BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN BÍCH LIÊN NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI VƯỜN NHÀ Ở THỊ
XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS. PHẠM VĂN NGỌT
TP. HỒ CHÍ MINH - 2010
THƯ
VIỆN
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Bình Phước là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có nền kinh tế nông
kiểu sinh thái vườn nhà.
3. Nội dung nghiên cứu
Một số nội dung chính được đặt ra trong đề tài này là:
- Tìm hiểu một số điều kiện tự nhiên ở thị xã Đồng Xoài có ảnh hưởng đến sự phân bố và hiệu
quả sử dụng các kiểu sinh thái vườn: diện tích, địa hình, hệ thống tưới tiêu.
- Nghiên cứu thành phần nông hóa thổ nhưỡng của một số loại đất trồng cây ở vườn nhà (đất đỏ
bazan, đất xám bạc màu… )
- Phân tích hiện trạng các kiểu sinh thái vườn nhà: diện tích, cơ cấu cây trồng và cây dại, tình
hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả kinh tế của các vườn.
4. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 5/2009 đến tháng 2/2010.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vườn nhà (trừ các vườn Cao su) được thành lập từ 5
năm trở lên ở thị xã Đồng Xoài. Đề tài nghiên cứu trong phạm vi 8 xã, phường thuộc thị xã Đồng
Xoài đó là: Tân Phú, Tân Bình, Tân Đồng, Tân Thiện, Tân Xuân, Tiến Thành, Tiến Hưng, Tân
Thành.
Không nghiên cứu về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất, trong rau quả… cũng như sự ảnh
hưởng của nó đến sức khỏe của người nông dân trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
6. Ý nghĩa của đề tài
Những kết quả nghiên cứu được của đề tài có thể làm cơ sở để xây dựng và nhân rộng những
mô hình sinh thái vườn nhà bền vững, hiệu quả kinh tế cao cho thị xã Đồng xoài nói riêng và toàn
tỉnh Bình Phước nói chung. Từ đó, góp phần chuyển dịch và thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
tăng hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các kiểu sinh thái vườn nhà ở tỉnh Bình Phước.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Hệ sinh thái
Hệ sinh thái được nghiên cứu từ lâu, vì thế khái niệm này đã có từ thế kỷ XIX dưới các tên khác
nhau như “Sinh vật quần lạc” (Dukachaev,1846; Mobius,1877). Sukachaev (1944) mở rộng khái
thổ.
- Vườn là mô hình sản xuất bổ sung cho ruộng đồng. Đồng ruộng trồng cây hàng năm ngắn
ngày, số loài cây trồng hạn chế: cây lương thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, cây công nghiệp
hàng năm, rau quả. Các loài cây vườn nhiều hơn gấp bội, rất phong phú, phần lớn là cây lâu năm…,
rau và một số cây thực phẩm ngắn ngày chịu bóng có thể trồng xen trong vườn. Sản phẩm vườn là
một hợp phần quan trọng và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, cung cấp nhiều mặt hàng
cho thị trường. Ngoài chức năng kinh tế, một vài kiểu vườn phục vụ các mục tiêu văn hóa, xã hội,
phúc lợi công cộng, nghiên cứu tài nguyên, bảo vệ sinh thái và tài nguyên (công viên, vườn cây gỗ,
vườn quốc gia).
- Hệ thống canh tác vườn Việt Nam là một kiểu vườn nhiệt đới hỗn loài, tập hợp nhiều loài cây
trồng trên một đơn vị diện tích, tận dụng ánh sáng với những tầng tán khác nhau, yêu cầu ánh sáng
khác nhau, tận dụng diện tích với phương thức tăng vụ, trồng xen. Vườn gia đình hay công viên là
một tổ hợp nhiều loài cây, khác với đồng ruộng, trên mỗi mảnh đất ở từng thời vụ chỉ trồng một thứ
cây. Vườn là một phương thức canh tác đạt hiệu quả sử dụng tài nguyên môi trường ( đất, nước, ánh
sáng), áp dụng một kỹ thuật thâm canh cao.
- Vườn là trung tâm điều chỉnh và phối hợp giữa 2 thành phần vườn - ruộng đồng trong hệ
thống sản xuất của nông dân. Những gì cần cho gia đình, thị trường yêu cầu mà đồng ruộng không
sản xuất được thì phải sản xuất ở vườn. Vườn phải tạo công ăn việc làm để sử dụng nhân lực trong
những thời vụ và thời gian nghỉ việc đồng ruộng, là điều kiện thuận lợi để sử dụng lao động phụ
trong gia đình… Nhiều vườn còn là nơi gây giống, giữ giống cây trồng.
- Căn cứ vào chức năng và mục tiêu, vườn có thể phân loại: [14]
+ Vườn sản xuất nông lâm nghiệp (kể cả vườn giống). Vườn thường kết hợp với ao nuôi cá
(hoặc mương nuôi tôm, cá đào trong vườn ở đồng bằng sông Cửu Long) và chuồng trại chăn nuôi
gia súc gia cầm, tạo thành một hệ thống tương hỗ đạt hiệu quả kinh tế cao.
+ Vườn phúc lợi công cộng, vườn cảnh: tạo một hệ sinh thái hài hòa làm nơi nghỉ ngơi, giải trí
cho dân đô thị.
+ Vườn nghiên cứu cây rừng.
+ Vườn bảo vệ, nghiên cứu hệ sinh thái nguyên thủy và tài nguyên. Ngoài ra còn có vườn đồi,
vườn rừng v.v…
1.1.3. Vườn nhà
Hội nghị thượng đỉnh Quả Đất lần thứ II về phát triển bền vững đã họp tại Johannesberg (Cộng
hòa Nam Phi) (từ ngày 26/8 – 04/09/2002) để thảo luận về những gì đã làm được và chưa làm được
trong 10 năm, kể từ sau Hội nghị Rio de Janeiro đến năm 2002. Đồng thời, Hội nghị này đã nêu ra
những vấn đề bức xúc hiện nay là: nước sinh hoạt và sản xuất, tình hình năng lượng, sản xuất nông
nghiệp, đa dạng sinh học, quản lý hệ sinh thái và sức khỏe con người [8].
1.1.5. Nông nghiệp bền vững
Định nghĩa “Nông nghiệp bền vững” được nhiều tác giả thừa nhận là “việc thiết kế những hệ
thống cư trú lâu bền của con người; đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra
mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu
cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả”. (Mollison và Slay,
1994).[24]
Nông nghiệp bền vững có cơ sở nền tảng là Sinh thái học, mục tiêu là nhất thể hóa xã hội loài
người vào các hệ sinh thái bền vững, do đó có tác giả còn gọi là Nông nghiệp sinh thái. Trong vườn
và trang trại theo nông nghiệp bền vững, mục tiêu là sử dụng cho hết chất dinh dưỡng để không trở
thành nguyên nhân gây ô nhiễm. Thực hiện việc đó bằng trồng nhiều loại cây, mỗi loại sử dụng
những loại chất dinh dưỡng khác nhau, bón phân vào lúc mà cây có thể sử dụng được hết (thí dụ,
bón vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây: bón lót, bón thúc…). Trồng cây và cỏ dọc đường ranh
giới khu đất, phủ mặt đất và ít cày xới bằng cách trồng cây phân xanh. [24]
Những nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững:
- Tính đa dạng: trồng những loài, giống cây khác nhau; lai tạo giống; luân canh; trồng cây lưu
niên và cỏ ở khu vực ráp gianh; bảo tồn và phát triển gia súc, gia cầm, ong, cá, thủy sản.[24]
- Đất là một vật thể sống: bón phân cho đất thường xuyên bằng chất hữu cơ; phủ cho đất thường
xuyên để chống xói mòn; khử những yếu tố gây hại như các hóa chất dùng trong nông nghiệp.[24]
- Tái chu chuyển: tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các thành phần nông nghiệp (cây trồng, vật
nuôi, thủy sản, cây rừng…) để có lợi cho từng thành phần và cho toàn thể. Tái chu chuyển là điểm
mấu chốt trong việc sử dụng tài nguyên ngoài đồng, trong vườn và giảm bớt lệ thuộc vào bên
ngoài.[24]
- Cấu trúc nhiều tầng: Thảm thực vật nhiều tầng có thể sử dụng tối đa ánh sáng mặt trời và nước
mưa. Có nhiều tầng sẽ giảm hạn hán, lũ lụt và xói mòn cho đất.[24]
1.1.6. Hệ sinh thái vườn nhà
Sinh
vật
trung
tâm
(Nguồn: Đường Hồng Dật, 1999) [14]
1.2. Tổng quan tài liệu
1.2.1. Tài liệu nước ngoài
Các công trình về hệ sinh thái vườn nhà không phong phú như các tài liệu khoa học khác. Năm
1990, Karyono, khảo sát cấu trúc vườn nhà trong diện tích đất nông thôn của lưu vực Citarum,
Indonexia. Tác giả mô tả sự phân bố các loài thực vật, sự phân tầng trong không gian, hệ thống canh
tác…
Long Chun Lin, 1990, với “Diversification of homegardens as a subtainable agroecosystem in
Xishuangbana, China” đã khảo sát về hệ sinh thái nông nghiệp và các dạng vườn nhà ở
Xishuangbana của Trung Quốc. Tác giả đã nghiên cứu và giới thiệu, mô tả vườn nhà dựa trên thành
phần, cấu trúc của vườn nhà.
Năm 1997, bài viết “A study on the home garden ecosystem in the Mekong river delta and the
Ho Chi Minh city” của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn đã đề cập tới các yếu tố của vườn nhà ở miền Nam
Việt Nam, cấu trúc phân tầng trong vườn, các loại đất, động vật và thực vật trong vườn và chỉ ra vai
trò của vườn về văn hóa, xã hội, kinh tế.[37]
Pablo B. Eyzaguirre và các cộng sự L.N. Trinh, J.W. Watson, N.N.Hue, N.N. De, N.V.Minh,
P.Chu, B.R. Sthapit (2002), đã nghiên cứu về sự phát triển ở vườn nhà ở Việt Nam, nêu tầm quan
trọng về các mặt xã hội và văn hóa của vườn nhà, cấu trúc vườn nhà ở Việt Nam, sự phân bố các
loài ở một số vùng, kích thước các vườn khảo sát… Các tác giả kết luận vườn nhà ở Việt Nam là
nơi đóng góp thiết yếu cho các dịch vụ xã hội và phát triển bằng cách cung cấp nguồn dinh dưỡng,
nguồn lương thực thực phẩm ổn định và còn là nguồn thu nhập đáng kể cho các gia đình nông thôn
Việt Nam.[38]
1.2.2. Tài liệu trong nước:
1.2.2.1. Nghiên cứu về vườn và hệ sinh thái vườn
Trần Văn Hòa (1994), nghiên cứu kỹ thuật thiết kế vườn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
dụng để cải tạo vườn tạp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đó là kỹ thuật chọn tạo nhân giống, kỹ thuật
tạo tán, tỉa cành, kỹ thuật bón phân, bao quả, điều khiển ra hoa quả trái vụ, ứng dụng các thành tựu
bảo vệ thực vật đối với cây ăn quả. Ngoài ra tác giả còn đề ra hướng chọn lựa các giống tốt có thế
cạnh tranh trên thị trường để cải tạo vườn tạp.[32]
Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2008), nêu đặc điểm vườn nhà, các thành phần của
hệ sinh thái vườn, cấu trúc sinh thái vườn nhà theo không gian thẳng đứng ở các xã cù lao thuộc
tỉnh Vĩnh Long. Tác giả kết luận mô hình vườn cây ăn trái kết hợp du lịch đem lại nguồn thu nhập
đáng kể cho nhà vườn và tạo điều kiện nâng cao kiến thức cộng đồng về giữ gìn và bảo vệ môi
trường tự nhiên. [33]
1.2.2.2. Nghiên cứu về phát triển bền vững
Nguyễn Văn Mấn và Trịnh Văn Thịnh (1995), đã trình bày cơ sở của nông nghiệp bền vững về
đạo đức, nguyên lý, môi trường sinh thái, nền tảng sinh thái học và thiết kế cũng như các hệ thống
nông nghiệp bền vững. Các tác giả nêu nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững hay còn gọi là
nông nghiệp sinh thái: tính đa dạng, đất là một vật thể sống, tái chu chuyển và cấu trúc nhiều
tầng.[24]
Nguyễn Thái Tự (2002), trình bày cơ sở để phát triển bền vững vườn nhà và trang trại trên nền
tảng đa dạng sinh học. Từ những nghiên cứu về ưu điểm và qui luật cơ bản của thiên nhiên nước ta,
tác giả đưa ra những tiêu chí để vận dụng trong qui hoạch, xây dựng mô hình vườn nhà, trang trại
góp phần tạo nên một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững. [39]
Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu nào về hệ sinh thái vườn nhà và đề xuất những mô
hình có hiệu quả, bền vững ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là các vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
2.1.1.1. Vị trí địa lý
2
.
- Địa hình: nằm ở độ cao trung bình 88,63 m so với mực nước biển, là vùng đất đồi tương đối
bằng phẳng, hơi lượn sóng. Là một thị xã miền núi nhưng Đồng Xòai có địa hình tương đối bằng
phẳng so với các vùng khác. Địa hình có độ dốc <15
o
, thuận lợi cho sử dụng đất trong nông nghiệp,
trong đó địa hình < 3
o
có 10.856 ha (64,44%), tương đối bằng phẳng chiếm gần 2/3 diện tích tự
nhiên của thị xã Đồng Xoài, là yếu tố rất thuận lợi cho thị xã trong sử dụng đất.
Bảng 2.1. Thống kê diện tích đất của thị xã Đồng Xoài theo địa hình
Cấp Tỉnh Bình Phước Thị xã Đồng Xòai
Độ dốc Diện tích đất (ha)
(%) Diện tích đất (ha) (%)
< 3
o
171.026 24,95 10.856,0 64,44
3 - 8
o
188.711 27,53 4.750,3 28,19
8 - 15
o
131.503 19,19 1.241,7 7,37
15 - 20
o
86.103 12,56
> 20
o
Tháng
8
Tháng
9
Tháng
10
Tháng
11
Tháng
12
Trung
bình
Nhiệt
độ(
0
C)
26,1 27,1 28,0 28,0 27,4 26,9 26,5 26,3 26,2 26,2 25,8 25,5
26,7
Lượng
mưa
(mm)
4,4 28,2 78,6 145,2 298,9 328,5 335,5 390,0 487,6
368,5 152,4 14,4 2632,2
Độ ẩm %
71,7 70,0 71,8 75,9 82,3 84,8 86,4 87,1 88,1 85,7 81,4 75,9 80,1
(Nguồn:Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bình Phước) [31]
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,7
mưa 2,3,4, thời gian ít nắng nhất vào các tháng mưa nhiều 7,8,9.[34]
Lượng mưa trung bình tương đối cao khoảng 2.632,2 mm/năm, nhưng phân hóa theo mùa, tạo
ra hai mùa rất ngược nhau: mùa mưa và mùa khô.
Mùa khô kéo dài trong 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm
khoảng 10 -15% lượng mưa cả năm. Trong khi đó lượng bốc hơi rất cao, chiếm khoảng 64 - 67%
tổng lượng bốc hơi cả năm và cán cân ẩm rất cao. Do lượng mưa ít và bức xạ mặt trời cao đã làm
tăng quá trình bốc hơi nước một cách mãnh liệt. Điều đó đẩy nhanh sự phá hủy chất hữu cơ, dung
dịch đất hòa tan các Secquioxyt sắt nhôm ở dưới sâu dịch chuyển lên tầng đất trên và bị oxy hóa tạo
thành kết von và đá ong rất phổ biến.
Mùa mưa kéo dài trong 06 tháng từ tháng 5 đến tháng 11, mưa rất tập trung, lượng mưa trong
06 tháng mùa mưa chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, chỉ riêng 04 tháng mưa lớn nhất, lượng
mưa đã chiếm 62 - 63% lượng mưa cả năm. Ngược lại lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp hơn mùa khô
và khi đó cán cân ẩm rất cao. Lượng mưa lớn và tập trung đã xảy ra quá trình xói mòn, rửa trôi rất
mạnh, lôi cuốn sét mùn từ nơi cao xuống nơi thấp, làm bất đồng hóa phẫu diện và dẫn tới nhiều biến
đổi quan trọng trong phân hóa vỏ thổ nhưỡng.
Lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp. Vào mùa mưa
cây cối sinh trưởng và phát triển rất tốt, là mùa sản xuất chính; ngược lại vào mùa khô cây cối khô
cằn, sinh trưởng và phát triển rất kém. Khả năng cung cấp nước tưới của thị xã cho nông nghiệp rất
khó khăn, chưa đầy 10% diện tích đất nông nghiệp có tưới tiêu, vì vậy trong sản xuất nông nghiệp
cần phải chọn và đưa vào sử dụng những loại hình sử dụng đất ít hoặc không cần nước tưới. Bên
cạnh đó, nguồn nước sinh họat cũng gặp rất nhiều khó khăn do mùa nắng kéo dài mà các hồ, đập lại
dự trữ nước ít. [34]
Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 80,1%.
2.1.1.3. Các loại đất
Thị xã Đồng Xòai có 3 loại mẫu chất đá mẹ hình thành đất là đá bazan, đá phiến sét, mẫu chất
phù sa cổ và được phân bố thành 3 khối tập trung.
Trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000, đất Thị xã Đồng Xòai có 3 nhóm đất, với 7 đơn vị bản đồ đất. (Hình
2.2)
Hình 2.
cao.
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Có diện tích 2.188,6 ha, chiếm 12,99% diện tích tự nhiên. Đất
nâu vàng trên phù sa cổ có thành phần cơ giới thịt trung bình, cấu tượng viên hạt, khá tơi xốp, khả
năng giữ nước, giữ phân khá hơn đất xám. Đất nâu vàng trên phù sa cổ nhìn chung nghèo dinh
dưỡng.
- Đất đỏ vàng hình hình thành trên đá phiến sét: Có 32.812ha, chiếm 35,32% DTTN toàn thị
xã. Đất đỏ vàng trên phiến sét nhìn chung có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng. tầng đất
thường mỏng và hơi dốc. Đất thường chua, có độ phì nhiêu thấp với mùn và đạm trung bình, nghèo
lân và nghèo kali.
- Nhóm đất dốc tụ
Đất dốc tụ có 97ha, chiếm 0,58% diện tích tự nhiên. Đất hình thành ở địa hình thung lũng, trên
các sản phẩm bồi tụ từ các khu vực đồi cao xung quanh. Vì vậy đất phân bố rất rải rác, ở khắp các
khe hợp thủy và thung lũng ở vùng đồi. Nhìn chung các đất dốc tụ có độ phì nhiêu tương đối khá,
nhưng chua. Địa hình thấp trũng, khó thóat nước.
2.1.1.4. Tài nguyên nước
- Sông, suối
Trên địa bàn thị xã Đồng Xòai có 01 con sông lớn chảy qua: Sông Bé và suối Rạt, nhánh sông
Đồng Nai.
+ Sông Bé chảy dài dọc theo trung tâm tỉnh Bình Phước theo hướng Bắc-Nam, chảy qua các
huyện Phước Long, Lộc Ninh, Bình Long, thị xã Đồng Xòai và chảy về tỉnh Bình Dương. Trên
dòng Sông Bé đã quy hoạch 04 công trình thủy lợi lớn theo 04 bậc thang: Thủy điện Thác Mơ, Cần
Đơn, Sóc Phu Miêng và Phước Hòa. Hiện nay công trình thủy điện Thác Mơ (1,47 tỷ m
3
) đã đưa
vào sử dụng từ 1995. Công trình Cần Đơn đang trong giai đọan thi công và công trình Phước Hòa
đang trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Trên địa bàn thị xã Đồng Xòai, sông Bé cũng chạy từ Bắc
xuống phía Nam dọc theo phía Tây thị xã; là ranh giới giữa thị xã Đồng Xòai và huyện Bình Long.
Suối Cam và suối Sông Rinh là hai nhánh của Sông Bé thường cạn vào mùa khô và ngập sâu vào
mùa mưa.
+ Suối Rạt là ranh giới giữa thị xã Đồng Xòai và huyện Đồng Phú. Suối này có nước ngập sâu
Tổng số phường, xã là 8. [13]
Thị xã Đồng Xòai có dân số chưa nhiều, mật độ dân số trung bình nhưng tốc độ tăng dân số rất
cao, nhất là tăng dân số cơ học, đã gây một sức ép không nhỏ trong sử dụng đất.
2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Thực trạng đường ô tô đến trung tâm các xã, phường: 8/8 phường xã có đường ô
tô đến trung tâm phường, xã.
- Bưu chính: 8/8 phường xã được trang bị điện thoại.
- Điện: 8/8 phường xã có điện thắp sáng và sinh hoạt.
- Nước: thị xã có một nhà máy nước cung cấp cho 40% dân thị xã, chủ yếu các cơ quan nhà
nước và những hộ dân thuộc công chức, còn lại phần lớn bà con dùng nước giếng. [13]
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thu thập thông tin
Thu thập những tài liệu có liên quan đến đề tài từ các nguồn khác nhau. Sắp xếp, phân tích và
xử lí tài liệu thu thập được.
2.2.2. Ngoài thực địa
- Thực địa khảo sát các vườn nhà: thống kê số vườn, diện tích các vườn. Để xác định loại đất
vườn, chúng tôi dựa vào bản đồ phân loại đất của thị xã và tính chất đất khi khảo sát thực địa.
- Lấy 3 mẫu đất và đem phân tích ở Viện Khoa học Kỹ thuật Miền Nam về một số chỉ tiêu thành
phần cơ giới, pH, N tổng số, K
2
O tổng số, P
2
O
5
tổng số, N dễ tiêu, K
2
O dễ tiêu, P
2
O
5
tích
Phường Xã
Tổng
số
vườn
Tân
Phú
Tân
Bình
Tân
Đồng
Tân
Thiện
Tân
Xuân
Tiến
Thành
Tiến
Hưng
Tân
Thành
< 1 ha
65 72 150 70 434 51 2 216 1.060
Tân
Đồng
Tân
Thiện
Tân
Xuân
Tiến
Thành
Tiến
Hưng
Tân
Thành
Vườn Điều 110
141 91 200 247 220 401 515 1925
Vườn Tiêu 1 2 3 14 2 21 10 53
Vườn Cà phê
2 1 10 3 18 8 42
Vườn Nhãn 35 35
Vườn Xoài 93 93
Vườn Quýt 15 15
Vườn Cam 5 5
Vườn khác
(*)
(1016/1395 vườn, chiếm tỷ lệ 72%). Đất ở đây thuộc nhóm đất xám là nhóm đất lớn nhất ở thị xã
Đồng Xoài, chiếm tỷ lệ 52,31% diện tích đất toàn thị xã. Địa hình khá bằng phẳng, độ dốc < 3
o
,
chiếm tỷ lệ 94,18% tổng diện tích đất xám.
Khu vực suối Cam tập trung nhiều vườn Nhãn, đất ở đây thuộc loại đất nâu đỏ và nâu vàng trên
bazan, địa hình hơi dốc hơn một chút, từ 0 - 8
o
. Các phường, xã có địa hình hơi dốc là Tân Phú, Tân
Đồng, Tiến Thành, Tân Thành. Các vườn Điều, vườn tiêu, vườn Nhãn được trồng ở vùng đất có địa
hình hơi dốc này.
Một số ít vườn Tiêu, Cà phê, Điều được bà con trồng ở những vùng đất dốc từ 8 -15
o
có ở khắp
các phường xã trong thị xã.
Riêng khu vực phường Tân Thiện có nhiều vườn rau nhất, về mùa mưa thường hay ngập úng do
nước chưa rút kịp.
3.1.3. Cấu trúc vườn nhà ở các phường, xã thuộc thị xã Đồng Xoài
3.1.3.1. Thành phần loài cây trồng và hoang dại ở trong các kiểu sinh thái vườn nhà thuộc
thị xã Đồng Xoài
Tổng số loài thực vật điều tra được ở các vườn nhà của thị xã Đồng Xoài có 240 loài, trong
đó có 151 loài cây trồng và 82 loài cây hoang dại, 07 loài vừa mọc dại vừa được trồng. (Phụ lục 1).
- Thành phần các loài cây trồng chính
Thành phần các loài cây trồng chính trong các vườn nhà ở thị xã Đồng Xoài gồm có:
+ Các loài cây công nghiệp: cây trồng trong vườn nhà ở Đồng Xoài không nhiều chủng loại,
cây công nghiệp chủ yếu là cây Điều (Anacardium occidentale L.), Tiêu (Piper nigrum L.), Cao su
(Hevea brasiliensis (A. Juss) Muell. – Arg.), Cà phê vối (Coffea robusta).
+ Các loài cây ăn quả: cây ăn quả được trồng nhiều là Cam sành (Citrus nobilis Lour. var.
nobilis), Quýt đường (Citrus reticulata Blanco), Nhãn (Dimocarpus longan Lour.) (nay đã bị chặt
Cao su hoặc cây trồng ăn quả khác như Cam, Quýt.
Vườn nhà thuần loại ở thị xã Đồng Xoài có cấu trúc đơn giản. Với những vườn trồng thuần một
loại cây như Điều, Tiêu, Nhãn đều giống nhau về cấu trúc chung. Mỗi vườn đều có một căn nhà,
phần lớn là cấp 4, cũng có một số nhà cấp 3, một số ít nhà cấp 2 khá đẹp.
- Cấu trúc ngang trong không gian
+ Vị trí nhà: Các nhà thuộc nhà cấp 4 đều ở trong vườn, xung quanh là cây cối. Những hộ có
nhà cấp 3, nhà tầng chủ hộ thường bố trí nhà ở phía trước, gần đường đi, phía sau nhà là vườn cây.
Đối với vườn Điều, nhà thường được bố trí ở trong vườn cho mát. Đi qua một khoảng vườn mới vào
đến nhà. Đối với vườn Tiêu nhà lại thường được làm ở phía trước, ngay sát đường đi, vườn ở phía
sau hoặc một bên của nhà.
+ Sân: Hầu hết các nhà đều có làm sân phơi ngay trước cửa nhà. Đa số sân thường được làm
bằng xi măng, cũng có một số ít sân đất.
+ Hàng rào: Xung quanh nhà và vườn có hàng rào hoặc tường bao. Xung quanh vườn có hàng
rào làm ranh giới với đường đi. Hàng rào trước nhà có thể là hàng cây Dâm bụt được cắt tỉa đẹp
mắt, có thể là cây Duối cảnh hay cây Hoa giấy…
Hàng rào quanh vườn rất khác nhau: vườn Tiêu thường có rào là cây gỗ như Xà cừ, Bạch đàn,
Xoan. Vườn Điều thường không làm hàng rào hoặc cũng trồng cây Xà cừ nhưng thường chỉ làm đối
với những vườn sát đường đi. Vườn Nhãn lại hay rào bằng lưới B40 để chống trộm quả.
+ Ao, hồ chứa nước: Những vườn trồng Tiêu, Cà phê, Xoài, Cam, Quýt, vườn rau hoặc những
vườn trồng xen nhiều loại cây thường đào ao hay hồ chứa nước tưới cây với diện tích khoảng 50 –
100 m
2
. Vườn Điều thuần lâu năm không có ao, hồ chứa nước. Một số vườn gần sông, suối thì
không cần đào ao để lấy nước tưới.
- Cấu trúc đứng trong không gian: Vườn thuần loại ở thị xã Đồng Xoài không có cấu trúc
nhiều tầng. Các vườn Điều, vườn Nhãn, vườn Xoài hơn 15 năm tuổi trong vườn chỉ có cây Điều hay
cây Nhãn hoặc cây Xoài ở tầng trên cao 10 - 15 m, một ít cây cỏ và cây dại ở tầng sát mặt đất. Một
số vườn Điều đang trồng xen cây Điều ghép (điều cao sản) để thay thế cho cây Điều cũ thì có thêm
tầng giữa cao 5 - 7 m (các vườn Điều lâu năm ở Tiến Thành, Tân Thành). Trong vườn Tiêu dùng
nọc sống có sự phân tầng rõ rệt: Tầng cao nhất (trên 10 m) gồm những cây làm nọc (cây Thừng