.
+ Suối Rạt là ranh giới giữa thị xã Đồng Xòai và huyện Đồng Phú. Suối này có nước ngập sâu
vào mùa mưa, nhưng tương đối cạn kiệt về mùa khô, nên có tác dụng thấp trong sản xuất nông
nghiệp và sinh họat.
- Nước ngầm
Theo bản đồ địa chất thủy văn tỉnh Sông Bé (cũ) thành lập năm 1995 của liên đoàn Địa chất 6
cho thấy nước ngầm trong vùng có các tầng chứa nước sau:
+Tầng chứa nước Bazan (QI-II) phân bố trên quy mô khoảng 348km2, lưu lượng tương đối khá
0,5-16l/s. Tuy vậy, do biến động lớn về tính thấm nên tỷ lệ khoan khai thác nước không cao.
+ Tầng chứa nước Pleistocene (QI-III), phân bố ở phía Nam của thị xã. Đây là tầng chứa nước
có trữ lượng khá lớn và chất lượng tốt.
+ Tầng chứa nước Plioxen (N2) lưu lượng 5-15l/s, phân bố ở trung tâm thị xã Đồng Xòai. Có
chất lượng tốt.
+ Ngoài ra có các tầng chứa nước Mezozoi (M2) phân bố ở vùng đồi thấp (100-250 m).
- Nguồn nước của các hồ, đập, bàu
Trên địa bàn toàn thị xã hiện có 07 hồ chứa nước gồm: hồ Suối Cam ở Tân Phú diện tích sử
vườn, chúng tôi dựa vào bản đồ phân loại đất của thị xã và tính chất đất khi khảo sát thực địa.
- Lấy 3 mẫu đất và đem phân tích ở Viện Khoa học Kỹ thuật Miền Nam về một số chỉ tiêu thành
phần cơ giới, pH, N tổng số, K2O tổng số, P2O5 tổng số, N dễ tiêu, K2O dễ tiêu, P2O5 dễ tiêu.
- Sau đó chọn mẫu (150 vườn nhà) để khảo sát. Chọn các vườn thể hiện được vườn cây trồng
thuần loại và vườn cây trồng xen để khảo sát, thu mẫu, chụp hình các loài động, thực vật được nuôi
trồng và hoang dại có trong vườn.
- Điều tra về năng suất cây trồng, về hiệu quả kinh tế thu được từ vườn trong 2-3 năm gần đây;
về tình hình sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học qua phiếu điều tra.
2.2.3. Ở phòng thí nghiệm
- Định danh tên khoa học của các loài thực vật bằng phương pháp hình thái so sánh và dựa trên
tài liệu chính: "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (2003). Danh lục được sắp xếp theo
Brummitt (1992).
- Xử lý các số liệu thu được bằng phần mềm Excel 2003.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Thực trạng các vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài
3.1.1. Diện tích các vườn nhà
Kết quả điều tra tổng số vườn nhà trong thị xã Đồng Xoài cho thấy có 3.956 vườn. Trong đó:
- Số vườn nhà có diện tích < 1,0 ha là 1.060 vườn chiếm tỷ lệ 26,8%. Vườn có diện tích nhỏ
phân bố chủ yếu ở các phường thuộc nội ô thị xã. Các vườn này thường được trồng cây ăn quả, rau
màu, hoa cảnh…
- Số vườn nhà có diện tích 1,0 ha - 10 ha là 1.391 vườn, chiếm tỷ lệ 35,2%. Những vườn này
thường trồng cây ăn quả lâu năm như Cam, Bưởi, Xoài, Chôm chôm, Nhãn; cây công nghiệp là
Điều, Tiêu và hiện nay đang trồng Cao su xen vào Điều để chuẩn bị thay thế Điều.
- Số vườn nhà có diện tích > 10 ha là 1.505 vườn, hầu hết tập trung ở 3 xã ngoại ô, chiếm tỷ lệ
434
51
2
216
1.060
1– 10 ha
150
69
72
80
187
417
126
290
1.391
706
660
552
1021
3.956