Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn hà tĩnh và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------------

NGUYỄN BÁ HÀ

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHẾ BIẾN, KINH DOANH GỖ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

Hà Nội, 2011


1

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo sau đại
học, chuyên ngành Kỹ thuật máy và công nghệ gỗ, giấy, khóa học 2009 – 2011 tại
trường Đại học Lâm Nghiệp. Đến nay tôi đã hoàn thành khóa học và thực hiện
thành công đề tài “Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững”.
Nhân dịp hoàn thành luận văn thạc sỹ, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Thiết đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Lâm
nghiệp, khoa Sau Đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp và các thầy giáo, cô giáo

1.1.3. Tình hình cung ứng nguyên liệu gỗ......................................................13
1.1.4. Hiện trạng về sản phẩm và thị trường tiêu thụ ....................................15
1.1.5. Hiệu quả sản xuất kinh doanh ..............................................................23
1.1.6. Hiện trạng về khoa học công nghệ........................................................24
1.1.7. Hiện trạng quản lý nhà nước ................................................................28
1.1.8. Ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà Tĩnh. .............................29
1.1.9. Tổng quan các công trình đã công bố liên quan đến nội dung đề tài .31
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài. ...............................................................................33
1.2.1. Khái niệm về công nghiệp chế biến gỗ ..................................................33
1.2.2. Khái niệm về chiến lược ........................................................................34
1.2.3. Phương pháp phân tích SWOT .............................................................35
1.2.4. Một số tiêu chuẩn và chứng chỉ đối với sản phẩm gỗ ..........................39
1.3. Phương pháp xử lý kết quả .........................................................................43
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................................44
2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................44


3

2.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................44
2.3. Mục tiêu nghiên cứu.....................................................................................44
2.4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu .......................................................44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................45
3.1. Đánh giá tình hình chế biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh..........45
3.1.1. Điều tra, khảo sát tình hình nguyên liệu, chế biến, kinh doanh gỗ ....45
3.1.2. Đánh giá .................................................................................................64
3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ngành công nghiệp chế
biến, kinh doanh gỗ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ................................................68
3.2.1. Các căn cứ xây dựng định hướng .........................................................68


Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: Forest Stewardship
Council - Hội đồng quản trị rừng quốc tế
Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: Chain of Custody Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm
Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: (International

ISO

Organization for Standardization) - Là tên viết tắt của Tổ chức
Quốc tế về tiêu chuẩn hoá

FDI

USD

Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: Foreign Direct
Investment - Là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 100%
Tên viết tắt chữ cái đầu của các từ tiếng Anh: United States dollar
- Là đồng đô la Mỹ
Tên viết tắt chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Official

ODA

Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức của nước
ngoài

SX

Sản xuất


Thủ tướng
Tên viết tắt chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Medium density
fiberboard - Là ván sợ gỗ
Tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World
Trade Organization)
Từ viết tắt chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh (Europe Union) Liên minh các nước Châu Âu

HTX

Hợp tác xã

CNH

Công nghiệp hóa

HĐH

Hiện đại hóa


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng

TT
1.1
1.2
1.3
1.4

49

3.3

Diện tích rừng trồng và khối lượng gỗ rừng trồng khai thác qua
các năm

50

3.4

Cơ cấu nguyên liệu gỗ đưa vào chế biến

50

3.5

Tỷ lệ nguyên liệu gỗ đưa vào chế biến

51

3.6

Tình hình kinh doanh gỗ giai đoạn 2006 – 2007

52

3.7

Tình hình chế biến gỗ giai đoạn 2006 – 2007

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

TT

Tên hình

Trang

1.1

Vị trí phân bố các nhà máy chế biến gỗ quy mô lớn theo các vùng

12

Diễn đàn Lâm nghiệp Việt Nam “Phát triển chế biến và thương
1.2

mại lâm sản gắn với quản lý rừng bền vững” tại tỉnh Bình Định,

33

năm 2011
1.3
3.1

3.2

3.3

Tàu du lịch được sản xuất tại cơ sở đóng tàu Hải Long

58

3.7
3.8
3.9

Hiện trạng phân bố các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh
Bản đồ quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ tỉnh Hà Tĩnh
Quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ tại Khu công Công nghiệp Hạ
vàng và Khu công nghiệp Gia Lách, Hà Tĩnh

62
82
85


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ
17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106030'20'' kinh độ Đông;
phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp biển
Đông, phía Tây giáp tỉnh Bôlikhămxay và Khămmuộn của nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào; có 10 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố, trong đó có 4 huyện và 1 thị
xã miền núi; diện tích đất tự nhiên 5.997 km2, dân số 1.289.058 người, có 127 km
đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam, có
đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85

giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, các làng nghề; phát
huy lợi thế về nguồn nguyên liệu, các sản phẩm lâm nghiệp đặc thù, phát huy và gìn
giữ các giá trị văn hóa; 50% lao động được đào tạo nghề, chú trọng thợ kỹ thuật.
Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ và giải pháp, trong đó “tập trung rà soát, điều chính, bổ
sung và xây dựng mới các quy hoạch, chương trình, đề án phát triển nông nghiệp,
nông thôn, phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịnh vụ nông
thôn” [4]. Đây là chủ trương đúng, kịp thời để tỉnh để từng bước khôi phục và phát
triển ngành công nghiệp chế biến, kinh doanh gỗ. Hằng năm doanh số tiêu thụ sản
phẩm gỗ trên địa bàn hàng trăm tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước hàng chục tỷ
đồng, giải quyết công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động.
Tuy nhiên, trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà
Tĩnh vẫn chậm phát triển, quy hoạch vùng, cụm công nghiệp còn thiếu cụ thể, chưa
tập trung; máy móc, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề thấp; mẫu mã sản phẩm
chưa phong phú, đa dạng, thiếu tính cạnh tranh, các sản phẩm truyền thống chưa
được phát huy; chưa chủ động nguồn nguyên liệu; các cơ sở chế biến chưa có tính
liên kết chặt chẽ, phát triển còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, thiếu quy hoạch và chiến
lược cụ thể… dẫn đến hiệu hiệu quả kinh tế không cao, không bền vững. Mặc dù
UBND tỉnh, Sở NN&PTNT đã có một số công trình nghiên cứu và giải pháp thực
hiện khắc phục những hạn chế trên nhưng công tác tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ,
chưa hiệu quả, hạn chế trong kiểm tra, giám sát thực hiện; cơ chế chính sách chưa
thực sự thuận lợi cho các cơ sở chế biến gỗ.


3

Để ngành chế biến gỗ của tỉnh Hà Tĩnh thực sự là một trong những ngành
kinh tế mũi nhọn và trọng điểm, đem lại lợi ích về kinh tế và xã hội cao, đòi hỏi tỉnh
Hà Tĩnh phải có nhiều giải pháp hữu hiệu, nhiều đề tài và công trình nghiên cứu
khoa học mang tính chiến lược, thiết thực, có lộ trình, quy hoạch và thực hiện quy
hoạch cụ thể. Từ thực trạng và những yêu cầu thực tế trên, chúng tôi nghiên cứu và

tự cấp cho nhu cầu vùng tự do. Năm 1947 khai thác gỗ ở Bắc Bộ chỉ có 4.698m3,
nhưng kháng chiến ngày càng đẩy mạnh, ngành lâm nghiệp phải tăng cường khai
thác, chế biến gỗ để phục vụ nhu cầu cho các chiến dịch, nhu cầu quốc phòng, giao
thông, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại và sau này cả xuất khẩu. Năm


5

1952, tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn đã tổ chức sản xuất 230.000 thanh tà vẹt xuất
khẩu sang Trung Quốc. [15]
1.1.1.3. Giai đoạn 1954 – 1975
Năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng với tổng diện tích tự nhiên
khoảng 15.600.000 ha, trong đó rừng tự nhiên có hơn 9 triệu ha. Đảng và Chính phủ
đã tổ chức lại ngành Canh nông để phù hợp và đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Các
hoạt động khai thác, chế biến gỗ và lâm sản trong thời kỳ này nhằm cung cấp một
khối lượng lớn gỗ và lâm sản cho nhu cầu khôi phục và xây dựng lại đất nước sau
chiến tranh.
Sau hòa bình lặp lại chỉ có một vài xưởng chế biến gỗ của các nhà tư sản Hà
Nội, Hải Phòng… Sau này được cải tạo theo hình thức công ty hợp doanh. Mãi đến
năm 1957 mới hình thành một số xí nghiệp quốc doanh như K42 (Quân đội), X85
Hà Bắc, xẻ mộc Bắc Giang, xẻ gỗ xây dựng Hà Nội… Đến năm 1959 được sự giúp
đỡ của Tiệp Khắc và Trung Quốc, Bộ Công nghiệp nhẹ đã xây dựng và đưa vào sản
xuất 03 nhà máy chế biến gỗ là: nhà máy gỗ Dán Cầu Đuống, nhà máy gỗ Vinh và
nhà máy Diêm Thống Nhất.
Tháng 4/1960 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết tách Bộ Nông lâm thành Bộ
Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản. Trong
bộ máy tổ chức của Tổng cục Lâm nghiệp có Cục Chế biến lâm sản với chức năng
quản lý, chỉ đạo các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản [15].
* Thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) và chống chiến
tranh phá hoại miền Bắc (1965-1975)

điện ở Phan Rang, Ninh Thuận, công suất 10.000m3/năm và nhà máy ngâm tẩm bảo
quản gỗ ở Long Bình (Đồng Nai) công suất 38.000m3/năm.
Trong những năm 70 của thế kỷ 20, hằng năm miềm Nam chế biến xuất khẩu
gỗ Thông 3 lá sang Nhật khoảng 200.000m3/năm [15].
1.1.1.4. Giai đoạn 1975 - 1986
Từ năm 1976 đánh dấu một bước phát triển mới của ngành khai thác, chế
biến gỗ (công nghiệp rừng) với nhiệm vụ nặng nề phục vụ đắc lực cho các kế hoạch
phát triển kinh tế thời kỳ 1976 - 1985. Lúc đầu là các công ty chế biến, cung ứng
lâm sản theo miền, sau đó chuyển thành các Liên hiệp chế biến, cung ứng lâm sản


7

vùng. Đầu những năm 80 Bộ Lâm nghiệp đã nhập một số dây chuyền thiết bị về chế
biến gỗ như: 3 nhà máy gỗ lạng KonTum, Buôn Mê Thuột, Sông Bé, nhà máy ván
Dăm Việt Trì. Số lượng gỗ khai thác, chế biến xuất khẩu cũng tăng lên, đặc biệt
cung cấp đầy đủ tà vẹt để hoàn thiện tuyến đường sắt Thống Nhất [15].
1.1.1.5. Giai đoạn 1986 đến nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới
toàn diện, phát triển kinh tế nhiều thành phần. Bộ Lâm nghiệp đã chỉ đạo toàn
ngành chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được quản
lý theo nguyên tắc kế hoạch hóa định hướng và hạch toán kinh doanh. Bộ đã hợp
nhất với các liên hợp chế biến cung ứng lâm sản vùng tổ chức thành các Tổng công
ty dịch vụ sản xuất và nhập khẩu I, II, III, ngoài ra còn có các cơ sở chế biến ở các
liên hiệp công nghiệp ở các vùng có nhiều rừng như: Kông Hà nừng, Gia Nghĩa,
EaSúp… nhờ vậy chế biến đã được kết hợp với khai thác và xuất nhập khẩu. Theo
thống kê đến ngày 1/1/1990 cả nước có 62 xí nghiệp chế biến gỗ (23 xí nghiệp
thuộc Trung ương, 39 xí nghiệp thuộc địa phương).
Đến năm 1995, chủ trương của Nhà nước là giảm sản lượng khai thác rừng


- 2009: 2.620 triệu USD.

Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng và thuận lợi của ngành, hiện nay, lĩnh vực
chế biến gỗ cũng đang gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ những điểm yếu kém từ khi
chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh sang cơ chế thị trường. Những
năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển mang tính tự phát, chưa
vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự
liên kết và phân công sản xuất chưa tốt (chưa có sự chuyên môn hoá, chưa có phân
công sản xuất theo vùng, tiểu vùng…), chưa xây dựng được thương hiệu trên thị
trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hoá công nghệ.
Việc cung ứng và sử dụng nguyên liệu gỗ còn bất hợp lý. Hằng năm Việt Nam
xuất khẩu một lượng lớn gỗ rừng trồng dưới dạng dăm gỗ ảnh hưởng đến kế hoạch
phát triển nguồn nguyên liệu gỗ lớn và phát triển công nghiệp ván nhân tạo. Trong
khi đó, Việt Nam phải nhập khẩu 80% nguyên liệu gỗ để sản xuất sản phẩm đồ
mộc, kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ hằng năm tương đương khoảng 40 - 45%
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ. Cụ thể:
- Năm 2005: 667 triệu USD;

- Năm 2008: 1.107 triệu USD;

- Năm 2006: 760 triệu USD;

- Năm 2009: 1.134 triệu USD.

- Năm 2007: 1.080 triệu USD;
Nguồn nhân lực cho công nghiệp chế biến gỗ còn yếu, hiện chưa có chính
sách thu hút lao động đúng mức để ổn định sản xuất. Đội ngũ chuyên gia và công
nhân kỹ thuật chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành [6].


Hiện tại, năng lực sản xuất ván nhân tạo các loại ước đạt khoảng 500.000 m3
sản phẩm/năm, trong đó chủ yếu là ván sợi MDF, ván dăm (quy mô nhỏ), còn lại là


10

các sơ sở sản xuất ván dán và ván ghép thanh quy mô nhỏ. Các nhà máy sản xuất
ván dăm và ván sợi MDF hiện đang hoạt động gồm: Nhà máy ván sợi Việt Trì:
2.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà máy MDF Quảng Ninh: 5.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà
máy MDF liên doanh Việt Trung (Nghĩa Đàn - Nghệ An): 15.000 m3 sản
phẩm/năm; Nhà máy gỗ MDF COSEVCO - Quảng Trị (Công ty xây dựng và sản
xuất gỗ MDF): 60.000 m3 sản phẩm/năm; Nhà máy MDF Gia Lai: 54.000 m3 sản
phẩm/năm).
Hiện nay một số Nhà máy MDF có quy mô lớn hơn đang được xây dựng: tại
ĐăkNông có Nhà máy MDF Long Việt và Khải Vy (tổng công suất hơn 100.000 m3
sản phẩm/năm); tại Bình Phước có Nhà máy MDF Việt Nam và MDF Thiên Sơn
(tổng công suất khoảng 160.000 m3 sản phẩm/năm); tại Hoà Bình có Nhà máy MDF
liên doanh của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam với công suất 54.000 m3 sản
phẩm/năm; tại tỉnh Hà Giang một Công ty tư nhân đang lập dự án đầu tư xây dựng
nhà máy sản xuất MDF với công suất 100.000 m3 sản phẩm/năm; Liên doanh giữa
Tập đoàn Dongwha và Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam đang chuẩn bị xây
dựng nhà máy MDF (gọi là Công ty cổ phần MDF VRG Dongwha) tại huyện Chơn
Thành, tỉnh Bình Phước với công suất 300.000 m3 sản phẩm/năm [6].
1.1.2.2. Cơ cấu cơ sở chế biến gỗ theo loại hình doanh nghiệp
- Số Doanh nghiệp Nhà nước:

108

- Số Công ty TNHH:


1. Tiểu Vùng Đông bắc
Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 216, trong đó:
- 3 nhà máy sản xuất ván dăm với tổng công suất thiết kế: 24.500 m3 sản
phẩm/năm.
- 2 nhà máy sản xuất MDF với tổng công suất thiết kế: 7.000 m3 sản
phẩm/năm.
- 7 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 123.000 m3
sản phẩm/năm.
- 4 cơ sở sản xuất ván dán với tổng công suất thiết kế: 8.500 m3 sản
phẩm/năm.
- 4 nhà máy băm dăm gỗ với tổng công suất thiết kế: 300.000 tấn sản phẩm
khô/năm. Các nhà máy này đều được đặt tại Quảng Ninh, nơi có cảng Cái Lân.
2. Tiểu vùng Tây Bắc
Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 19, trong đó:
- 2 cơ sở sản xuất ván dăm với tổng công suất thiết kế: 3.000 m3 sản
phẩm/năm.
- 2 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 6.000 m3 sản
phẩm/năm.
- 1 cơ sở băm dăm gỗ quy mô nhỏ, với tổng công suất thiết kế: 5.000 tấn
khô/năm.
3. Đồng bằng sông Hồng
- Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 135, trong đó, có 4 cơ sở sản xuất ván ghép
thanh với tổng công suất thiết kế: 4.300 sản phẩm/năm.


12

- Tại Hải Phòng có 01 nhà máy băm dăm mảnh gỗ với tổng công xuất thiết
kế: 100.000 tấn khô/năm.
- 201 làng nghề chế biến gỗ (và song mây, tre, trúc).

- 3 cơ sở sản xuất ván ghép thanh với tổng công suất thiết kế: 10.000 sản m3
phẩm/năm.
- 1 cơ sở sản xuất ván dán với tổng công suất thiết kế: 3.000 m3 sản
phẩm/năm.
7. Vùng Đông Nam Bộ
Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 1.467 (trong đó 2 tỉnh Bình Dương và Đồng Nai
có khoảng 767 cơ sở quy mô nhỏ và các hộ cá thể có công suất hoạt động tối thiểu
200.000 m3 gỗ tròn/năm), trong đó:
- Tổng sản lượng ván dăm ước khoảng:

20.000 m3.

- Tổng sản lượng ván ghép thanh ước khoảng: 45.000 m3.
- Tổng sản lượng ván dán ước khoảng:

30.000 m3.

- 12 nhà máy băm dăm mảnh gỗ với tổng công suất thiết kế: 470.000 tấn
khô/năm.
8. Vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Tổng số cơ sở chế biến gỗ: 166, trong đó:
- 05 Nhà máy băm dăm gỗ với tổng công suất thiết kế: 330.000 tấn khô/năm.
1.1.3. Tình hình cung ứng nguyên liệu gỗ
Năm 2009, tổng sản lượng khai thác gỗ là 3.766.000 m3/4.300.000 m3, đạt
86% kế hoạch và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khai thác chính gỗ
rừng tự nhiên là 150.800 m3/200.000 m3, đạt 75,4 % kế hoạch. Khai thác gỗ rừng


14



15

Bảng 1.1. Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất qua các năm
Đơn
Danh mục

vị
tính

Sản lượng khai
thác gỗ
Giá trị kim
ngạch nguyên
liệu gỗ nhập
khẩu

Nghìn
m3

Năm

2005

2006

2007

2008


2000

Triệu
USD

2010

(Nguồn: Theo thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam)

Bảng 1.2. Khối lượng gỗ khai thác phục vụ sản xuất qua các năm theo từng vùng
Lượng gỗ khai thác qua các năm (1000 m3)
Vùng
2004
Đồng bằng sông Hồng
và miền núi phía Bắc
Bắc Trung bộ và
Duyên hải miền Trung
Tây nguyên
Đông Nam bộ, Đồng
bằng sông Cửu Long
Cả nước

2005

2006

2007

2008


328,7

352,5

373,6

334,7

648,4

700,2

701,9

753,6

760,5

621,0

2.627,8

2.996,4

3.128,5

3.461,8

3.562,3


567

2005

2006

2008

2007

2009

2010

1.154 1.562 1.930 2.820 2.500 2.620 3.150

Bảng 1.4. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang các thị trường chính,
giai đoạn 2003 - 2009
Đơn vị tính: triệu USD
Năm

2003

2004

2005

2006

2007


633,1

791,8

763,7

Nhật Bản

137,9

180

240,8

286,8

313,1

378,8

355,4

Thị trường

Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam không ngừng được mở rộng.
Năm 2003 sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia thì đến hết năm
2008, đã có mặt tại trên 120 quốc gia. Trong đó, 3 thị trường chính chiếm tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ (chiếm 38 – 44%), EU (chiếm 28 – 30%) và
Nhật Bản (chiếm 12 – 15%).

loại, huy hiệu, biểu tượng, biểu trưng khung tranh, khung ảnh, phào mỹ nghệ,
thuyền buồm mỹ nghệ các loại, mành trang trí, giá đỡ hàng mỹ nghệ.
- Nhạc cụ, đồ chơi trẻ em, vợt cầu lông, vượt bóng bàn, gậy chơi bi-da, gậy
chăn cừu, ót giầy (cái đón gót), chân tay giả, dù cán gỗ, cán dù, chổi cán gỗ, cán
chổi sơn.
- Bàn ghế giường tủ các loại, đôn kỷ, án thư, bàn trà, tủ chè, tủ chùa, tủ đồng
hồ, tủ gương, bàn thờ, tủ cao cấp.
- Sản phẩm gỗ mỹ nghệ kết hợp song, mây, tre, trúc, gốm sứ, vật liệu khác.
(2) Nhóm đồ gỗ nội thất: Bao gồm các loại sản phẩm đồ mộc dùng trong nhà
như: bàn ghế các loại, giường tủ, giá kê sách, ván sàn… làm từ gỗ tự nhiên, gỗ rừng
trồng và ván nhân tạo.
(3) Nhóm đồ gỗ ngoài trời: Bao gồm các loại sản phẩm đồ mộc kiểu Châu
Âu, thường dùng để ngoài vườn như: bàn ghế, vườn, ghế băng, ô che nắng, ghế xích
đu, cầu trượt... được sản xuất từ các loại gỗ rừng trồng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status