Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là bộ phận chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, có vai trò
và vị trí to lớn trong sự phát triển của đất nước. Trong thời đại xu thế hội
nhập là tất yếu như hiện nay sự cạnh tranh trong nội bộ ngành và với bên
ngoài khá gay gắt. Để nông nghiệp Việt Nam ngày một phát triển, có khả
năng cạnh tranh với hàng hóa các nước thì yêu cầu đặt ra là người dân phải
có kiến thức về sản xuất, chăm sóc cây trồng, vật nuôi, nắm được yêu cầu và
quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn, các thông tin thị trường … Một trong
những kênh thông tin giúp người dân có được những điều đó là hệ thống tổ
chức khuyến nông. Công tác khuyến nông đem lại nhiều lợi ích thiết thực
thấy rõ như: góp phần nâng cao nhận thức cho người nông dân về chủ
trương, chính sách pháp luật, kiến thức, kĩ năng về khoa học kĩ thuật, quản
lí; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn;
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả cây trồng vật nuôi, phát triển sản
xuất theo hướng bền vững; góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông thôn.
Trong những năm qua nền nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Từ một nước có
nền nông nghiệp lạc hậu tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ, Việt Nam đã trở thành
nước xuất khẩu nông sản có thứ bậc trên thế giới: Đứng thứ nhất về xuất
khẩu hạt tiêu; Đứng thứ hai về xuất khẩu gạo (sau thái lan) và còn một số các
sản phẩm nông sản khác như : đứng thứ hai về xuất khẩu cà phê, hạt điều; đứng
thứ tư về xuất khẩu cao su; đứng thứ sáu về xuất khẩu chè. Ngoài ra nước ta
còn xuất khẩu nhiều loại nông sản có giá trị khác như: rau, củ, quả…
Trải qua các thời kỳ lịch sử nhà nước ta đều có những chủ trương
chính sách phát triển nông nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp,
hướng tới phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững. Đồng hành
với sự phát triển của nông nghiệp chính là những cán bộ, nhân viên, tình
nguyện viên hệ thống Khuyến nông Việt Nam.
nhiệm vụ, cơ chế quản lý. Các chính sách khuyến nông cũng được điều chỉnh
trong quy định này; Đặc biệt bổ sung các chính sách đối với đội ngũ CBKN cơ
sở.
Vậy một câu hỏi đặt ra ở đây là: Với một đội ngũ cán bộ khuyến nông ở
cơ sở khá đầy đủ và cơ chế quản lý như vậy thì hiện nay họ đang hoạt động như
thế nào, đã phát huy được hết vai trò, năng lực của mình hay chưa, có giải pháp gì
giúp họ nâng cao năng lực của mình hay không? Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã
chọn huyện Quảng Uyên - tỉnh Cao Bằng để thực hiện đề tài: “Tìm hiểu thực
trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động của
cán bộ khuyến nông huyện Quảng Uyên - tỉnh cao Bằng”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng hệ thống khuyến nông và kết quả đạt được từ công
tác khuyến nông huyện Quảng Uyên trong những năm qua (2008 - 2010).
- Phân tích được mặt mạnh, mặt yếu và những thuận lợi, khó khăn
của hệ thống khuyến nông.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
công tác khuyến nông huyện Quảng Uyên - Cao Bằng.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hoạt động và vai trò của đội ngũ cán bộ khuyến
nông tại Trạm Khuyến nông huyện Quảng Uyên - Cao Bằng. Trên cơ sở
đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho đội
ngũ cán bộ khuyến nông huyện Quảng Uyên - Cao Bằng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên củng cố kiến
thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường và ứng dụng kiến thức
đó vào thực tiễn.
- Phát hiện những nguyên nhân dẫn đến thuận lợi, khó khăn trong các
hoạt động khuyến nông. Từ đó đề xuất các giải pháp và làm cơ sở cho những
nghiên cứu tiếp theo.
năng vượt qua các trở ngại gặp phải” (Theo tổ chức FAO, 1987).
“Khuyến nông là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông
dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn”
(A.W.Van den Ban và H.S.Hawkins, 1988).
“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên
quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà
trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành” (Thomas).
Qua rất nhiều khái niệm trên chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu
khuyến nông theo hai nghĩa:
Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung
để chỉ tất cả các hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông
thôn.
Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình
giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân. Tiến trình này
đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ
giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống. Khuyến
nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để
không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ.
2.1.2. Vai trò của công tác khuyến nông
2.1.2.1. Vai trò trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Hình 2.1. Vai trò của khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Phát
triển
nông
thôn
Khuyến
nông
Giao
thông
Giáo
được tăng cường củng cố và phát triển.
2.1.2.2. Vai trò trong chuyển giao công nghệ
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa việc nghiên cứu với nông dân
Cán Bộ Khuyến
nông
Nhà nghiên cứu,
viện nghiên cứu,
Trường Đại học
Nông dân
Những TBKHKT, công nghệ mới thường là kết quả nghiên cứu của
các cơ quan khoa học như các nhà nghiên cứu, viện nghiên cứu, các trường
Đại học,… Những tiến bộ này được nông dân lựa chọn, áp dụng vào trong
sản xuất để nâng cao năng xuất lao động. Trên thực tế, giữa nghiên cứu và áp
dụng thường trải qua một khâu trung gian để chuyển tải các tiến bộ khoa học
kỹ thuật cho nông dân. Ngược lại, những kinh nghiệm sản xuất, những nhu
cầu, những nhận xét đánh giá về kỹ thuật mới của nông dân cũng được phản
hồi đến các nhà nghiên cứu để có những nghiên cứu phù hợp với thực tế. Và
khuyến nông chính là chiếc cầu nối đó.
2.1.2.3. Vai trò đối với nhà nước
- Khuyến nông khuyến lâm là một trong những tổ chức giúp nhà nước
thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông lâm nghiệp, nông
thôn và nông dân.
- Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm
nghiệp.
- Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu,
nguyện vọng của nông dân đến các cơ quan Nhà nước, trên cơ sở đó Nhà
nước hoạch định, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp.
2.1.3. Vai trò của cán bộ khuyến nông
Theo quan điểm khuyến nông mới, thì người cán bộ khuyến nông ít bị
ràng buộc bởi những chỉ tiêu kế hoạch cụ thể của từng chương trình khuyến
và Nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn.
2.1.4. Chức năng của khuyến nông
- Đào tạo, tập huấn nông dân: tổ chức các khóa tập huấn, xây dựng mô
hình, tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân.
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất các ý tưởng,
sáng kiến và thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ.
- Trao đổi, truyền bá thông tin: bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông
tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp
họ cùng nhau chia sẻ và học tập.
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương: tạo
điều kiện giúp họ có thể phát hiện, nhận biết và có thể phân tích được các
vấn đề khó khăn trong sản xuất, đời sống và bàn bạc cùng nông dân tìm biện
pháp giải quyết.
- Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông: Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra đánh giá và dân hưởng lợi.
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật
mới, hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện
trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng.
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát
triển sản xuất quy mô trang trại.
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
2.2. Nội dung hoạt động của Khuyến nông
Theo Nghị định 02 của Chính Phủ về khuyến nông, khuyến ngư, nội
dung hoạt động khuyến nông, khuyến ngư gồm :
Điều 4: Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo
1. Đối tượng
a) Người sản xuất theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị định
này chưa tham gia chương trình đào tạo dạy nghề do Nhà nước hỗ trợ
b) Người hoạt động khuyến nông theo quy định tại điểm c khoản 2
trong sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp
chí khuyến nông, tài liệu khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ,
triển lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác, xuất bản và
phát hành ấn phẩm khuyến nông.
3. Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin của hệ thống thông tin
khuyến nông.
Điều 6: Trình diễn và nhân rộng mô hình
1. Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ
phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của
ngành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm.
2. Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
3. Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông
nghiệp hiệu quả và bền vững.
4. Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình
diễn, điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng.
Điều 7: Tư vấn và dịch vụ khuyến nông
1. Tư vấn và dịch vụ trong các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 1
Nghị định này về:
a) Chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn
b) Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng
cao năng suất, chất lương, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng
cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
c) Khởi nghiệp cho chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự
án đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo
lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường.
d) Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất kinh doanh.
đ) Cung ứng vật tư nông nghiệp
2. Tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn.
Điều 8: Hợp tác quốc tế về khuyến nông
1. Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chương trình
nước Anh. Và Jemes Stuart thường được coi là “người cha đẻ của phổ cập đại
học”. Năm 1876, Trường Đại học Luân Đôn và năm 1878 Trường Đại học
Oxford cũng dạy theo chương trình đào tạo này, và từ năm 1880 hoạt động này
trở thành một phong trào.
2.3.1.3. Nước Mỹ
Năm 1845 tại Ohio, N.S.Townshned chủ nhiệm khoa Nông học đề
xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện và sinh hoạt
định kỳ. Đây là tiền thân của khuyến nông Mỹ.
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 USD cho khuyến nông đại học.
Năm 1892 Trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức
chương trình khuyến nông đại học.
Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 Bang đã thực hiện công tác
Khuyến nông
Năm 1910, có 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông
Năm 1914 tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có
1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên
Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đối
tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên
do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp
nơi trên đất nước.
Cho tới nay Mỹ là nước có nền nông nghiệp rất phát triển với chỉ 6% dân
số sống bằng sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất và sản lượng nông nghiệp
của Mỹ vẫn đạt mức cao. Điển hình là sản lượng đậu tương năm 1985 là 55
triệu tấn, tới năm 2001 sản lượng đậu tương của Mỹ đã tăng lên 70 triệu tấn cho
đến nay Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, hàng năm xuất khẩu
16,9 triệu tấn chiếm 54% tổng khối lượng xuất khẩu đậu tương thế giới.
2.3.1.4. Nước Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đông dân nhất trên thế giới với hơn 1,3 tỷ
người nhưng nền nông nghiệp Trung Quốc không những đủ cung cấp nhu
cầu trong nước mà còn là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất
Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ
chức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tới
tỉnh, huyện, xã, làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũng
khoảng 400.000 tổ chức nông dân là kỹ thuật viên. Hiện nay khuyến nông
Trung Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều
năm không ngừng củng cố (Phạm Kim Oanh, 2006).
2.3.1.5. Nước Thái Lan
Ngày 20/10/1967 Chính phủ Thái Lan mới có quyết định thành lập tổ
chức khuyến nông. Tuy ra đời muộn hơn so với một số nước khác nhưng
Chính Thái Lan đặc biệt quan tâm đến công tác khuyến nông. Hàng năm
Chính phủ Thái Lan chi từ 120 – 150 triệu USD thậm chí đến 200 triệu
USD/năm để đầu tư cho hoạt động khuyến nông. Cho tới nay Thái Lan đã có
một hệ thống khuyến nông khá mạnh, có thể nói khuyến nông Thái Lan có
mặt tới tận làng, xã. Nhờ sự quan tâm đầu tư của Chính phủ cho nông
nghiệp, nông thôn hiện nay Thái Lan là nước có nền nông nghiệp rất phát
triển, là nước đứng đầu về xuất khẩu nông sản đặc biệt là lúa gạo.
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến phát triển nông
nghiệp và nông thôn, trong đó công tác khuyến nông rất được trú trọng. Năm
1993 trên thế giới có 200 nước và vùng lãnh thổ có tổ chức khuyến nông,
mỗi một nước có một hệ thống tổ chức khuyến nông khác nhau nhưng đều
nhằm một mục đích chung là phát triển nông nghiệp, nông thôn.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát
triển của nền sản xuất nông nghiệp. Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã
trực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để
các Hoàng tử, Công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nông sản
tại chỗ. Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa.
Để tỏ rõ sự quan tâm tới nông nghiệp, Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là
ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc
vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay.
huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ sở. Giai đoạn 1976 - 1988 nông nghiệp Việt
Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia phát triển sản xuất.
Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan hệ sản
xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa tập chung. Nhiều
thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm
cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông thôn nảy sinh nhiều
vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống.
Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu
năm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị
100CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở
rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp”
được ban hành (gọi tắt là khoán 100). Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô
hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là cải tiến hình thức
khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ. Đây
cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập chung, quan liêu,
sản xuất tập thể. Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để mở ra thời kỳ mới của
sản xuất nông nghiệp Việt Nam.
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra
đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Nghị quyết 10 của Bộ
chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về
“Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong
nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế
tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10).
Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến
nông. Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa
phương. Năm 1993 Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừa quản
lý nhà nước vừa làm công tác khuyến nông. Năm 2001 Trung tâm Khuyến
nông Trung ương ra đời (trực thuộc cục khuyến nông). Tới năm 2003 Trung
tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập.
Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành nghị định 56/2005/CP thay thế
3.3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3.3.2. Tìm hiểu thực trạng hoạt động của Trạm khuyến nông huyện
Quảng Uyên.
3.3.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của trạm khuyến nông
huyện Quảng Uyên.
3.3.2.2. Hệ thống tổ chức khuyến nông của trạm khuyến nông huyện
Quảng Uyên.
3.3.2.3. Thực trạng về nguồn nhân lực và trình độ chuyên môn của đội
ngũ CBKN huyện Quảng Uyên
3.3.3. Các hoạt động khuyến nông mà Trạm khuyến nông huyện
Quảng Uyên đã thực hiện trong 3 năm (2008 – 2010).
3.3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động
cho cán bộ khuyến nông tại Trạm khuyến nông huyện Quảng Uyên.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp chọn mẫu
Căn cứ vào nội dung đề tài và đối tượng điều tra tiến hành chọn mẫu
như sau:
- Phỏng vấn cán bộ khuyến nông của trạm khuyến nông, cán bộ
khuyến nông 3 xã đã chọn trên toàn huyện Quảng Uyên theo phiếu điều tra
(n = 9 cán bộ khuyến nông)
- Trong huyện chọn ngẫu nhiên 3 xã, mỗi xã chọn ngẫu nhiên 2 xóm
và mỗi xóm chọn ngẫu nhiên 15 hộ nông dân đại diện cho các thôn để tiến
hành phỏng vấn theo phiếu điều tra (n = 90 hộ).
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phỏng vấn chính thức: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung nghiên cứu để
lập phiếu điều tra, chọn mẫu điều tra. Đối tượng phỏng vấn ở đây là các cán bộ
khuyến nông xã, cán bộ khuyến nông viên thôn bản và người dân trong huyện
Quảng Uyên.
+ Phỏng vấn bán chính thức: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của đề tài
đến
105
0
38
’
kinh độ đông; 22
0
38
’
đến 23
0
05
’
vĩ độ bắc, vị trí hành chính của
huyện như sau:
- Phía Đông giáp huyện Hạ Lang;
- Phía Tây giáp huyện Hòa An;
- Phía Nam giáp huyện Phục Hòa;
- Phía Bắc giáp huyện Trà Lĩnh và huyện Trùng Khánh.
4.1.1.2. Địa hình
Huyện Quảng Uyên có địa hình phức tạp, phổ biến là đồi, núi đá, xen
kẽ giữa đồi núi là các thung lũng nhỏ hẹp, có độ cao thấp dần theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình so với mặt nước biển trên 500m.
Địa hình của huyện chia thành 3 dạng rõ rệt:
- Địa hình núi đá vôi, chia cắt mạnh.
- Địa hình đồi, núi thấp, bậc thềm.
- Địa hình thung lũng dốc tụ.
Địa hình Quảng Uyên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành
đất, cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích lũy. Quá trình rửa trôi diễn ra
mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều và ở vùng đồi núi thấp
* Đất nông nghiệp: