Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây được sự quan tâm rất từ phía nhà nước và chính
quyền địa phương trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, tiến kịp sự phát triển của đất nước. Một
trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới là chuyển dịch cơ cấu lao động
nông thôn theo hướng tăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong đó yếu tố
quan trọng để tạo ra sự chuyển dịch ấy là phát triển các làng nghề tiểu thủ
công nghiệp làng nghề truyền thống
Sự phát triển làng nghề đã góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn,
giải quyết một lượng lớn lao động ở nông thôn, tăng thu nhập và giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc. Nhận thức được sự quan trọng của làng nghề trong quá
trình phát triển đất nước, Đảng và chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạt
chính sách để hỗ trợ khu vực kinh tế này. Gần đây nhất, nghị quyết 26 -
NQ/TW tại hội nghị 7 năm 2008 của ban chấp hành trung ương khóa X của
Đảng Cộng Sản Việt Nam về (nông nghiệp, nông dân và nông thôn) đã một
lần nữa khẳng định việc phát triển bền vững các ngành nghề ở nông thôn có
vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy nhiên những cơ sơ sản sản xuất trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn
bộc lộ một số yếu kém: khả năng tiếp cận thông tin và kĩ năng thị trường còn
hạn chế tổ chức sản xuất còn phân tán nhỏ lẻ máy móc thiết bị cũ kĩ lạc hậu
tay nghề lao động chưa được tinh xảo cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh, đặc biệt
môi trường nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe cộng đồng dân cư và sự phát triển bền vững.
1
Một câu hỏi được đặt ra ở đây là làm thế nào để định hướng cho các làng
nghề ở đây phát triển theo hướng bền vững ?
Xuất phát từ đó tôi đưa ra đề tài nghiên cứu: " Tìm hiểu thực trạng và
đề xuất một số giải phát phát triển làng nghề mộc Phương Độ xã Xuân
Phương – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên "
trồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc. Thông
thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân
mới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt
lúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để
làm. Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm
mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về
sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của
nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng
mây, tre, lụa phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề
phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã
mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào
các vụ lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học
làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng
gần nhau.
Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem
lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì
phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù
3
hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng
nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm
chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng.
Trong suốt quá trình phát triển lịch sử của Việt Nam, làng xã nói chung
và làng nghề nói riêng luôn là những thể chế then chốt trong sản xuất nông
nghiệp và đời sống cư dân nông thôn. Làng xã Việt Nam được phát triển từ
rất lâu đời.
Bởi vậy có thể thấy rằng đa số các làng nghề truyền thống ở Việt Nam
được hình thành và phát triển trải qua hàng trăm năm, đồng hành với sự phát
triển kinh tế xã hội, văn hóa và nông nghiệp của dân tộc. Ví dụ: làng đúc đồng
Đại Bái ở Bắc Ninh đã tồn tại và phát triển hơn 900 năm, làng nghề gốm Bát
đều có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu là sản
xuất ra một số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của
hộ gia đình mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên
liệu sẵn có. Nhưng qua thời gian dài phát triển do có sự khác nhau về tay
nghề và kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương là khác nhau và các sản
phẩm làm ra bắt đầu được đưa ra thị trường trao đổi như những loại hàng hoá
và ở hầu hết các địa phương đều có làm thêm một vài nghề phụ. Tuy nhiên
vấn đề ở đây là những hoạt động ngành nghề nào được gọi là nghề.
Theo quan điểm chung các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghệp ở
địa phương nào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng
sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất hoặc
hộ sản xuất đó lấy nghề đang làm là nguồn thu nhập chủ yếu thì mới được
xem là nghề (Thông tư 116/2006/TT - BNN).
5
2.2.1.3. Làng nghề
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban
hành Thông tư số 116/2006/TT - BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy
định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề,
làng nghề truyền thống. Theo đó:
- Làng nghề: là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng,
buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị
trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều
loại sản phẩm khác nhau.
*Nghề được coi là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:
- Nghề truyền thống: là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra
những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển
đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.
- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên
tuổi của làng nghề.
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời
7
+ Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Dựa trên các tiêu trí phân loại trên, làng nghề được chia làm 6 nhóm
chính (Bộ TNMT 2008).
Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề mộc, sành sứ,
chạm khắc đá, thêu ren, dệt lụa…đây là nhóm nghề chiếm tỷ trọng lớn về
số lượng, có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét
văn hóa và đặc trưng của địa phương, dân tộc. Công việc sản xuất đòi hỏi
tay nghề cao, tỷ mỷ và sáng tạo.
Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu là các ngành nghề mới hình
thành, số lượng ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái
chế (nhựa, sắt, giấy) đa số nằm ở phía bắc.
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: hình thành từ
hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp
nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng như (đá, cát, sỏi)
Làng nghề thuộc da, dệt nhuộm: các làng nghề này thường có lịch sử
lâu đời, có sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, bản sắc địa phương như
(lụa tơ tằm, thổ cẩm) tại các làng nghề này lao động thường là lao động
chính.
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: có số
lượng làng nghề lớn, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng
lao động nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ
công và ít khi thay đổi quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình thành
nghề như (nấu rượu, bánh trưng, bún) nguyên liệu chủ yếu là gạo, đậu,
sắn, ngô…phế phẩm thường được dùng làm thức ăn chăn nuôi ở quy mô
hộ gia đình.
Các nhóm nghành nghề khác: bao gồm các ngành nghề chế tạo nông cụ
lao động thô sơ như: cày bừa, cuốc xẻng, liềm, đan lưới, vó, làm lưỡi câu…
Những nhóm nghề này xuất hiện từ lâu, sản phẩm làm ra phục vụ trực tiếp
cho nhu cầu của người dân tại địa phương. Lao động phần lớn là thủ công.
Là một làng nghề mới được hình thành nhưng do nắm bắt được cơ hội
phát triển làng nghề mộc Phú Lâm xã Kha Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái
Nguyên đang từng bước khẳng định được tên tuổi thương hiệu của mình
không chỉ đối với người dân địa phương mà còn được nhiều địa phương khác
biết tới như thành phố Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh… Làng nghề thuộc xã
Kha Sơn bên cạnh quốc lộ 37. Các sản phẩm của làng nghề ngày càng đa
dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu của thị trường trước đây từ những sản
phẩm đơn giản nay đã chuyển sang những sản phẩm có tính mỹ thuật cao, có
sự đầu tư tâm huyết và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào mỗi sản phẩm như
giường tủ, bàn ghế… đến nay làng nghề Phú Lâm đã mang lại việc làm ổn
định và thường xuyên cho 46 hộ gia đình với khoảng 225 lao động với thu
nhập bình quân 2.000.000đồng/người/tháng.
Làng nghề cũng được các cấp chính quyền quan tâm bằng việc năm
2009 UBND huyện có hướng dẫn lập sơ đồ làng nghề sau đó sở công thương
tỉnh Thái Nguyên đã trình UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ công nhận làng nghề
cho: Làng nghề mộc mỹ nghệ Phú Lâm xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh
Thái Nguyên. Nghề mộc ở đây hình thành và phát triển trong những năm qua
mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho ngươi dân cũng như giúp chính
quyền địa phương có hướng đi mới trong việc quy hoạch chính sách phát triển
kinh tế của địa phương.
2.6. Vai trò của làng nghề trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
2.6.1. Giữ gìn bản sắc văn hoá độc đáo của từng địa phương
Giá trị văn hoá của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ
cấu của làng, lối sống phong tục tập quán của cộng đồng. Những sản phẩm
hàng hoá mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm văn hoá vật thể chứa đựng giá
trị phi vật thể mỗi sản phẩm ở làng nghề đều có gắn với các hình ảnh quen
10
thuộc của hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Những giá trị văn hoá
chứa đựng trong làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo
đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hoá dân tộc Việt Nam.
đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất
- Việc phát triển làng nghề góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho
người dân trên địa bàn mà chủ yếu là nông thôn.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng dần lao động
trong lĩnh vực phi nông nghiệp
- Phát triển nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn truyền thống văn
hoá dân tộc.
2.6.4. Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội
Bảng 2.1. Đóng góp GDP của làng nghề
TT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2009 Năm 2010
1 Doanh thu Triệu đồng 7.425 22.312
2 Giá trị xuất khẩu Nghìn USD 120 195
3 Số hộ tham gia làm nghề Hộ 58 93
4 Số lao động tham gia làm nghề Người 206 330
5 Thu nhập bình quân lao động
tham gia làm nghề
Đồng/người/
tháng
1.800.000 2.600.000
6 Nộp ngân sách nhà nước Triệu đồng 243.6 390.6
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương)
- Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa
dạng và phong phú, phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, đóng góp
cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng. Là
nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển hàng hoá ở nông thôn.
- Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn phục vụ cho xuất khẩu
(195.000 USD . UBND xã Xuân Phương năm 2010)
2.7. Chủ trương chính sách phát triển làng nghề
12
1, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định nội dung và tiêu chuẩn
công nhận nghề truyền thống làng nghề, làng nghề truyền thống.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc đăng ký và giám sát
chất lượng sản phẩm ngành nghề nông thôn trên địa bàn theo quy định của
pháp luật về quản lí chất lượng sản phẩm.
Điều 5, Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn
1, Nhà nước xây dựng quy định tổng thể và định hướng phát triển ngành nghề
nông thôn dài hạn của cả nước và từng vùng kinh tế đảm bảo phát triển bền
vững thực hiện công ngiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xây dựng quy hoạch tổng thể
phát triển ngành nghề nông thôn của cả nước. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây
dựng quy hoạch phát triển nghành nghề nông thôn trên địa bàn. Việc phê
duyệt quy hoạch thực hiện theo quy định hiện hành về quy hoạch.
2, Nội dung quy hoạch phát triển nghành nghề nông thôn phải phù hợp quy
họach tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng vùng phù hợp
quy định của pháp luật về quy hoạch nhằm khai thác phát huy nghành nghề
lợi thế của từng vùng và địa phương.
* Chính sách của nhà nước.
CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH
Điều 6. Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề
1, Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề bao gồm:
a) Bảo tồn phát triển làng nghề truyền thống
b) Phát triển làng nghề gắn với du lịch
c) Phát triển làng nghề mới
14
2, Nhà nước có chương trình và kinh phí từ ngân sách hỗ trợ chương
trình bảo tồn phát triển làng nghề quy định tại khoản 1 điều này.
3, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương có
cơ chế hỗ trợ các dự án bảo tồn phát triển làng nghề trên địa bàn ngoài kinh
phí hỗ trợ quy định tại khoản 2 điều này.
d) Thực hiện theo quy định của nhà nước về tín dụng đầu tư phát triển,
tín dụng xuất khẩu
e) Qũy bảo lãnh tín dụng doanh ngiệp nhỏ và vừa bảo lãnh vay vốn tại
cá nhân, tổ chức tín dụng.
Điều 9, Xúc tiến thương mại
1, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ
sở nghành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiện
hành của chương trình xúc tiến thương mại quốc gia.
2, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa
phương để hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng thương hiệu, chỉ
dẫn địa lí, xuất sứ hàng hóa, có chính sách bảo hộ sở hữu thương hiệu.
Điều 10, Khoa học công nghệ
1, Cơ sở nghành nghề nông thôn khi thực hiện các hoạt động triển khai
ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, sản xuất sản
phẩm mới và thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ hay tiếp nhận tiến bộ
khoa học kĩ thuật từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thì được hưởng
các ưu đãi theo chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích cá nhân, doanh
nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ.
2, Cơ sở ngành nghề nông thôn thực hiện đề tài nghiên cứu độc lập
hoặc phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học để tạo ra công nghệ mới,
hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu có khả năng thương mại hóa thuộc lĩnh vực
16
nghành nghề nông thôn thì được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ nguồn
kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ.
3, Ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí khuyến nông, khuyến ngư,
khuyến công hỗ trợ cơ sở nghành nghề nông thôn về các nội dung: thông tin,
tuyên truyền, xây dựng mô hình, chuyển giao khoa học công nghệ, bồi dưỡng
tập huấn và đào tạo, tư vấn và dịch vụ.
Điều 11, Đào tạo nhân lực
1, Các dự án đầu tư cơ sở dạy nghề nông thôn được hưởng các chính
người lao động tiếp xúc khá cao: 95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc với
khói bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất.
Làng da trống Lâm Yên (Đại Lộc, Quảng Nam), hằng năm bán ra thị
trường từ 1.500 đến 2.000 sản phẩm các loại, tuy là nghề phụ nhưng đã mang
lại cho người dân làm nghề nơi đây khoản thu nhập thường xuyên, ổn định.
Đổi lại, hằng ngày, người dân nơi đây đang phải sống và hít thở bầu không
khí hôi thối, khó chịu của khoảng 20kg da thừa, lông, mỡ thải ra (chiếm 5%
tổng khối lượng da dùng cho sản xuất trống hằng ngày).
Hay ở làng rèn Cầu Vực (Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) lượng chất
thải rắn thải ra hằng ngày khoảng 260 kg gây mất mỹ quan làng xã. Tại các
làng nghề sử dụng nhiên liệu bột và các nguyên vật liệu hóa chất trong dây
chuyền công nghề sản xuất tạo khí thải, khói thải và bụi. Điển hình như tại
làng nghề tái chế Đa Hội (Bắc Ninh) đã thải ra môi trường gần 2.500 tấn bụi,
81 tấn khi CO
2
, gần 3000 tấn khí SO
2
và 2.359 tấn NO
2
mỗi lần.
Làng nghề bún Phú Đô, cứ trong 10.200 tấn sản phẩm mỗi năm đã thải
các chất ô nhiễm 76,9 tấn COD, 53,14 tấn BOD gây ô nhiễm môi trường nước
nghiêm trọng. Những con số khiến ai nghe qua không khỏi giật mình.
18
Những vấn đề nổi cộm trên không chỉ làm ô nhiễm nghiêm trọng không
khí, nguồn nước, mất mỹ quan làm suy thoái môi trường nghiêm trọng mà
còn tác động xấu tới sức khỏe người dân của làng nghề và cộng đồng dân cư
lân cận, đe dọa tới sự phát triển bền vững các làng nghề Việt Nam.
Bên cạnh những hệ lụy đó, ô nhiễm môi trường làng nghề còn ảnh
hưởng đến các vấn đề kinh tế - xã hội như làm tăng chi phí khám chữa bệnh,
Cơ cấu các sản phẩm chính, tốc độ phát triển các sản phẩm trong giai
đoạn này.
- Thực trạng lao động trong các cơ sở làm nghề
- Vấn đề tiếp cận nguồn vốn tín dụng
- Vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm
* Tác động của làng nghề Phương Độ đến điều kiện môi trường tự
nhiên và xã hội của địa phương
20
* Phân tích điểm mạnh yếu, cơ hội và thách thức đối với làng nghề mộc
Phương Độ
* Đưa ra những định hướng phát triển làng nghề trong thời gian tới
* Tìm hiểu các vấn đề tồn tại của xã cản trở việc thực hiện các phương
hướng này.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Tiến hành thu thập các tài liệu báo cáo, nghiên cứu khoa học, văn
bản chính sách và các số liệu liên quan đến hiện trạng phát triển chung của
của làng nghề Việt Nam tại các thư viện quốc gia, bộ tài nguyên môi trường,
bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và trên mạng internet.
Bước 2: Tiến hành thu thập điều tra thực địa.
• Trao đổi cán bộ phòng lao động thương binh xã hội và cán bộ UBND
xã Xuân Phương xin thu thập các tài liệu, báo cáo, chính sách và số liệu
thống kê có liên quan đến hiện trạng làng nghề mộc Phương Độ
• Tiến hành thu thập thông tin bằng cách tiếp cận trao đổi với 30 hộ dân
là những người sản xuất đồ gỗ tại địa phương (xem bảng 4.3).
Phương pháp chính được sử dụng ở đây là điều tra bằng phiếu điều tra
nông hộ, phân tích điểm mạnh yếu cơ hội và thách thức của làng nghề và
quan sát thực địa
Bước 3: Sử dụng phần mềm Microsoft Word để tiến hành tổng hợp, phân tích
số liệu và viết báo cáo
22
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã Xuân Phương năm 2010
Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích đất 737,5 100
1. Diện tích đất nông nghiệp 603,5 81,9
2. Đất thổ cư 85,7 11,3
3. Đất chuyên dùng làm ngành nghề 10 1,4
4. Các loại đất khác 39,7 5,4
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương, năm 2010)
Xã Xuân Phương là một xã trung du nằm ở trung tâm huyện Phú Bình, có
diện tích tự nhiên 737,5 ha, diện tích đất canh tác 603,5 ha chiếm 81,9 % diện tích
đất thổ cư 85,7 ha chiếm 11,3 %, diện tích đất chuyên dùng làm ngành nghề 10 ha
chiếm 1,4 %, diện tích các loại đất khác 39,7ha chiếm 5,4 %.
4.2. Tình hình nhân khẩu, lao động và giáo dục
*Tình hình nhân khẩu và lao động
Bảng 4.2: Cơ cấu lao động theo nghành nghề ở xã Xuân Phương
TT Nghành Số hộ Số lao động
1 Nông nghiệp 1.570 3.523
2 Tiểu thủ công nghiệp 144 307
3 Thương mại - Dịch vụ 224 321
4 Tổng 1938 4.151
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương, năm 2010)
Có 1938 hộ với 8023 nhân khẩu được phân bổ ở 14 xóm. Với số người
trong độ tuổi lao động chiếm 70% đây là một thuận lợi cho địa phương về vấn
đề lao động, đồng thời cũng là một gánh nặng về vấn đề giải quyết việc làm
ảnh hưởng đến trật tự xã hội trên địa bàn.
23
*Về giáo dục:
Xã có 3 trường, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non, trong đó có 2
trường Tiểu học và trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Hoàn
Giá trị
sản xuất
(Triệu
đồng)
Cơ
cấu
(%)
Tiểu thủ công nghiệp 7.580 39.6 11.579 44.5 20.000 47.2
Nông nghiệp 3.450 18.04 3.865 14.9 4.378 10.3
Dịch vụ 8.085 42.36 10.560 40.6 18.000 42.5
Tổng 19.115 100 26.004 100 42.378 100
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương)
Thành tựu đạt được:
24
Tốc độ tăng trưởng kinh tế phấn đấu tăng 12%.
Sản lượng lương thực có hạt = 3348 tấn.
Sản lượng lợn thịt hơi xuất chuồng = 575 tấn, lợn sữa 250 tấn
Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp = 20 tỷ đồng, dịch vụ thương mại =
18 tỷ đồng.
Thu nhập bình quân đầu người = 11.000.000 đ
Thu ngân sách 1.900.000.000 đ
Giảm tỷ xuất sinh thô = 0,24
0/
00
Giảm tỷ lệ hộ nghèo = 3,4%.
Giải quyết việc làm mới = 200 lao động. (nguồn UBND xã Xuân Phương)
* Đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng
Triển khai thu hồi đất phục vụ các dự án công trình nước sinh hoạt, chợ
cầu Mây, đền thờ liệt sỹ và 2 khu tái định cư dự án đường 120 các dự án phần
lớn đã hoàn thành còn lại đang chờ nhà đầu tư giải phóng mặt bằng những