Đánh giá tổng quan các mô hình đồng quản lý trong ngành thủy sản đã triển khai tại việt nam - Pdf 22

MỤC LỤC
A. LỜI NÓI ĐẦU 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
B. PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 6
1.1. Khái quát chung về ĐQL nghề cá, quản lý nghề cá dựa vào cộng
đồng 6
1.1.1. Thuật ngữ “cộng đồng” ? 6
1.1.2. ĐQL nghề cá ? 6
1.1.3. Các đặc điểm 12
1.1.4. ĐQL là một quá trình 13
1.1.5. Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là gì ? ………………………….13
1.2. Các bài học kinh nghiệm thực tế từ các nước 16
1.2.1. Các kiểu ĐQL nghề cá 16
1.2.2. Một số kinh nghiệm và bài học từ thực tế triển khai ĐQL ở các nước
đang phát triển 19
1.2.2.1. Cần phải trao quyền cho cộng đồng trong việc xác định mục tiêu
quản lý: 19
1.2.2.2. Tích hợp tri thức địa phương vào quá trình ra quyết định trong
ĐQL 20
1.2.2.3. ĐQL và những xung đột nguồn lợi nghề cá 20
1.2.2.4. Vấn đề quy mô 21
1.3. Nghề cá Việt Nam và những vấn đề bất cập 22
1.3.1. Tiềm năng nguồn lợi 22
1.3.2. Tình hình khai thác, nuôi trồng và vấn đề môi trường trong lĩnh vực
thủy sản 23
1.3.3. Sự cần thiết phải áp dụng phương thức ĐQL trong lĩnh vực thủy sản 25
1.4. Sơ lược về tình hình triển khai và thực hiện mô hình ĐQL nghề
cá/quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 26
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28

3.6.3. Nâng cao năng lực và nhận thức 73
3.6.4. Giải pháp về nhân rộng: 74
3.6.5. Phát triển các tổ chức đại diện cho cộng đồng 74
3.6.6. Giải pháp về tổ chức 75
C. KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
A. Tài liệu tiếng Việt 82
B. Tài liệu tiếng Anh Error! Bookmark not defined.
3
A. LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km với vùng biển đặc quyền kinh tế
rộng hơn 1 triệu km
2
, hệ thống sông, hồ, ao, ruộng trũng phân bố khắp đất
nước đã tạo cho Việt Nam có một tiềm năng diện tích mặt nước và nguồn lợi
thủy sản phong phú, tiền đề cho phát triển một ngành thủy sản toàn diện.
Trong suốt hai thập kỷ qua, ngành thuỷ sản đã đạt được những thành
tựu quan trọng về sản lượng, giá trị sản lượng, giá trị xuất khẩu, giải quyết
việc làm cũng như góp phần xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh những thành tựu
đó, ngành thuỷ sản cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức cho sự phát
triển bền vững: nguồn lợi ven bờ suy giảm
1
, môi trường sinh thái bị đe dọa
bởi sự suy thoái, mâu thuẫn xảy ra giữa các nghề thủy sản với nhau, mâu
thuẫn giữa nghề thủy sản và các nghề kinh tế khác (nông nghiệp, du lịch,
công nghiệp …), nhất là đối với vùng nguồn lợi thủy sản ven bờ, tuyến bờ và
tại các vùng nước nội địa có hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS), khai thác
thủy sản (KTTS); trình độ ngư dân ven biển thấp, hiệu quả khai thác thấp, đời
sống ngư dân ngày càng khó khăn; trong khi đó nguồn lực cho quản lý còn
rất hạn chế cả về nhân lực và vật lực. Những thách thức này luôn là mối quan

thức ĐQL. Đồng thời chia sẽ và nhân rộng các bài học kinh nghiệm nhằm
phát triển mô hình đồng quản lý một cách thành công và bền vững.
Mục tiêu của đề tài nhằm:
- Về khoa học: Kết quả đánh giá làm cơ sở khoa học cho việc xây
dựng chiến lược về ĐQL nghề cá hay quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng tại
Việt Nam.
- Về kinh tế
- Việc sử dụng các kết quả này để xây dựng, phát triển mô hình ĐQL
nghề cá hay quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng nhằm góp phần phục hồi
nguồn lợi ven bờ và hiệu quả khai thác sẽ được nâng cao nhằm hướng đến
một nghề cá bền vững.
Luận văn được thể hiện trong 4 phần:
A. Lời mở đầu
B. Phần nội dung
- Chương 1. Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu
- Chương 2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3. Đánh giá tổng quan
C. Kết luận
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
KTTS
Khai thác thủy sản
ĐQL
Đồng quản lí
QLDVCĐ
Quản lý trên cơ sở/dựa vào cộng đồng
SCAFI
Dự án Hợp phần Tăng cường Quản lí Khai thác thuỷ sản

ngư cụ đánh bắt giống nhau hoặc những người mà trong khi không sống
trong một cộng đồng địa lý đơn lẻ, sử dụng công cụ giống nhau hoặc cùng
chung mối quan tâm trong một nghề cá đặc trưng [20, tr 17].
1.1.2. ĐQL nghề cá.
a. Định nghĩa
- Thuật ngữ ĐQL/quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
(ĐQL/QLNCDVCĐ) là một khái niệm đã được biết đến khoảng 1/4 thế kỷ
cách đây và trở thành vấn đề nóng trong lĩnh vực nghề cá những năm gần
đây. Nó đã xuất hiện ở hệ thống nghề cá các nước như: Tây Ban Nha, Pháp,
hệ thống quản lý nghề cá Lofoten, Nauy, hệ thống Panchayat của Ấn Độ,
Nhật Bản, Inđônexia. Và đến nay nó đã có ở hầu hết các nước trên thế giới cả
các nước phát triển và đang phát triển.
- Khái niệm ĐQL lần đầu tiên được Kearney (1984) nhắc đến với một
ý nghĩa sơ sài về sự hợp tác trong quản lý nguồn lợi cá trích tại vùng biển
Canada. Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là Jentoft (1989) và
Pinkerton (1989) đã phát triển khái niệm này dưới góc độ xã hội học và thể
chế. Khung phân tích và những hướng dẫn thiết lập ĐQL được Oakerson
(1992) và Tổ chức các nước phát triển OECD (1996) xây dựng. Phân loại
ĐQL đã được Sen và Raakjaer Nielsen (1996) giới thiệu. Khái niệm ĐQL đã
được sử dụng như là một cách thiết lập cơ chế về quản lý nguồn lợi, mà
không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các trường hợp cụ thể.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐQL và đã được các nhà khoa học
đưa ra thông qua các kết quả nghiên cứu, triển khai mô hình ở nhiều quốc gia
trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
- ĐQL được hiểu như là sự chia sẻ trách nhiệm quản lý giữa các cơ
quan nhà nước và người sử dụng nguồn lợi (cộng đồng) thông qua các
7
hình thức hợp tác. Ngân hàng thế giới định nghĩa ĐQL “là sự chia sẻ trách
nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia, cụ thể, đó là cộng đồng địa
phương và nhà nước: là một cách phi tập trung hóa quá trình ra quyết định

chức, lãnh đạo, kiểm soát, tự quyền tự trị và sự tham gia (Jentoft, 1989). Các
đặc điểm tương ứng với các hệ thống quản lý được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1. Các đặc điểm chính của hệ thống quản lý nghề cá [28, 47]
Các hệ thống quản lý nghề cá
TT
Các đặc điểm
Chính phủ
ĐQL
Cộng đồng
1
Khởi xướng
Trung ương
Giao quyền
Địa phương
2
Tổ chức
Qui ước
Qui ước
Không qui ước
3
Lãnh đạo
Cấp bậc
Tham gia
Cùng điều chỉnh
4
Kiểm soát
Trung ương
Giao quyền
Giao quyền
5

ảng lý dựa v
ào Chính ph

Quản lý dựa vào cộng đồng
9
Hình 2: ĐQL là sự cộng tác giữa các bên
b. Các kiểu đồng quản lý
- Tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, chính trị xã hội, văn hoá, tập tục
của cộng đồng và mức độ tham gia của các bên (nhà nước và cộng đồng) mà
sẽ xác lập loại hình ĐQL hay là mức độ ĐQL của các bên tham gia. Các mô
hình ĐQL đã được xây dựng trên thế giới rất khác nhau, không có một hình
mẫu chung cho tất cả. Sen & Raakjaer Nielsen (1996) đã phân chia ĐQL
thành 5 kiểu [35, p 406] khác nhau tùy thuộc vào mức độ tham gia của cộng
đồng và nhà nước (Hình 3).
10
Hình 3. Các kiểu ĐQL và quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
(Pomeroy, Sen & Raakjaer Nielsen, L T N Hùng)
(1) Truyền đạt (Instructive): Lượng thông tin được trao đổi giữa nhóm
sử dụng và nhà nước là ít nhất.
(2) Tham vấn (Consultative): Đây là kiểu cơ chế có sự tham khảo ý
kiến của người sử dụng nhưng mọi quyết định vẫn thuộc quyền của nhà
nước.
(3) Hợp tác (Cooperative): Chính quyền và ngư dân hợp tác cùng nhau
trên cơ sở là các bên tham gia bình đẳng để đưa ra quyết.
(4) Tư vấn (Advisory): Ngư dân làm tư vấn cho chính phủ trong quá
trình ra quyết định đồng thời chính phủ bảo trợ cho việc thực thi các quyết
định này.
(5) Thông tin (informative): Chính phủ ủy quyền toàn bộ quá trình ra
quyết định cho người sử dụng, và người sử dụng chỉ có trách nhiệm thông
báo lại các quyết định của mình.

11
cần thiết. Ngược lại, với kiểu ĐQL thiên về cộng đồng thì nhà nước lại giữ
vai trò rất hạn chế. Quá trình ra quyết định thuộc về cộng đồng. Nhà nước chỉ
đóng vai trò tư vấn hoặc thậm chí chỉ là người nhận thông tin sau khi đã có
quyết định từ phía cộng đồng.
- ĐQL không có nghĩa là giao phó toàn bộ nguồn lợi cho cộng đồng
mà ở đây nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập và
vận hành các thiết chế quản lý. Vai trò của nhà nước thể hiện ở 3 khía cạnh
sau (Jentoft, 1989): (1) Đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lợi: nếu
thiếu vắng sự kiểm soát của nhà nước, nguồn lợi chung sẽ rơi vào tình trạng
“tự do đánh bắt” như Hardin (1968) đã mô tả; (2) Đảm bảo tính công bằng:
nhà nước đóng vai trò như là điều phối viên để cho các nhóm sử dụng khác
nhau, nhất là nhóm người sử dụng nguồn lợi cho mục đích sinh kế, có cơ hội
được khai thác nguồn lợi như nhau; (3) Vai trò quản lý hành chính: chỉ có
nhà nước mới đủ năng lực để đảm bảo các quy định được thực thi.
Việc phân chia như trên là một sự đơn giản hóa thực tế các kiểu ĐQL.
Trong thực tế các kiểu ĐQL rất đa dạng. Vai trò của nhà nước và của các bên
tham gia, nhất là nhóm sử dụng nguồn lợi, trong quá trình ra quyết định, các
công việc quản lý, và các giai đoạn quản lý sẽ quyết định đến kiểu ĐQL.
- Vai trò của nhà nước và nhóm sử dụng trong quá trình ra quyết
định: Tình huống lý tưởng của ĐQL là nhà nước và nhóm sử dụng cùng hợp
tác bình đẳng trong mọi công việc quản lý và ở mọi giai đoạn của quá trình
quản lý. Tuy nhiên, trong phần lớn mô hình ĐQL thì vai trò của nhà nước và
nhóm sử dụng là khác nhau. Jontoft & McCay (1995) phát hiện thấy vai trò
của nhóm sử dụng trong quá trình ra quyết định phụ thuộc vào việc họ đại
diện cho ai và đại diện như thế nào. Có 2 kiểu đại diện mang tính chức năng:
Một loại dựa vào loại ngư cụ đánh bắt hay vùng đánh bắt, và một dựa vào địa
lý. Thông thường trong các nước đang phát triển cũng như phát triển, có 2
kiểu đại diện của nhóm sử dụng là dựa trên các yếu tố kinh tế xã hội như:
giới tính, tôn giáo hay tộc người. Vai trò của nhóm sử dụng trong quá trình ra

nếu toàn bộ công việc thiết kế được làm tập trung thay vì đưa xuống để chờ
các bên cùng hợp tác. Ngược lại, các giai đoạn thực hiện, giám sát, và chế tài
sẽ tốn kém hơn nếu thực hiện theo hướng tập trung (tức không có sự tham gia
tích cực của nhóm sử dụng) vì khi đó người sử dụng sẽ không thấy tính chính
đáng trong các quy định và thực hiện. Ngược lại, trong trường hợp thiếu
thông tin, ngư dân sẽ là người cung cấp nhiều thông tin trong quá trình hoạch
định và thực hiện, và do đó sẽ làm giảm chi phí giao dịch.
1.1.3. Các đặc điểm
Sự tham gia của các bên liên quan
- Sự tham gia chia sẻ của cộng đồng sẽ tạo ra tính chính đáng
(legitimacy) của các quy định quản lý, ít nhất, theo Jentoft (1989) trên 4 góc
độ sau: (1) Nội dung của các quy định sẽ phù hợp và sát với những vấn đề
cộng đồng đang gặp phải, đối mặt; (2) Các quy định cộng đồng phải tuân
theo sẽ có tính bình đẳng hơn; (3) Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra
quyết định sẽ giúp họ nâng cao nhận thức; (4) Cộng đồng sẽ dễ dàng chấp
nhận những quy định ràng buộc khi mà họ là người trực tiếp tham gia xây
dựng và thực thi chúng.
Bình đẳng và công bằng xã hội
- Thông qua ĐQL, người ta có thể tìm thấy sự bình đẳng và công bằng
xã hội trong quản lý nghề cá. Bình đẳng và sự chia sẻ quyền bình đẳng giữa
chính quyền, ngư dân và các bên tham gia khác. Bình đẳng và công bằng xã
hội mang lại quyền và sự tham gia chủ động trong việc lập kế hoạch và thực
hiện ĐQL nghề cá.
ĐQL và sở hữu chung [20, tr 20]
- Có 4 loại chế độ quyền sở hữu: 1. Sở hữu nhà nước: Chỉ với phạm vi
quyền lực của chính phủ và quyền điều tiết tập trung; 2. Sở hữu tư nhân: Với
tư hữu hóa các quyền thông qua việc thiết lập quyền sở hữu cá nhân hoặc sở
13
hữu công ty; 3. Sở hữu tập thể/sở hữu cộng đồng: trong đó nguồn lợi được
kiểm soát bởi cộng đồng những người sử dụng hoặc tập thể, các quy định có

Nó cũng sẽ mất từng đó thời gian để cho các bên tham gia chú trọng mối
quan tâm về tính pháp lý, độ tin tưởng, trách nhiệm và tính minh bạch.
1.1.5. Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là gì ?
- Là một quá trình cùng nhau dàn xếp (điều chỉnh) với qui tắc “không
viết thành văn” và được thực hiện thông qua sự đồng thuận (thừa nhận)
không chính thức [2, p 48].
- Quản lý nguồn lợi ven biển trên cơ sở cộng đồng là cộng đồng nhận
trách nhiệm tự quản lý nguồn lợi ven biển được giao trong việc giám sát và
thực hiện các quy định quản lý không trái với pháp luật hiện hành
(IFEP&ICLARM, 1999).
14
- QLDVCĐ là quá trình quản lý trong đó cộng đồng có quyền và trách
nhiệm chính trong lập kế hoạch, đưa ra quyết định, quy định, giám sát và
thực hiện việc sử dụng bền vững nguồn lợi” ” [16, tr5].
Trong Hình 1, Bảng 1 thể hiện rất rõ, khi nhà nước ít can thiệp trong
quá trình ra quyết định, các công việc quản lý, và các giai đoạn quản lý,
tức là quá trình QLDVCĐ là chính. Theo phân loại của Sen, Raakjaer
Nielsen, kiểu ĐQL thông tin (Hình 3) chính là quản lý dựa cộng đồng. Nghĩa
là, chính phủ ủy quyền toàn bộ quá trình ra quyết định cho người sử dụng, và
người sử dụng chỉ có trách nhiệm thông báo lại các quyết định của mình.
- Đã có nhiều tranh cãi về sự giống nhau và khác nhau của ĐQL và
QLDVCĐ, sự khác nhau này tập trung vào mức độ và thời gian tham gia
quản lý của chính quyền và người dân trong quá trình quản lý. QLDVCĐ là
phương pháp lấy người dân làm trung tâm, đặt trọng tâm vào cộng đồng;
trong khi ĐQL tập trung vào những vấn đề này cộng thêm việc sắp xếp phối
hợp giữa chính quyền và cộng đồng của những người sử dụng nguồn lợi; bên
cạnh đó, qui trình quản lý nguồn lợi cũng được tổ chức khác nhau [19, tr 26].
- ĐQL có phạm vi và qui mô rộng hơn QLDVCĐ, nó tập trung vào vào
cả bên trong và bên ngoài cộng đồng. Chính quyền có thể đóng vai trò thứ
yếu trong QLDVCĐ; ngược lại, ĐQL từ định nghĩa trên cho thấy chính

vai trò tích cực và quan trọng trong ĐQL (Hình 1, Hình 3).
Trong thực tế, tại các điểm đến thăm quan nghiên cứu về mô hình
ĐQL/QLDVCĐ ở Nhật Bản (2002), Malaysia (2007), gần đây nhất vào năm
2006 ở Lào và Thái Lan cũng cho thấy chưa có sự phân biệt rõ đâu là mô
hình QLTCSCĐ, đâu là mô hình ĐQL. Ở Việt Nam hiện nay, các mô hình
đang được gọi là mô hình ĐQL hay QLTCSCĐ hay có sự tham gia của người
dân/cộng đồng… đều có các hoạt động giao quyền quản lý cho người dân sử
dụng vùng nước đó, đều có sự tham gia của cấp quản lý tại địa phương
(Phòng Thủy sản, UBND xã) và có thể có sự tham gia của các hiệp hội xã hội
(hội phụ nữ), các hiệp hội nghề nghiệp (hội nông dân, nghề cá), đều có sự hỗ
trợ của các cơ quan (viện, trung tâm), các ngành liên quan (công an, dân
phòng, ), các tổ chức quốc tế ở những mức độ khác nhau trong mỗi mô
hình. Có sự khác biệt tương đối, nhưng cũng không rõ nét, ở đây là một số
mô hình có sự tham gia nhiều hơn và tích cực hơn của chính quyền các cấp
cũng như các cơ quan liên quan trong các hoạt động quản lý.
Trên cơ sở tìm hiểu những định nghĩa đã có về ĐQL và quản lý trên cơ
sở cộng đồng, kết hợp với thực tế diễn ra tại các địa điểm nghiên cứu ở Việt
Nam và một số nước đang phát triển có thể,
Kết luận
- Không có sự phân biệt rạch ròi giữa các mô hình ĐQL và QLDVCĐ.
Có sự khác biệt tương đối ở đây là các mô hình ĐQL có sự tham gia nhiều
hơn và tích cực hơn của chính quyền các cấp cũng như các cơ quan liên quan
trong các hoạt động quản lý, ngược lại QLDVCĐ sự tham gia của chính
quyền các cấp ít hơn.
- QLDVCĐ là nhân tố trung tâm của ĐQL và con đường dẫn đến
ĐQL.
- ĐQL không chỉ dừng lại trong lĩnh vực quản ý nguồn lợi thuỷ sản
mà còn mở rộng ra trên các lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất (thực hiện
đúng quy trình nuôi trồng thuỷ sản, giảm ô nhiễm môi trường), tín dụng
(Ngân hàng cộng đồng), kinh doanh tiêu thụ sản phẩm (Chợ cá cộng đồng).

trung ở chỗ nó tạo ra cơ chế đối thoại với người sử dụng. Tuy nhiên, quá
trình chỉ dừng lại ở mức độ là nhà nước thông tin xuống cho cộng đồng
những quyết định sẽ được thực thi. Hay nói cách khác, cộng đồng không
được tham gia vào quá trình ra quyết định. Ví dụ:
+ Bangladesh - Nghề cá nước ngọt: Từ năm 1986, nhằm gia tăng hiệu
quả sử dụng và sự bình đẳng trong nghề cá nước ngọt, chính quyền
Bangladesh đã chuyển hình thức quản lý. Các diện tích mặt nước ngọt trước
đây hoàn toàn cho các cai thầu thuê thì nay chuyển cho ngư dân có thể trực
tiếp khai thác và quản lý. Điểm khác trong cách quản lý mới này là vai trò
của các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các NGOs đóng vai trò là người đại
diện cho ngư dân để thuê dài hạn hơn 800 vùng nước và chuyển giao lại cho
các thành viên (ngư dân) theo hình thức hợp tác xã để họ đánh bắt. Các
NGOs đảm nhiệm tất cả các quyết định liên quan đến quản lý và tài chính,
các thành viên chỉ là người cung cấp các yếu tố đầu vào (lao động). Như vậy
theo hình thức quản lý này thì chính phủ (và NGOs) đóng vai trò tổ chức và
truyền đạt hơn là hợp tác.
17
Ví dụ trên thuộc mô hình ĐQL theo kiểu Truyền đạt, mọi quyết định
liên quan đến nghề cá đều do chính phủ (cơ quan đại diện) thực hiện mặc dù
người sử dụng nguồn lợi có tham gia trong quá trình quản lý.
- Tham vấn (Consultative): Đây là kiểu cơ chế có sự tham khảo ý
kiến của người sử dụng nhưng mọi quyết định vẫn thuộc quyền của nhà
nước, điển hình là:
+ Hồ Malombe – Malawi: Đứng trước vấn đề khai thác quá mức các
loài thủy sản thuộc hồ Malombe, năm 1993 chính phủ Malawi triển khai
chương trình quản lý đánh bắt có sự tham gia nhằm khuyến khích sự tham gia
tích cực của người dân sống quanh hồ. Các Hội đồng đại diện cho cộng đồng
ngư dân ven hồ được thành lập. Nhân viên khuyến ngư tiến hành tập huấn
cho thành viên các hội đồng về cơ sở sinh học của các quy định đánh bắt, và
cùng tham gia vào việc xây dựng năng lực thể chế quản lý. Các quy định

18
dụng (các nhà chế biến và người tiêu dùng); hai ban còn lại bao gồm các nhà
khoa học và các nhà kinh tế. Trong quá trình lên kế hoặch xây dựng chương
trình hạn chế cấp phép mới đối với nghề cá đáy vùng duyên hải miền Tây,
người sử dụng đóng vai trò tích cực trong suốt quá trình thiết kế và phát triển
chương trình. Với kiểu này, chính phủ và người sử dụng hợp tác một cách
bình đẳng trong quá trình ra quyết định.
- Tư vấn (Advisory): Người sử dụng tư vấn chính phủ trong quá trình
ra quyết định đồng thời chính phủ bảo trợ cho việc thực thi các quyết định
này. Quy định ngày trên biển vùng Kattegat, Đan Mạch: Quy định này
mang tính thử nghiệm nhằm giải quyết vấn đề liên quan đến vứt bỏ cá tạp và
không báo cáo phát sinh do áp dụng hệ thống Hạn ngạch đánh bắt và những
bất đồng giữa các nhà khoa học với ngư dân trong việc ước lượng trữ lượng
nguồn lợi. Trước những phản đối của ngư dân, các cuộc đối thoại liên quan
đến quản lý nghề cá giữa chính phủ và ngành khai thác đã dẫn đến việc thành
lập một nhóm làm việc. Các đại diện từ phía chính phủ, ngư dân trong hiệp
hội đánh bắt, và viện nghiên cứu gặp nhau hàng tháng dưới dạng nhóm làm
việc để đưa ra các quyết định liên quan đến số ngày được phép đi biển cũng
như tổng kết quá trình thực hiện. Tất cả những quyết định này phải được
thông báo cho Ban Tư vấn Quy định của Đan Mạch, nó như một ban tham
vấn chuyên tư vấn cho Bộ trưởng. Tuy nhiên, các đề nghị đưa ra bởi nhóm
làm việc hầu như đều được chấp nhận. Đây là một kiểu ĐQL dạng tư vấn.
- Thông tin (informative): Chính phủ ủy quyền toàn bộ quá trình ra
quyết định cho người sử dụng, và người sử dụng chỉ có trách nhiệm thông
báo lại các quyết định của mình.
+ Nghề khai thác cá Hà Lan: Năm 1993, ĐQL được thiết lập đối với
nghề cá sau khi xẩy ra tình trạng đánh bắt vượt mức hạn ngạch cho phép và
quan hệ giữa chính phủ với ngư dân ngày càng xấu đi. Trách nhiệm quản lý
hạn ngạch đánh bắt cá nhân (ITQs) của ngư dân được giao cho các nhóm ngư
dân có góp hạn ngạch đánh bắt. Tất cả các thành viên nhóm đều phải thuộc

1.2.2. Một số kinh nghiệm và bài học từ thực tế triển khai ĐQL ở
các nước đang phát triển [23, p 81- 188; 36, p 154-158]
Trong bước thực hiện ĐQL đòi hỏi phải có sự hoạch định chu đáo, nỗ
lực và hợp tác chặt chẽ giữa các bên để đi đến thành công. ĐQL thực chất là
một đáp ứng về mặt thể chế được hình thành thông qua quá trình đàm phán
giữa các nhóm liên quan trong mối quan tâm đến phân bổ nguồn lợi và tính
đại diện. ĐQL không thể xẩy ra nếu không có thể chế hoặc chỉ dựa vào thể
chế sẵn có; và càng không thể sử dụng quyền lực để áp đặt sự hình thành thể
chế mới. ĐQL do vậy sẽ không thể là quá trình tranh giành giữa các bên tham
gia để bảo vệ quyền lợi cho riêng mình. Một số bài học kinh nghiệm sau đây
được rút ra từ thực tế áp dụng ĐQL tại các nước ĐNA và các nước Nam Phi.
1.2.2.1. Cần phải trao quyền cho cộng đồng trong việc xác định mục
tiêu quản lý:
Kinh nghiệm từ các nước ĐNA và Nam Phi cho thấy, các cộng đồng
trong ĐQL thường là những cộng đồng chức năng (functional communities).
Quyền và nghĩa vụ được giao xuống cho các cộng đồng chức năng này. Các
cộng đồng chức năng được xác định dựa trên đặc điểm của ngư cụ (tức cùng
loại ngư cụ như nhóm lưới rê, nhóm lưới vây) hoặc dựa trên đối tượng đánh
bắt (tôm, cá, hai mảnh vỏ…), hoặc dựa vào ngư trường đánh bắt. ĐQL đòi
hỏi một sự ủy quyền rõ ràng của chính phủ, và đây như là sự chia sẻ quyền
lực của chính phủ đối với cộng đồng hay chính quyền địa phương.
Để cho ra đời và phát triển một mô hình ĐQL, cần có sự bàn luận giữa
chính phủ và ngư dân để xác định vấn đề và tìm ra giải pháp, đồng thời cùng
nhau xây dựng thể chế và bộ máy quản lý. Trong quá trình thảo luận, ngư dân
cần được khuyến khích trình bày những vấn đề mà họ quan tâm, ý tưởng, và
cho họ cơ hội tự xây dựng bộ máy quản lý của chính họ, từ đó hình thành
nên những mạng lưới gắn kết thuận lợi cho hợp tác và liên kết. Vai trò của
chính phủ trong việc thiết lập điều kiện để hình thành ĐQL là tạo ra tính
chính đáng và tin cậy của các tổ chức và thể chế. Kinh nghiệm từ
20

các nhà khoa học xác định theo cách lấy mẫu, sau đó hai bên đối chiếu, kiểm
tra và đưa ra kết quả cuối cùng rất hữu dụng. Nhiều phương pháp nuôi hiệu
quả đã được xây dựng trong hơn 4 thập kỷ qua là dựa vào những hiểu biết về
sinh học của dân gian hay kinh nghiệm của địa phương. Ở các nước phát
triển, các chương trình hợp tác giữa ngư dân và các nhà khoa học từ khâu đưa
ra giả thiết đến giai đoạn đánh giá kết quả tỏ ra rất thành công. Nhiệm vụ của
các nhà thiết kế ĐQL là phải tích hợp được những tri thức bản địa và kinh
nghiệm dân gian với những tri thức khoa học trên cơ sở các nghiên cứu trở
thành những cơ sở chung cho quá trình ra quyết định quản lý.
1.2.2.3. ĐQL và những xung đột nguồn lợi nghề cá
- Bài học đầu tiên của bất cứ nhà quản lý nghề cá nào là quyết định bảo
tồn và quyết định phân bổ nguồn lợi là một. Nghĩa là không thể có một giải
pháp bảo tồn nguồn lợi mà lại không làm lợi cho nhóm này hơn so với nhóm
21
khác. ĐQL đôi khi được biết đến là do xuất phát từ mong muốn tìm ra một cơ
chế để phân bổ việc tiếp cận nguồn lợi. Nhiều biện pháp quản lý được lựa
chọn chỉ vì tính khả thi về mặt chính trị, chẳng hạn việc áp dụng các giải
pháp kỹ thuật (mắt lưới, loại ngư cụ, loài mục tiêu…) là dễ dàng vì nó tác
động đến tất cả ngư dân theo cùng một cách, trong khi đó hạn ngạch hay
vùng cấm đánh bắt sẽ tác động không giống nhau đến các ngư dân khác nhau.
Điều này cần lưu ý trong việc thiết lập ĐQL.
- ĐQL đôi khi được ca ngợi vì nó giúp giải quyết xung đột bằng cách
tạo ra cơ chế đối thoại và xác định được biện pháp quản lý phù hợp. Nghiên
cứu các mô hình ĐQL hiện có cho thấy, xung đột đôi khi là động lực để ngư
dân tham gia ĐQL. Các nỗ lực trong ĐQL sẽ làm tăng ảnh hưởng của chính
phủ lên cộng đồng ngư dân. Cộng đồng có thể lợi dụng sự gia tăng quyền lực
này để gạt bỏ những đối tượng bên ngoài.
- Trong nhiều nghề cá có xung đột giữa các nhóm có loại phương tiện
đánh bắt khác nhau, thông thường nhất là xung đột giữa nhóm ngư dân đánh
bắt có quy mô lớn, mang tính công nghiệp với nhóm có quy mô nhỏ, thủ

Nielsen (2004) đã chỉ ra, để áp dụng ĐQL ở quy mô lớn thì một số nguyên
tắc thiết kế mang tính chuẩn như sau cần được tuân thủ: Xác định rõ ràng
vành đai cho vùng áp dụng; sự tương thích giữa quy định đưa ra với điều kiện
địa phương; việc thiết lập phải mang tính lựa chọn tập thể; tiêu chuẩn giám
sát; hình phạt phải được quy định; cơ chế giải quyết xung đột; và sự xác nhận
tối thiểu về các quyền quy định. Kinh nghiệm từ Philipine và Bangladesh cho
thấy ĐQL có thể thành công ở quy mô lớn. Trong trường hợp của Bangladesh
cần phải ghi nhận vai trò quan trọng của các NGOs.
1.3. Nghề cá Việt Nam và những vấn đề bất cập
1.3.1. Tiềm năng nguồn lợi
Việt Nam là một quốc gia biển vừa có núi, sông hồ, đồng bằng châu
thổ, vừa có biển đảo. Đặc trưng phân hoá lãnh thổ như vậy đã tạo ra cho đất
nước ta tính đa dạng về cảnh quan thiên nhiên và các thuỷ vực đặc trưng cho
môi trường nước ngọt, lợ và mặn. Đó là những tiền đề quan trọng đối với khả
năng phát triển một ngành thuỷ sản mạnh và đa dạng. Thuỷ sản nước ta có
thể phát triển ở tất cả các loại hình mặt nước và trên các vùng tự nhiên - sinh
thái khác nhau từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo. Vì
thế, sản xuất thuỷ sản cũng là một nghề có truyền thống lâu đời, rất gần gũi
với người dân ở các vùng nông thôn ven biển, vùng sâu, vùng xa; là chỗ dựa
sinh kế cho các cộng đồng dân cư, đặc biệt người dân nghèo.
Nguồn lợi hải sản
Số liệu gần đây nhất do Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng công bố,
tổng trữ lượng hải sản biển Việt Nam là 5.075.143 tấn, khả năng khai thác là
2.147.444tấn. (Phụ lục 1).
Bên cạnh nguồn lợi cá, biển Việt Nam còn có một trữ lượng đáng kể
về nguồn lợi tôm, mực, cua, nhuyễn thể, rong câu …
Nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt
Theo thống kê, Việt Nam có khoảng trên 2.372 con sông có dòng chảy
thường xuyên và có chiều dài trên 10 km. Có 13 hệ thống sông lớn có diện
tích lưu vực trên 10.000 km

tích đất cát có thể sử dụng cho nuôi thuỷ sản, khoảng 20.000 ha và một số
vùng nước ven các đảo và bãi ngang. Diện tích mặt nước ngọt có khả năng
đưa vào nuôi trồng thủy sản khoảng 910.000 ha với nhiều loại hình mặt nước:
ao hồ nhỏ, ruộng trũng, mặt nước lớn …
1.3.2. Tình hình khai thác, nuôi trồng và vấn đề môi trường trong lĩnh
vực thủy sản
Giá trị xuất khẩu tăng liên tục và khá vững chắc: năm 1985 cả nước chỉ
xuất khẩu được 90 triệu USD, đến năm 2005 – 2.740 triệu USD và năm 2008
đạt hơn 4,51 triệu USD, tăng khoảng hơn 50 lần. Đưa Việt Nam lên vị trí 10
nước xuất khẩu thuỷ sản nhiều nhất thế giới. Kéo theo đó là khả năng thu hút
lao động nghề cá, từ 740 ngàn lên đến 5 triệu người. Cơ cấu lao động cũng
thay đổi rõ rệt, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản nước lợ
và khai thác ven bờ, gần đây chuyển mạnh ra khai thác xa bờ cùng với số
lượng lớn tàu và ngư dân. Bên cạnh những thành tựu phát triển, ngành thủy
sản vẫn phải đang đối mặt với một trong những vấn đề quan trọng để đảm
bảo phát triển bền vững đó là bảo vệ môi trường sinh thái và nguồn lợi thủy
sản.
Khai thác thủy sản:
Tính đến cuối tháng 9/2008, tổng số tàu thuyền cả nước khoảng
101.000 chiếc, tương ứng với tổng công suất hơn 5 triệu cv, trong đó: khoảng
86.600 chiếc khai thác hải sản (chiếm 85,7%) và 14.400 chiếc khai thác thuỷ
sản ở nội địa ( chiếm 14,3%). Trong số tàu khai thác hải sản có 14.600 chiếc
có công suất > 90 cv chiếm 16,85 % tập trung các nghề lưới kéo 7.673 chiếc
(chiếm 53%); Nghề lưới vây 2.043 chiếc, chiếm 13%; Nghề câu, 2.072 chiếc
(câu mực và câu cá ngừ đại dương), chiếm 14% và Nghề lưới rê, 1.431 chiếc
(chiếm 10%), phân bố hầu hết các tỉnh; các nghề khác (chụp mực, vó mành,
đăng đáy.) 1.430 chiếc (10%).
- Nhóm tàu có công suất nhỏ hơn 90cv, tổng số khoảng 72.000 tập
trung các nghề: lưới rê, câu, mành, vó, vây, chụp mực, lưới kéo (tập trung
kéo tôm ở vùng biển ven bờ, tuyến lộng) và các nghề te, xiệp, các nghề cố

như xung điện, chất nổ, đăng đáy có kích thước mắt lưới quá nhỏ. Bên cạnh
đó môi trường sống tự nhiên của các loài thuỷ sản nước ngọt cũng bị ô nhiễm
mạnh do chất thải của hoạt động công nghiệp, chất thải từ trồng trọt.
Theo số liệu thống kê (DECAFIREP), trong 3 năm 1998 – 2000, lực
lượng kiểm soát liên ngành đã bắt 149 trường hợp buôn bán và vận chuyển
chất nổ, 843 trường hợp sử dụng chất nổ, 19.658 vụ sử dụng xung điện và
106 trường hợp dùng chất độc bất hợp pháp trong khai thác. Khai thác san hô
làm vôi và đồ vật lưu niệm cho du khách, khai thác các loài hải sản trên rạn
san hô bằng mìn, hoá chất khiến cho rạn bị suy thoái nghiêm trọng. Khai thác
hải sản trên các bãi cỏ biển bằng lưới kéo làm cho các thảm cỏ bị phá hoại
nghiêm trọng. Tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với các hệ sinh thái vùng
triều, cửa sông, đầm phá, đất ngập nước ven bờ và ven các đảo.
Các hoạt động khai thác hải sản ở vùng ven biển và đảo đã đem lại
những lợi ích kinh tế thiết thực, tuy nhiên, hậu quả các hoạt động này đã làm
suy thoái môi trường nghiêm trọng. Nhiều hệ sinh thái tiêu biểu như hệ sinh
25
thái cửa sông, đầm phá, rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển đang bị huỷ hoại
do sự khai thác quá mức và phạm pháp, ảnh hưởng không nhỏ đến nơi sinh
sống của các loài thủy sản và ảnh hướng tới chính đời sống của những ngư
dân khai thác thủy sản.
Nuôi trồng thủy sản
Đến cuối năm 2006, diện tích mặt nước đưa vào NTTS của nước ta đạt
khoảng 1.050.000 ha (kể cả diện tích NTTS kết hợp với trồng lúa khoảng
65.600 ha), trong đó NTTS nước ngọt là 465.000 ha, NTTS mặn lợ là
585.000 ha, đạt sản lượng NTTS xấp xỉ 1.700.000 tấn. Sản lượng cá tra, cá
basa tăng trưởng nhanh, năm 2006 đạt 250.000 tấn. Tăng sản lượng NTTS,
một phần là do tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, phần khác là do mở
rộng diện tích NTTS. Bên cạnh tăng năng suất và mở rộng diện tích NTTS đã
dẫn đến sự tăng trưởng không ngừng của sản lượng NTTS là sự đầu tư cho cơ
sở hạ tầng kỹ thuật không đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, cùng với sự hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status