Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống cho lao động nông thôn di cư vào TP. Hà Nội giai đoạn 2012-2017 - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - Ban giám hiệu trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
• Ban chủ nhiệm khoa Kế Hoạch & Phát Triển
Tên tôi là : Nguyễn Thế Anh
Mã SV : CQ500046
Sinh viên lớp : Kinh Tế Phát Triển A
Chuyên ngành : Kinh Tế Phát Triển
Khoa : Kế Hoạch & Phát Triển
Khóa : 50
Sau một thời gian thực tập ở Ban phát triển nhân lực và xã hội, Viện chiến
lược phát triển (thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư) được sự hướng dẫn của Ths. Phí
Thị Hồng Linh và sự giúp đỡ của các cán bộ Ban phát triển nhân lực và xã hội tôi
đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “ Giải pháp nâng cao chất lượng
cuộc sống cho lao động nông thôn di cư vào TP. Hà Nội giai đoạn 2012-2017”.
Tôi viết lời cam đoan này để khẳng định những nội dung sau:
Thứ nhất, đây là đề tài do tôi lựa chọn sau một khoảng thời gian thực tập dựa
trên sự nghiên cứu tài liệu và phát hiện vấn đề của bản thân, cùng với sự hướng dẫn
của giáo viên và sự giúp đỡ của các cán bộ tại Ban.
Thứ hai, các số liệu sử dụng trong chuyên đề thực tập được cung cấp bởi cơ
quan thực tập, các số liệu đó là hoàn toàn đúng sự thật, tuyệt đối không sao chép từ
bất kỳ tài liệu, luận văn nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước nhà Trường và ban chủ nhiệm Khoa về lời cam
đoan này.
Ngày 14 tháng 5 năm 2012
Sinh viên

Nguyễn Thế Anh
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
LỜI CẢM ƠN

hiện ngày càng nhiều của các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các thành phố lớn
đòi hỏi nguồn lực lao động dồi dào để đáp ứng quá trình sản xuất diễn ra liên tục và
đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, sự khác biệt về điều kiện sống giữa các vùng miền là
động lực khiến càng ngày càng nhiều người dân di cư, nhất là lao đọng di cư nông
thôn thành thị. Trong vòng 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã trải qua giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng các đô thị lớn ngày càng nhiều và mở ra
nhiều cơ hội cho người lao động. Quan trọng hơn hết là ở các đô thị lớn, người dân
có nhiều cơ hội tìm kiếm những công việc phù hợp để cải thiện kinh tế gia đình.
Thu nhập của mỗi gia đình ở nông thôn được nâng cao sẽ từng bước rút ngắn lại
khoảng cách giàu ghèo, góp phần thực hiện tốt công bằng và an sinh xã hội. Vì thế
mà các chuyên gia nhận định rằng di cư vừa là động lực thúc đẩy lại vừa là kết quả
của quá trình phát triển trên mọi lĩnh vực của một quốc gia.
Thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế, văn hóa chính trị của cả nước ngày càng
thu hút dòng người di cư đổ về. Họ là những người đóng góp không nhỏ và sự tăng
trưởng của thành phố, tạo ra diện mạo mới cho Thủ đô nói riêng và cho Việt Nam
nói chung.
Vai trò của người dân lao động là không thể phủ nhận song chất lượng cuộc
sống lại chưa được đảm bảo đúng mực thậm chí còn thấp hơn so với mặt bằng
chung của xã hội. Nhiều trường hợp người lao động bị đối xử bất công bằng, thậm
chí bị từ chối trả lương và không nhận được sự giúp đỡ từ những cơ quan có thầm
quyền. Đời sống vật chất và tinh thần của họ khá vất vả, bấp bênh. Đó là chưa kể
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
đến đa phần trong số họ không được quan tâm đến việc nâng cao sức khỏe trong khi
phải làm việc trong môi trường khắc nghiệt, nhiều rủi ro và tiềm ẩn nhiều nguy cơ
bệnh tật. Đa số họ không có hợp đồng lao động và theo thống kê chính thức thì có
tới 90% người lao động không được đóng BHXH.
Nhận thấy những gì mà người lao động được hưởng chưa xứng tầm với
những đóng góp của họ cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bài

Theo đại từ điển Tiếng Việt năm 1994 cho rằng: Mức sống là khái niêm chỉ
mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Mức sống được thể hiện ở khối
lượng các dịch vụ, vật phẩm kể từ laoij thiết yếu nhất về ăn, ở mặc, đi lại, bảo về
sức khỏe, cho tới những nhu cầu cao nhất liên quan đến thỏa mã các đòi hỏi tinh
thần, đạo đức, thẩm mỹ.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt năm 1999 cho rằng: mứa sống là mức đath được
trong chi dùng, hướng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần.
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam, năm 2006: mức sống là điều kiện cao thấp
của sự sinh hoạt hằng ngày.
Theo Các Mác: “ Mức sống không chỉ là sự thỏa mã những nhu cầu của đời
sóng vật chất mà cả cá nhu cầu nhất định được sản sinh ra bơi chính những điều
kiện mà trong đó con người đang sống và trưởng thành”
Tổng hợp những khái niệm trên, chúng ta có thể quan niệm về mức sống là
sự thỏa mẫn những nhu cầu về mặt vật chất, tinh thần của con người, mức sống
càng cao thì còn người có khả năng lựa chọn việc phát triển cá nhân và hương thụ
các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội tạo ra.
1.1.2 Khái niệm về chất lượng cuộc sống:
Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau. Chất
lượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống. Mức sống là thước đo
về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất và
giá trị tinh thần.
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
Trong các tác phẩm của C.Mác hay của các nhà kinh tế chính trị cổ điển khác
như A.Smith, D.Ricardo, R.Malthus, J.S.Mill đã có tư tưởng mở rộng và đề cao
các giá trị về chất lượng cuộc sống của con người. Chất lượng cuộc sống như là
mục đích trong việc tạo điều kiện thuận lợi giúp con người có một cuộc sống vật
chất và tinh thần phong phú.

(10) Quyền tự do công dân
(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật
(12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm
Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định chất lượng
cuộc sống được đặc trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành
và môi trường xã hội lành mạnh.
Để định lượng khái niệm chất lượng cuộc sống, ở Thái Lan đã xây dựng 37
chỉ tiêu phản ánh các nội dung cốt lõi của chất lượng cuộc sống là ăn, mặc, nhà ở và
môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm. Từ đó, đưa ra tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2
sao) và khá (3 sao).
Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những
nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người.
Mức đáp ứng đó càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao. Bên cạnh đó, chất
lượng cuộc sống còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường.
Một cuộc sống sung túc là một cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần
thiết như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ. Đồng
thời, con người phải được sống trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững,
không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh và bình đẳng, không bị ảnh
hưởng bởi các vấn nạn xã hội.
Từ những phân tích trên, chúng tôi có thể quan niệm về chất lượng cuộc
sống như sau: chất lượng cuộc sống là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh
thần và vật chất của con người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển
bền vững của mọi quốc gia. Chất lượng cuộc sống càng cao thì con người càng có
nhiều khả năng lựa chọn trong việc phát triển cá nhân và trong hưởng thụ các giá trị
vật chất và tinh thần mà xã hội đã tạo ra.
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
1.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống:

3
) được đo
lường bằng ba biến số: tỉ lệ người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nước
sạch (P
31
), tỉ số người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế (P
32
) và tỉ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân và suy dinh dưỡng (P
33
). Giá trị biến P
3
được tính là:
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
3
333231
3
PPP
P
++
=
Chỉ số nghèo đói HPI-1 được tính theo công thức:
( )






quốc gia. Các nước có thu nhập thấp thường có số năm đi học thấp (trung bình 3-4
năm, thậm chí ở Châu Phi có một số nước chỉ có số năm đi học trung bình là 1,6
năm). Các nước có thu nhập trung bình có số năm đi học trung bình thường là 5,3
năm. Các nước có thu nhập cao chỉ số này rất cao, thường là 10,6 năm (Bắc Mỹ:
12,4 năm, Châu Âu: 11,1 năm ). Nhìn chung, ở hầu hết các nước đều có số năm đi
học của nam giới thường cao hơn nữ giới. Chỉ số số năm đến trường là một trong
các chỉ số phản ánh trung thực CLCS của từng nước.
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh về y tế và chăm sóc sức khỏe
- Chỉ số tuổi thọ: ( tính cho những người di cư lâu năm)
Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi
con người. Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát
triển của mỗi quốc gia, là tương lai của dân tộc. Sức khỏe là yếu tố cơ bản của chất
lượng cuộc sống dân cư. Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
triển. Việc chăm sóc tốt sức khỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờ
kéo dài tuổi thọ. Các quốc gia trên toàn thế giới không chỉ quan tâm về mặt số
lượng mà còn chú ý đến chất lượng dân số, chất lượng nòi giống, trong đó có mục
tiêu nâng cao thể lực cho con người.
Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho dân cư của một
quốc gia, người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỉ lệ người chết, tuổi thọ bình quân,
tình trạng dinh dưỡng, tỉ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn dân, số
giường bệnh trên 1 vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầu
người)
Tuổi thọ bình quân là số năm trung bình của một người có khả năng sống
được. Chỉ số tuổi thọ bình quân có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong, đặc biệt là tử
vong ở trẻ em. Các phương pháp tính tuổi thọ trung bình:
- Phương pháp lập bảng sống và tính tuổi thọ trung bình dựa trên số liệu về
người chết và dân số chia theo độ tuổi (tỉ suất chết đặc trưng theo độ tuổi).

cách tự mua thuốc uống, chỉ tiêu này để đánh giá mức độ chăm sóc sức khỏe
thường xuyên của lao động di cư nông thôn.
1.2.4 Các chỉ tiêu liên quan đến môi trường:
- Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng
là yếu tố quan trọng phản ánh CLCS của dân cư. Điều kiện sử dụng điện được phản
ánh qua các tiêu chí: tỉ lệ số hộ dùng điện, số KWh tiêu thụ tính bình quân đầu
người/tháng.
- Sử dụng nước sạch: sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu cơ bản và cấp thiết
của con người. Đây là yếu tố quan trọng để xem xét CLCS của dân cư.
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch của dân cư là tỉ lệ
người dân được sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác
từ nguồn lộ thiên đã qua xử lí )
- Điều kiện nhà ở: có hai tiêu chí để đánh giá điều kiện nhà ở là diện tích nhà ở
và chất lượng nhà ở. Diện tích nhà ở thường được diễn đạt bằng chỉ số m
2
/người. Chất
lượng nhà ở thường chia làm ba loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
1.3 Các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống của lao động nông thôn
di cư:
1.3.1. Vị trí địa lý nơi họ di cư đến:
- Vị trí địa lí tự nhiên nơi người lao động di cư nông thôn đến nếu thuận
thuận lợi có thể tạo điều kiện cho họ phát triển kinh tế, cũng như làm cho nơi so
phát triển kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp thế mạnh qua đó góp phần
tăng thu nhập cho người dân và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người di cơ
nông thôn .
- Vị trí địa lí kinh tế - xã hội cũng có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng
cuộc sống người di cư. Nêu nơi đó có vị trí trong vùng kinh tế trọng điểm sẽ có điều

hội việc làm, tạo điều kiện vay vốn, đất đai, nâng cao tay nghề
- Chính sách mở cửa và hội nhập về vấn đề nhập cư và cơ chế giúp lao động
di cư nông thôn có cơ hội ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống.
2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng cuộc sống của lao động lao động nông thôn
di cư vào TP Hà Nội:
2.1 Đóng góp của lao động di cư nông thôn vào tăng trưởng của TP Hà
Nội:
2.1.1 Đóng góp của lao động di cư nông nông làm tăng lực lượng lao động
cho TP. HN:
Chính những người di cư tới Hà Nội để tìm kiếm việc làm đã góp phần bổ
sung nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt là thúc đẩy phát triển ngành kinh
tế dịch vụ, ngoài ra họ tham gia vào phát triển khu vực phi kết cấu góp phần thỏa
mãn nhu cầu về các ngành nghề như: mộc, nề, rèn, …Cung cấp các mặt hàng lương
thực và thực phẩm…Hơn nữa, họ cũng tham gia vào lĩnh vực hoạt động lao động
phổ thông mà nhà nước chưa bao quát được trong quá trình đô thị hóa như: xích lô,
vận chuyển hàng hóa, chuyên chở hành khách và nhiều hình thức hoạt động lao
động khác. Nhìn chung, tác động tích cực của di dân ngoại tỉnh vào Hà Nội tới quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô tuy không đo đếm được chính xác, nhưng
rõ ràng vai trò của nó là không thể phủ nhận. Người dân di cư ngoại tỉnh vào Hà
Nội với mục đích tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập. Do vậy tính năng động trong
việc tìm kiếm việc làm của họ rất cao, tùy thuộc vào trình độ chuyên môn, sức
khỏe, khả năng của mỗi người mà họ sẫn sàng tham gia vào các lĩnh vực khác nhau.
Do đó, những người lao động này đã bù đắp cho nguồn lực lao động ở Hà Nội khi
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
tham gia vào những công việc mang tính chất lao động giản đơn, hoặc lao động
nặng nhọc nhưng rất cần thiết cho đời sống kinh tế xã hội.
2.1.2 Đóng góp của lao động di cư nông thôn vào tăng giá trị sản xuất:
Lao động di cư nông thôn đến Hà Nội có mặt tác động tích cực của nó: ở

công cộng và mỹ quan thành phố.
2.2.3 Vấn đề cơ sở hạ tầng:
Mặt khác, thu nhập của LĐDC nhìn chung là thấp và họ còn phải tiết
kiệm để gủi tiền về cho gia đình ở quê, nên họ chỉ có thể thuê nhà trọ giá rẻ.
Do vậy, tại các khu công nghiệp, tại các đô thị, hầu hết lao động di cư nông
thôn đều thuê nhà ở giá rẻ với những điều kiện sinh hoạt hết sức tồi tàn, nhiều
chỗ không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của các sinh hoạt hàng ngày. Khó
khăn lớn nhất của các địa phương khi triển khai đề án nhà ở xã hội vẫn là vấn
đề kinh phí. Hiện nay, kinh phí để xây dựng nhà ở xã hội chủ yếu là từ ngân
sách từ trung ương và của cả địa phương. Trên thực tế thì không chỉ các địa
phương mà ngay cả doanh nghiệp cũng rất ngại tham gia đề án này, vì xây
nhà ở xã hội là phi lợi nhuận. Không có lợi nhuận thì đương nhiên không hấp
dẫn các doanh nghiệp. Vì vậy, xây nhà ở cho người có thu nhập thấp, đòi hỏi
quyết tâm rất cao của hệ thống chính quyền địa phương thì mới có thể thực
hiện được.
2.3 Đóng góp của lao động di cư vào tăng trường phát triển kinh tế cho Tp
Hà Nội:
Lao động di cư là một hiện tượng tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế
thế giới trong đó có VN, đặc biệt khi toàn cầu hóa. Lao động di cư một mặt góp
phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, giảm tỉ lệ lao động thất nghiệp, tăng chỉ số
GDP… theo thống kê đóng góp của lao động di cư nông thôn là 30% vào tổng GDP
của thành phố năm 2011. Không những thế lao động di cư nông thôn còn găp phần
tham gia vào những lĩnh vực mà nhà nước chưa thế bảo quát khác, chủ yếu về lao
động sử dụng sức lao đọng là chính, nhưng nó đã góp phần vào tăng trường kinh tế
của Hà Nội. Ngoài ra chính chi tiêu của lao đọng di cư nông thôn đã góp phần thúc
đẩy kinh tế hàng hóa, dịch vụ ở Tp Hà Nội
2.4 Những hệ lụy về xã hội mà lao động di cư đem đến.
TP Hà Nội giữ một vị trí then chốt trong sự phát triển quốc gia. Không thể có
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
17

thành thị có làm cho tình hình thất nghiệp thành thị trở nên trầm trọng hay không?
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
Theo kết quả hồi quy giữa tỷ lệ thất nghiệp ở Hà Nội và tỷ lệ di cư trong tổng dân
số trong giai đoạn 1995 – 2005 cho thấy khi tỷ lệ di cư trong tổng dân số tăng 1%
thì tỷ lệ thất nghiệp tăng 0,776481%. Tuy nhiên con số này không có ý nghĩa giải
thích bởi P-value = 0,101 > 0,05 (mức ý nghĩa thống kê) nên nằm ngoài niềm bác
bỏ. Hơn nữa mô hình ước lượng giải thích được rất ít (chỉ 30%) về mối quan hệ
giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ di cư, số quan sát qúa ít (chỉ 11 quan sát) cho một mô
hình ước lượng.
Một cách tiếp cận khác để trả lời cho câu hỏi trên là mô phỏng mối quan hệ
giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ di cư qua đô thị.
Đồ thị 1.1: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ di cư (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê 2004
Đồ thị cho thấy tỉ lệ thất nghiệp hầu như không có liên quan đến tỉ lệ di dân
nông thôn ra thành thị. Thực tế cho thấy, những năm có tỉ lệ di cư từ nông thôn ra
thành thị cao cũng không phải là những năm có tỉ lệ thất nghiệp cao. Tuy nhiên tăng
dân số cơ học tạo ra những áp lực về việc làm ở Hà Nội. Hiện tại Hà Nội là địa
phương có tỷ lệ thất nghiệp khá cao (Đồ thị 2.11), năm 1999 là 5,59%, trong đó thất
nghiệp thành thị là 8,96% và nông thôn là 1,4%, năm 2005 tỷ lệ thất nghiệp thành
thị là 6,20%. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp còn khá cao thì hàng năm lại bổ sung một
lượng lớn lao động từ các địa phương khác kéo đến.
Khi lượng dân di cư tập trung về thành phố, khu công nghiệp quá đông,
không kiểm soát nổi sẽ làm tăng thêm đội quân thất nghiệp, gây nhiều khó khăn cho
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
chính quyền địa phương trong quản lý dân cư. Mặc dù được bổ sung đáng kể lực
lượng lao động dư thừa từ nơi khác, nhưng khi chưa kịp thời bố trí, sắp xếp ổn định

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
phương đang gặp phải đối thủ cạnh tranh khá mạnh là lao động nhập cư, họ có nhu
cầu về lương thấp hơn lao động tại chỗ. Giá tiền công của người nhập cư thường rẻ
hơn so với lao động thành phố làm gia tăng mức độ cạnh tranh về chỗ làm việc.
Vấn đề cần xem xét là sự cạnh tranh trong tìm việc làm giữa lao động nhập cư và
lao động tại chỗ sẽ dẫn đến làm suy giảm giá trị kinh tế của sức lao động. Trên thực
tế có thể là do những người di cư là những người có mức sống thấp, và không có
nhiều sự lựa chọn trong việc tìm kiếm công ăn việc làm, và vì vậy họ sẵn sàng chấp
nhận làm tất cả những công việc có thể, thậm chí với đồng lương thấp để duy trì
cuộc sống. Một bài toán đơn giản là một nhà đầu tư nếu tuyển chọn được công nhân
là lao động nhập cư thì nhiều khả năng tiền lương trả cho lao động nhập cư sẽ thấp
hơn lao động tại chỗ.
Một vấn đề khác cần xem xét là lao động di cư từ các tỉnh khác đến làm
giảm giá trị tiền lương của lao động sở tại. Không giống như các loại hàng hóa
thông thường, hàng hóa sức lao động và thị trường sức lao động thuộc loại đặc biệt.
Ở thị trường đó ngoài vấn đề về lượng (số lượng và chất lượng) và giá cả còn có sự
can thiệp của Nhà nước để đặt ra những điều kiện đảm bảo cho điều kiện làm việc
và cuộc sống của người lao động. Ở nước ta ngoài việc quy định vấn đề an toàn lao
động, Nhà nước có đặt ra mức lương tối thiểu mà chủ sử dụng lao động phải trả cho
người lao động. Mức lương tối thiểu có sự khác nhau giữa các khu vực, các ngành
kinh tế và vùng địa lý. Chính phủ ban hành Nghị định 03/2005/NĐ-CP, từ 1/2/2006,
lương tối thiểu của lao động Việt Nam trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (FDI): 870.000 đồng/người/tháng. Trong khi đó, từ ngày 1/10/2006, mức
lương tối thiểu chung là 450.000 đồng/tháng quy định tại Nghị định số
118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ áp dụng cho hai khối hành chính
sự nghiệp và doanh nghiệp trong nước. Các văn bản pháp lý gần đây là Nghị định
166/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007, quy định mức lương tối thiểu áp dụng từ
1/1/2008 là 540.000 đồng/tháng đối với khu vực hành chính- sự nghiệp. Đối với
khu vực doanh nghiệp trong nước, theo Nghị định 167/2007/NĐ-CP, mức 620.000
đồng/tháng áp dụng đối với khu vực 1; mức 580.000 đồng/tháng áp dụng đối với

ngoại tỉnh về Hà Nội. Về đặc điểm tự nhiên: Thành phố Hà Nội nằm ở đồng bằng
Bắc Bộ trù phú (diện tích Hà Nội mở rộng lên tới 3.324, 92 km2). Hà Nội nằm ở
phía hưũ ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông. Ngoài hai con sông
lớn, trên địa phận Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu, Nhuệ… Hồ đầm ở Hà Nội
có nhiều, những hồ nổi tiếng ở Hà Nội như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm…
hàng chục hồ, đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Linh Đàm, đầm Vân
Trì… và những hồ thuộc địa phận Hà Tây cũ: Ngải Sơn, Đồng Mô, Suối Hai. Phía
Bắc Hà Nội giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; phía Nam giáp Hà Nam;
phía Tây giáp Hòa Bình; phía Đông giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên. Với vị
trí và địa thế đẹp, thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa
học lớn; là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước.
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt
đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh khô và mưa ít. Do nằm
trong vùng nhiệt đới nên Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời
rất dồi dào (nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,6 0C), độ ẩm trung bình hàng năm
là 79%, lượng mưa trung bình hàng năm là 1800 mm.
Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Địa hình đồng
bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía Đông của Hà Tây cũ,
chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên. Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa phận các
huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Phí Thị Hồng Linh
1.2 Về đặc điểm kinh tế - xã hội:
Hà Nội là một thành phố lớn và đông dân, có mặt độ dân số cao. Theo số liệu
thống kê 1/4/2009, dân số Hà Nội vào khoảng 6.448.837 người (chiếm khoảng
7,5% dân số cả nước). Từ năm 2001 đến năm 2009, tại Hà Nội trung bình có hơn
100.000 trẻ em ra đời, tỷ lệ nhập cư về Hà Nội trung bình khoảng 100.000
người/năm. Như vậy, mỗi năm quy mô dân số Hà Nội dự kiến tăng thêm tương
đương một dân số huyện lớn. Năm 2009, mặt độ dân số trung bình của Hà Nội là

hai sau thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội là một trong hai đầu tàu kinh tế của cả
nước, với các ngành dịch vụ, du lịch và bảo hiểm giữ vai trò quan trọng trong cơ
cấu kinh tế của thành phố. Trong lĩnh vực công nghiệp, Hà Nội đã xây dựng hoàn
chỉnh 9 khu công nghiệp và 11 cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều sản phẩm công
nghiệp, trong đó có một số sản phẩm mới của ngành công nghiệp điện tử, công
nghiệp phần mềm, chế tạo khuôn mẫu… đã đứng vững trên thị trường. Thời gian
tới, Hà Nội sẽ tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công
nghiệp - nông nghiệp, phát triển các ngành các lĩnh vực và sản phẩm công nghệ
cao… Với những đặc điểm và lợi thế đó, Hà Nội thực sự là mảnh đất hấp dẫn dân
nhập cư.
2 Tổng quan về lao động nông thôn di cư vào TP Hà Nội trước năm 2012
2.1 Quy mô lao động di cư nông thôn vào TP Hà Nội trước năm 2012
Số liệu thống kê về tỷ lệ và số lượng ngườidi cư vào Hà Nội thời gian qua
được tổng kết qua bảng số liệu sau (bảng
Bảng 2.1: Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tốc độ tăng dân số
cơ học (%)
0.59 0.66 0.68 0.73 0.81 1.08 1.36 1.31 1.43 1.55
Số người
16,985 19,570 20,768 22,964 26,245 35,218 46,240 44,540 48,620 52,588
Nguồn: Số liệu thống kê dân số Hà Nội qua các năm.
Từ bảng số liệu trên có thể thấy quy mô và tốc độ của lượng người di dân
vào Hà Nội qua các năm ngày càng tăng, chẳng hạn năm 2001 số người di cư vào
Hà Nội là 16.985 người thì đến năm 2007 là 46.240 người, con số đó đã là 52.588
người vào năm 2010. Như vậy, xu thế chung trong những năm tới là số lượng người
lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng. Hiện tượng này
nếu không có sự quản lý, điều tiết chặt chẽ sẽ gây ra những vấn đề phức tạp trong
đời sống kinh tế xã hội cho Thủ đô trong những năm tới. Phân tích về cơ cấu dân cư
Nguyễn Thế Anh Lớp: Kinh tế phát triển 50A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status