MỤC LỤC
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 50
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng1 : Tình hình dân số và phân loại hộ của cộng đồng TS nghiên cứu
Bảng 2: Hoạt động KT&NTTS đầm phá Vinh Phú
Bảng 3: Tình hình nhân khẩu, lao động và trang bị phương tiện sản xuất của
cộng đồng nghiên cứu
Bảng 3: Tình hình nhân khẩu, lao động và trang bị phương tiện sản xuất của
cộng đồng nghiên cứu
Bảng 4: Thực trạng cải tiến quản lý tại xã Vinh Phú
Bảng 5: Nhận thức của hộ về thay đổi quản lý tài nguyên đầm phá giai đoạn
2006 - 2010 ở Vinh Phú.
Bảng 6. Thay đổi số hộ, sản lượng và ngư cụ khai thác ở Vinh Phú
Bảng 7: Thay đổi sản lượng và thu nhập trong hoạt động KTTS cấp hộ
Bảng 8 Cải tiến kết quả NTTS ở Vinh Phú
Bảng 9 Thay đổi các hoạt động tạo thu nhập cấp hộ
Bảng 10. Thay đổi chi tiêu cấp hộ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ : Các bước thực hiện cho cấp quyền khai thác thuỷ sản ở Vinh Phú.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Khai thác = KT
ngư cụ mang tính hủy diệt cao như: rà điện, cào lươn, xiếc điện, lừ Trung
Quốc…cộng thêm việc phát triển hoạt động NTTS diễn ra ồ ạt, thiếu quy
hoạch gây ra dịch bệnh. Những việc làm trên đã và đang làm suy giảm nguồn
lợi TS và ô nhiểm môi trường đầm phá, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế lâu
dài của cộng đồng ngư dân ven phá.
Từ đó đòi hỏi cấp thiết nhất lúc này là phải cải tiến cách thức quản lý
nghề cá một cách đồng bộ, từ hệ thống kỹ thuật đánh bắt nuôi trồng, phương
pháp đánh bắt, quy hoạch tiểu vùng KT và NTTS, quy chế đánh bắt nhằm đạt
đến mục đích các hoạt động, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế tạo thu nhập
cho người dân để giảm sức ép lên đầm phá.
Nhưng thực tế các hoạt động KT và NTTS vẫn đang trong tình trạng
3
thiếu kiểm soát và cơ chế tiếp cận tự do, và cái chính là hoạt động quản lý tập
trung của Nhà Nước thông qua các đơn vị hành chính như xã, thôn, đội tỏ ra
không có hiệu quả vì chưa có cơ chế quản lý rỏ rang, các luật quy định trong
quyền tiếp cận sử dụng mặt nước hiện tại chưa đủ mạnh để quản lý tốt.
Để khắc phục vấn đề đó UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa ra quyết
định quan trọng nằm trong chính sách quản lý KTTS đầm phá là phát triển hệ
thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng hay còn gọi là Đồng quản lý.
ĐQL và quản lý dựa vào cộng đồng là cơ chế quản lý thể hiện sự phân
quyền, sự tham gia của người dân trong quản lý tài nguyên. Người sử dụng
nguồn lợi và tổ chức cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài
nguyên dung chung.
Để hiểu rỏ hơn về vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Tìm
hiểu mô hình đồng quản lý ở xã Vinh Phú, huyện Phú Vang”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tiến trình xây dựng đồng thuận trong quản lý thuỷ sản trên
vùng đầm phá xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tìm hiểu các hoạt động quản lý thuỷ sản của cơ chế đồng quản lý thực
hiện trên vùng đầm phá xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
nguyên ven biển do những người phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đề
xướng[4].Vì vậy ngày càng có nhiều người sử dụng tài nguyên tham gia vào
quản lý nguồn tài nguyên ven biển và trách nhiệm quản lý mang tính chất địa
phương. Ý thức trách nhiệm, sự tuân thủ pháp luật do đó cũng tăng lên.
5
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là hoạt động nhằm định
hướng các vấn đề thông qua kiểm soát quản lý tài nguyên mang tính địa
phương hơn[4]. Khi quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trở nên tiến bộ
hơn nó sẽ giải quyết các vấn đề của cộng đồng ven biển một cách toàn diện
hơn. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một nỗ lực làm cho cộng đồng
“được kiểm soát hơn”.
Trong tương lai kế sinh nhai bền vững không chỉ đơn thuần là “kế sinh
nhai thay thế” mà nó còn bao gồm cả các khía cạnh văn hoá, xã hội và chính
trị đang tác động một cách mạnh mẽ đến cuộc sống của con người. Nếu muốn
con người có trách nhiệm trong việc quản lý, thì lợi ích của họ phải rõ ràng,
thực chất, công bằng, những mục đích thương mại là không thể chấp nhận
được. Việc đánh giá một cách toàn diện là thực sự cần thiết. Hầu hết các hệ
sinh thái bị suy thoái vì nguyên nhân này hay nguyên nhân khác đều phải
được hồi phục. Kiểm soát việc sử dụng và lạm dụng tài nguyên sẽ mang lại
năng suất tiềm năng cho vùng ven biển và cộng đồng ven biển, với sự chăm
sóc và quan tâm thích đáng, có thể cải thiện được phúc lợi của chính cộng
đồng ven biển trước mắt cũng như trong tương lai.
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện
nhằm xác định những vấn đề mang tính chất nhiều mặt ảnh hưởng đến môi
trường ven biển thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng
ven biển[4]. Điều quan trọng là chiến dịch này tìm cách xác định vấn đề cốt
lõi của sự tiếp cận tài nguyên một cách tự do cùng với tất cả hậu quả bất công
và không hiệu quả, bằng cách tăng cường sự tiếp cận và kiểm soát của cộng
đồng đối với nguồn tài nguyên của họ.
Thuật ngữ “Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà những người sử
nguyên ven biển sẽ tạo ra cơ hội tốt hơn cho tích luỹ lơị ích kinh tế địa
phương. Các tổ chức tại cộng đồng quản lý tốt tài nguyên cũng có thể được
công nhận như những người cộng tác hợp pháp trong việc quản lý tài nguyên
ven biển. Sự tăng quyền lực cũng có nghĩa là xây dựng nguồn nhân lực và khả
năng của cộng đồng để quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên của họ theo
cách bền vững.
+ Sự công bằng
Nguyên tắc công bằng gắn liền với nguyên tắc tăng quyền lực. Sự công
bằng có nghĩa là có sự bình đẳng giữa mọi người và mọi tầng lớp đối với
những cơ hội. Tính công bằng chỉ có thể đạt được khi những người đánh cá
7
quy mô nhỏ cũng có quyền tiếp cận bình đẳng đối với những cơ hội tồn tại để
phát triển, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên ven biển. Quản lý bảo tồn dựa
vào cộng đồng cũng đảm bảo tính công bằng giữa thế hệ hiện tại và tương lai
bằng cách tạo ra những cơ chế có thể bảo đảm cho việc bảo vệ và bảo tồn
nguồn tài nguyên ven biển để sử dụng cho tương lai.
+ Tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững
Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng thúc đẩy những kỹ thuật và thực
hành không chỉ để phù hợp với những nhu cầu về kinh tế, xã hội, văn hoá của
cộng đồng mà còn là hợp lý về sinh thái. Do đó những kỹ thuật phải thừa
nhận sức chịu đựng và tiếp thụ của nguồn tài nguyên và hệ sinh thái.
Sự phát triển bền vững có nghĩa là phải cân nhắc, nghiên cứu trạng thái
và bản chất của môi trường tự nhiên trong khi theo đuổi phát triển kinh tế mà
không làm tổn hại đến phúc lợi của thế hệ tương lai.
+ Tôn trọng những tri thức truyền thống/bản địa
Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng thừa nhận giá trị của tri thức và hiểu
biết bản địa. Nó khuyến khích việc chấp nhận và sử dụng những tri thức
truyền thống/bản địa trong những quá trình và hoạt động khác nhau của mình.
+ Sự bình đẳng giới
Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng thừa nhận vai trò độc đáo và sự đóng
tài nguyên. Bảo vệ môi trường tập trung vào sự phục hồi, cải thiện và bảo vệ các
sinh cảnh. Ví dụ: Thiết lập các khu bảo tồn, phục hồi và trồng lại rừng.
Bảo vệ môi trường phải bao hàm cả các hệ sinh thái điển hình khác nhau
vì chúng được liên kết với nhau từ đầu nguồn đến cửa sông. Bảo vệ môi
trường có liên quan chặt chẽ với những quy định và sự thực thi nghiêm ngặt
luật môi trường nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi của một số hoạt động
dựa vào tài nguyên rừng.
+ Phát triển sinh kế bền vững
An toàn lương thực là mối quan tâm hàng đầu của quản lý bảo tồn dựa
vào cộng đồng. Phát triển sinh kế bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc
bảo đảm an toàn về kinh tế và lương thực cho cộng đồng. Sinh kế là điểm chủ
chốt trong mối tương tác giữa con người và tài nguyên. Kiểu tương tác này
xác định việc sử dụng tài nguyên có bền vững hay không.
Phát triển sinh kế bền vững có thể liên quan đến việc giới thiệu các sinh
kế thay thế, thúc đẩy những sinh kế hiện hữu, thay đổi hay cải thiện chúng và
9
chiến dịch chống những phương pháp mang tính huỷ diệt. Thúc đẩy an toàn
lương thực cho hộ gia đình và làng xã là một khía cạnh quan trọng của thành
tố này .
2.1.2 ĐQL tài nguyên thủy sản
2.1.2.1. Khái niệm ĐQL
Theo ASEAN đồng quản lý là một cách tiếp cận quản lý theo kiểu đối
tác, trong đó Chính phủ chia sẽ một số quyền hạn, trách nhiệm và chức năng
quản lý thủy sản nhất định với những người sử dụng nguồn lợi.
Trong Hội thảo của Uỷ Hội Nghề cá châu Á - Thái Bình Dương cũng
thống nhất rằng: “Đồng quản lý nghề cá có thể được hiểu là phương pháp
tham gia, nơi mà Chính Phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẽ
trách nhiệm và quyền hạn để quản lý Nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong
một vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác”.
Là một số hay toàn bộ trách nhiệm quản lý được chính thức chia sẻ giữa
pháp lý nhằm uỷ thác một cách chính đáng quyền tổ chức và quyền thực thi
các dàn xếp thể chế ở cấp độ địa phương”
Theo Hara 1998: “Nhà nước phải có trách nhiệm chung và giám sát tổng
thể cách thức hoạt động của cơ chế đồng quản lý. Chính phủ phải hổ trợ về
mặt tài chính và hoạt động nghiên cứu để đảm bảo sáng kiến đồng quản lý
đem lại cơ hội bình đẳng cho tất cả các bên.”
Theo Sandersen và Koester,2000: Đồng quản lý đòi hỏi phải có” một
co chế dân chủ, linh hoạt để giải quyết thường xuyên những vấn đề liên
quan đến nguồn lợi”
Theo Hà Xuân Thông 2001 “Đồng quản lý được hiểu như là cách thức
chia sẻ hoặc phân định quyền lực và trách nhiệm giữa chính quyền và những
người sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý đối tượng nào đó như nguồn lợi cá,
vùng rạn san hô, vùng nuôi thuỷ sản ao hồ chứa , một cánh rừng … Phạm vi
và cách thức chia sẻ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau các nước
khác nhau và các địa phương khác nhau , do những điều kiện và nền văn hoá
khác nhau”
Theo Pomeroy và Viswanathan (2003) thì các bên liên quan trong đồng
quản lý bao gồm các tổ chức phi chính phủ, nhóm người sử dụng nguồn lợi và
chính quyền. Đồng quản lý bao gồm quyền tham gia trong việc đưa ra các
quyết định quan trọng quy định cách thức, khi nào, ở đâu, bao nhiêu và đối
tượng nào được phép khai thác.
11
Theo nhóm nghiên cứu đồng quản lý 2009: “Đồng quản lý trong nghành
thuỷ sản có thể hiểu như là phương thức quản lý, trong đó chính phủ và
ngưoif sử dụng tiềm năng , nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền
hạn để quản lý các hoạt động sản xuất thuỷ sản và nghề khác , bảo vệ môi
trường và nguồn lợi thuỷ sản trong một vùng xác định , dựa trên sự hợp tác
giữa 2 bên với các bên liên quan khác.”
2.1.2.2. Các loại hình của ĐQL
Theo Sen và Nielsen, 1996 có các loại hình đồng quản lý sau:
Hầu hết các mô hình thành lập, đều xuất phát trên cơ sở thực tiễn, bức
xúc quản lý, được đề xuất bởi ngư dân và có sự hỗ trợ của các dự án, các cơ
quan nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ. Những mô hình hoạt động tốt
là những mô hình có sự đồng thuận cao, xuất phát từ nguyện vọng của ngư
dân, và có sự tham gia chủ động, và hỗ trợ đắc lực từ phía chính quyền, nhất
là chính quyền cơ sở.
Trong đó cụ thể là:
Vai trò của các ban ngành nhà nước: đóng vai trò quyết định trong đồng
quản lý. Ban hành các chỉ thị , quy chế, quy định, quyết định về việc quản lý
nguồn lợi thủy sản đầm phá; chỉ đạo thực hiện và phân quyền theo từng cấp
độ để cùng quản lý nguồn tài nguyên chung [11]
Các tổ chức, cơ quan tài trợ: tập huấn nâng cao năng lực, nhận thức của
ngư dân trong mọi vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển sinh
kế cho ngư dân; hổ trợ cho người dân về phương tiện sản xuất cũng như vốn
để ổn định cuộc sống, giảm bớt gánh nặng lên đầm phá.[11]
Chi hội nghề cá tỉnh có vai trò trong việc xây dựng quy chế quản lý, ngư
trường, phân chia nguồn lợi thủy sản 1 cách hợp lý và hiệu quả mang tính
bên vững, đồng thời triển khai các hoạt động và cung cấp thông tin về nghề
cho mọi ngư dân nắm bắt.
Chi hội nghề cá của xã thì có vai trò thực hiện các công việc sau: tổ chức
phân bố khu vực khai thác theo đúng quy hoạch và quy định của nhà nước và
nguyện vọng của ngư dân; quản lý ngư cụ khai thác trên đầm phá; tổ chức
kiểm tra các đợt khai thác trên đầm phá nhằm phát hiện và xử lý kịp thời
những vi phạm của ngư dân
Sự phối hợp giữa các bên liên quan tới công tác quản lý và sự tham gia
của người dân vào quá trình quản lý được tăng cường. Do được nâng cao
nhận thức và có cơ chế quản lý/phối hợp quản lý tương đối rõ ràng nên trách
13
nhiệm đối với việc sử dụng nguồn lợi, trách nhiệm của các bên liên quan
trong quá trình quản lý, khả năng tự quản của cộng đồng, ý thức bảo vệ môi
chiếc tàu trên toàn quốc[8]. Lực lượng thanh tra viên và cán bộ các phòng,
ban không đủ số lượng để kiểm soát hết các hoạt động sử dụng, khai thác tiềm
14
năng nguồn lợi thủy sản và đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, an toàn vệ
sinh chất lượng sản phẩm thủy sản cho các vùng nước có hoạt động khai thác,
nuôi trồng, chế biến, kinh doanh thủy sản. Bên cạnh đó, các trang thiết bị
phục vụ việc kiểm tra, kiểm soát vừa thiếu, vừa yếu và khàng đủ kinh phí để
triển khai hoạt động rộng khắp trên toàn quốc và ở tất cả các vùng nước.
Các quy định, chế tài cho công tác quản lý và bảo vệ tiềm năng nguồn lợi
thủy sản chưa đủ mạnh. Luật định, quy định khai thác và bảo vệ nguồn lợi
thủy sản, đã ban hành nhưng việc thực thi chưa nghiêm.
Chi phí để hệ thống các cơ quan chuyên ngành thực hiện chức năng
quản lý, kiểm tra, kiểm soát là rất tốn kém.
Chính vì thế việc quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tuy có nhiều ưu
điểm nhưng không hẳn tất cả các địa phương đều có thể tự mình thực hiện
thành công. Cần có sự phối hợp năng động hơn, vừa sử dụng năng lực, động
lực của cộng đồng địa phương, vừa sử dụng năng lực của chính phủ quốc gia
để đưa ra các khung pháp lý và các hỗ trợ khác. Sự phối hợp này có thể gọi là
đồng quản lý, tức là Chính phủ và cộng đồng cũng chia sẽ quyền lợi. Quản lý
dựa vào cộng đồng chính là nhân tố trung tâm của đồng quản lý.
Mô hình Đồng quản lý đã cho thấy những lợi ích rất lớn đối với Việt
Nam là một cách tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên sao cho vừa duy trì
quyền lực của nhà nước đồng thời tạo điều kiện cho các cộng đồng dân cư
chủ động tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách có
trách nhiệm, đặc biệt các cộng đồng dân tộc và cộng đồng nghèo, cụ thể:
- Tạo điều kiện cho việc thực hiện pháp luật và chính sách nhà nước hiện
có bao gồm Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thủy sản, Luật đất đai, Luật
Đa dạng sinh học, và Chính sách “xã hội hóa lâm nghiệp” các văn bản pháp
luật khác, cũng như Chiến lược toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xóa đói
giảm nghèo, ngoài ra còn giúp Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ quốc tế như
chỉ ra rằng “quản lý nghề cá dựa vào
cộng đồng” và thậm chí “đồng quản lý” không phải là khái niệm mới mẻ đối
với Việt Nam, có mới chăng chỉ là ở tên gọi mà thôi. Khoảng 400 năm trước
nghề cá sông ở Việt Nam được giao cho các cộng đồng ngư dân đánh cá quản
lý và tự điều chỉnh phân chia quyền thả lưới ở từng quãng sông. Dưới triều
đại nhà Nguyễn, nghề cá đầm phá ở Thừa Thiên Huế được Nhà nước giao cho
các làng quản lý theo thể thức lãnh trưng. Tại miền Bắc Việt Nam, các
Chuôm ở từng làng và các đầm ở trên cánh đông thường là nơi đánh cá chung
của cả làng nhưng là của từng làng riêng biệt,
16
Từ khoảng 1995 trở lại nay, các nghiên cứu triển khai về quản lý thủy
sản dựa vào cộng đồng hoặc đồng quản lý đã bắt đầu trở lại.
+ Hải Phòng
Mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng xã Phù Long được
phối hợp thực hiện bởi Trung tâm Phát triển nông thôn (Hà Nội), Chi cục Bảo
vệ Nguồn lợi Thủy sản Hải Phòng và UBND huyện Cát Hải dưới sự trợ giúp
của Viện Konrnad Adenauer (KAS), là tổ chức phi chính phủ của Đức, từ
năm 1999. Ý tưởng chính của dự án “quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng
đồng” là phân cấp cho địa phương và lôi kéo sự tham gia đông đảo của những
người sử dụng nguồn lợi vào việc bảo vệ chính những nguồn lợi đó. Dự án
cũng nhằm giúp huyện Cát Hải tìm kiếm giải pháp cho vấn đề quản lý tài
nguyên ven biển bền vững. “Mục tiêu bao trùm: Thực hành mô hình quản lý
nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng để làm sáng tỏ những vấn đề gây tranh
cãi. Khi có điều kiện cho phép, địa phương có thể nhân rộng quản lý nguồn
lợi ven bờ dựa vào cộng đồng trên toàn huyện như một chiến lược bảo toàn
nền tảng tài sản thiên nhiên để đảm bảo phát triển bền vững ”.
Một số kết quả đạt được của mô hình: Nhận thức và năng lực của cộng
đồng từng bước được nâng cao; Thả phao và khai trương khu bảo tồn nguồn
lợi xã Phù Long vào tháng 3/2003; Hội đồng quản lý khu bảo tồn nguồn lợi
với 10 thành viên là các ngư dân và cán bộ địa phương được thành lập do Chủ
nâng cao trách nhiệm, vai trò trong quản lý các nguồn tài nguyên này
(Pomeroy, 1994 và Ahmed, et al 2004 ).
Trên thực tế hoạt động quản lý tập trung của Nhà Nước tỏ ra không có
hiệu quả. Bởi với cơ chế quản lý tập trung Nhà Nước chưa có cơ chế quản lý
rõ ràng, các luật, quy định trong tiếp cận sử dụng mặt nước hiện tại chưa đủ
mạnh để quản lý tốt. Ở hầu hết các cộng đồng hưởng lợi từ những tài nguyên
này ở những mức độ nhất định đã hình thành những cơ chế riêng của họ. Các
hình thức quản lý rất đa dạng thể hiện qua hương ước quy định của cộng
đồng, những quy định, hương ước này hình thành dựa trên tập tục, văn hoá,
của cộng đồng. Chẳng hạn các quy định về vị trí đặt Nò sáo, Đáy hoặc phân
vùng mặt nước lấy rau câu…ở phá Tam Giang chủ yếu do các ngư dân sống
gần phá tự quy định với nhau. Tuy nhiên, những hình thức quản lý này chỉ
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng mặt nước, hạn chế xung đột xảy ra
giữa những người hưởng lợi và thường không đủ hiệu lực để quản lý vấn đề
khai thác quá mức tài nguyên.[6]
18
Các hình thức quản lý của cộng đồng có thể thông qua các tổ chức cộng
đồng tuỳ theo từng giai đọan khác nhau như Vạn, hợp tác xã, tập đoàn ngư
nghiệp Vạn chài đã thành công trong hỗ trợ nhà nước Phong kiến, chính
quyền thuộc Pháp và Chính quyền Sài Gòn cũ (thu thuế): các dẫn liệu lịch sử
cho thấy, về khía cạnh quản lý thủy sản, nhà nước phong kiến đã rất khôn
khéo trong sử dụng Vạn chài, đã biết lợi dụng “Vạn chài” như là một hạt nhân
để quản lý - thậm chí có lúc công nhận như là một đơn vị hành chính cơ sở
như việc thành lập tổng “Võng Nhi” dưới thời vua Tự Đức (1848 - 1883) bao
gồm 13 làng - vạn, hoàn toàn không có đất (Nguyễn Quang Trung Tiến,
1995). Thông qua Vạn chài, nhà nước phong kiến đã thành công trong việc
quản lý ngư dân, thu thuế, tự thỏa hiệp đánh bắt, giải quyết mâu thuẫn v.v với
chi phí thấp và linh hoạt.
Vào thời kỳ tập thể hoá, các khu vực đầm phá được giao cho hợp tác xã
quản lý. Hằng năm các đội hay hợp tác xã ngư nghiệp, theo hướng dẫn của chính
Vinh Phú. Đội hiện nay có ba tổ, mỗi tổ ứng với một thôn của xã. Mỗi tổ có
một tổ trưởng và tổ phó. Những người đó được nhân dân tín nhiệm và bầu ra.
2.2.3. Xây dựng tổ chức ngư dân và trao quyền KT thủy sản
2.2.3.1. Phát triển hệ thống hội Nghề cá Thừa Thiên Huế
Hội nghề cá Thừa Thiên Huế (HUEFIS) được thành lập năm 2003 là tổ
chức xã hội – nghề nghiệp. HUEFIS là thành viên của Hội Nghề cá Việt Nam
(VINAFIS) có phạm vi hoạt động trên toàn quốc.
Đến cuối năm 2009, hội nghề cá tỉnh đã phát triển mạnh về tổ chức,mạng
lưới, thành lập được 54 chi hội với khoảng 4.500 hội viên triển khai nhiều
hoạt động trong các lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng
và chế biến thủy sản.
Với các loại hình vừa đánh bắt vừa nuôi trồng, hoặc đánh bắt hoặc nuôi
trồng, các chi hội nghề cá tập hợp ngư dân ở nhiều quy mô: liên thôn trong
xã, trong thôn hoặc bộ phận ngư dân trong cùng một khu vực sản xuất. Ngoài
ra còn có một chi hội phát triển cộng đồng nghề cá cũng được thành lập với
các thành viên hoàn toàn tự do, là các nhà khoa học, quản lý… với sự hoạch
định chức năng lâu dài của chi hội đặc biệt này là sự giúp đỡ hỗ trợ kỹ thuật
các chi hội nghề cá cơ sở về mọi mặt. Số lượng chủng loại các chi hội nghề cá
trên địa bàn cấp xã rất đa dạng, phụ thuộ vào sự hoạch định của chính quyền
địa phương để thuận lợi trong quản lí thủy sản về sau. Tuy nhiên những tiêu
chí quan trọng như: nghành nghề, hệ sinh thái quần cư Là những căn cứ
20
được xem xét ưu tiên. Một số chi hội được hoạch định trên cơ sở thôn làng,
một số khác theo hệ thống tài nguyên: Nguồn lợi thủy sản cho khai thác tự
nhiên; Đất, nước và khả năng chuyển tải môi trường cho nuôi trồng thủy
sản… Một vài chi hội nghề cá được thành lập trên cơ sở khu vực hệ sinh thái,
các vùng nước trên cơ sở cấp xã. Nhìn chung cơ sở dựa trên quy mô thôn làng
cá được sử dụng chủ yếu, chỉ một số chi hội nghề cá dựa trên quy mô cấp xã
như: Vinh Phú, Phú Vang, Vinh Hiền, Phong Hải, Phong Điền.
Một số các chi hội nghề cá được các dự án trong và ngoài nước hỗ trợ
qy định trong luật pháp của Nhà nước, tỉnh và địa phương. Thông qua đó thực
hiện các biện pháp quản lý nghề cá và nuôi trông thủy sản.[3]
2.2.3.2. Cơ sở pháp lý giao quyền quản lý mặt nước cho chi hội nghề cá
- Theo Luật Thủy sản ngày 26.11.2003, của Quốc hội Việt Nam với nội dung:
Khoản 1 điều 5 “…Nhà nước có chính sách bảo đảm phát triển thủy sản
bền vững; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khai
thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản; bảo đảm tái tạo nguồn lợi thủy sản
và phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng
nước tự nhiên khác ”;
Khoản 3 điều 15 “…Tổ chức cho nhân dân địa phương thực hiện quyền
giám sát, phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trong vùng
khai thác thủy sản…”
Theo Quyết định số 131/2004/QĐ-TTg ngày 16.7.2004 về phê duyệt
Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010 của Thủ
tướng, với nội dung: “…Xây dựng các mô hình tổ chức quản lý vùng biển ven
bờ phù hợp với tập quán, truyền thống của ngư dân địa phương. Đồng thời
phát huy và nâng cao vai trò của cộng đồng ngư dân trong hoạt động quản lý,
bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản…”.
Theo Nghị định số123/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 Về quản lý hoạt
động khai thác thuỷ sản của tổ chức cá nhân Việt Nam trên các vùng biển của
Chính Phủ về :
" Khoản 6 Điều 10. Trách nhiệm của Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn)
Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ
cho ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp khai thác ven bờ sang các nghề khác;
quản lý dựa vào cộng đồng đối với vùng biển ven bờ; nội dung pháp luật liên
22
quan đến hoạt động khai thác thủy sản phục vụ công tác tuyên truyền, giáo
dục pháp luật ở địa phương".
Khoản 4 điều 12. Trách nhiệm của UBND các tỉnh: “…Phân cấp quản
Nghiên cứu khoa học và đào tạo trong Khu bảo tồn biển; d) Dịch vụ du lịch sinh
thái trong các Khu bản tồn biển…….".
- Theo Công văn số 1700 /BNN-KTBVNL ngày 16.06.2009 Về việc
thực hiện Đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ của Bộ Nông nghiệp và PTNT,
về việc Thúc đẩy các hoạt động triển khai thực hiện mô hình đồng quản lý
nghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam.
24
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Cán bộ quản lý cấp xã, chi hội nghề các
cấp cớ sở( BCH chi hội, hội viên của chi hội) với các hoạt động liên quan đến
quản lý KT&NTTS, các hoạt động KT&NTTS của các hội viên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động ĐQL của chi hội nghề cá
Đội 16 xã Vinh Phú huyện Phú Vang.
Phạm vi thời gian: Thông tin được thu thập qua 3 năm từ 2008-2010.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu.Đặc điểm của hộ khai thác
thủy sản ở xã Vinh Phú
Tiến trình xây dựng mô hình đồng quản lý ở xã Vinh Phú.
Hoạt động của mô hình đồng quản lý ở xã.
Tìm hiểu và đánh giá kết quả ban đầu của mô hình
Những thuận lợi và khó khăn của người dân trong quá trình xây dựng mô hình.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
Điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu được chọn là xã thuộc vùng ven phá Tam Giang -
Cầu Hai, là xã Vinh Phú, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đảm bảo
các tiêu chí sau