Các cuộc vận động dân chủ trong quá trình phi thực dân hóa ở Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945 - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH THỦY

CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ TRONG QUÁ
TRÌNH PHI THỰC DÂN HOÁ Ở VIỆT NAM,
GIAI ĐOẠN 1904 - 1945

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ Hà Nội 2013
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do nghiên cứu đề tài 1
2. Nội dung nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.2. Cơ sở lý luận, nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của Luận án . 3
2.2.1. Cơ sở lý luận và nguồn tƣ liệu của Luận án 3
2.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài Luận án 5
2.3. Phạm vi nghiên cứu 6
2.4. Đối tƣợng nghiên cứu 7
2.5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Luận án 8
2.5.1. Ý nghĩa khoa học 8
2.5.2.Ý nghĩa thực tiễn 9
3. Kết cấu của Luận án 9
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CUỘC VẬN
ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1904 - 1945 10
1.1.Các nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài 20
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 23
CHƢƠNG 2: CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1904 - 1945: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CHÍNH 26
2.1. Khái niệm “dân chủ”, “cuộc vận động dân chủ”, “quá trình phi thực dân
hoá” và một số khía cạnh của vấn đề dân chủ. 26
2.1.1. Khái niệm về “dân chủ”, “cuộc vận động dân chủ” và một số khía cạnh
của vấn đề dân chủ 26
2.1.2. Về khái niệm “Quá trình phi thực dân hóa” 30
2.2. Một số yếu tố tác động chính đến các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam

4.2. Một số yếu tố quan trọng tác động đến các cuộc vận động dân chủ từ năm1918
đến năm 1939 90
4.3. Các cuộc vận động dân chủ từ năm 1918 đến năm 1939 103
4.3.1. Cuộc vận động dân chủ của Đảng Lập Hiến ở Nam Kỳ những năm 1923 -
1926 103
4.3.2. Cuộc vận động của Nguyễn An Ninh (1923 - 1926) 106
4.3.3. Phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh và hoạt
động của Đảng Thanh Niên 109
4.3.4. Cuộc vận động qua báo chí của Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong ở Bắc
Kỳ 114
4.3.5. Cuộc vận động chính trị của giáo phái Cao Đài (1926 - 1939) 117
4.3.6.Cuộc vận động nữ quyền trên báo chí công khai 119
4.3.7. Trào lƣu văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán trong cuộc
vận động giải phóng con ngƣời, giải phóng xã hội (1930 - 1939) 124
4.3.8. Cuộc vận động dân tộc, dân chủ của Việt Nam Quốc dân Đảng 128
4.3.9. Các cuộc vận động dân tộc, dân chủ dƣới ngọn cờ của những ngƣời
cộng sản (1925 - 1939) 130
4.4. Tiểu kết chƣơng 4 151
CHƢƠNG 5: CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN TỘC, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM
1939 ĐẾN NĂM 1945 155
5.1. Vài nét về bối cảnh của cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam từ năm 1939
đến năm 1945 155
5.2. Nội dung của cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1939
– 1945 159
5.2.1. Sự chuyển hƣớng chiến lƣợc của cách mạng Việt Nam dƣới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng 159
5.2.2. Quá trình tập hợp, xây dựng lực lƣợng của cách mạng ở khu vực

TVCMĐ Tân Việt Cách mạng Đảng
VH Văn học
VHTT Văn hoá thông tin
VNQDĐ Việt Nam Quốc dân Đảng
XHCN Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 1.1: Biến chuyển cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
48
Bảng 1.2: Biến chuyển cơ cấu xã hội ở Việt Nam
49

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời, nền độc lập của dân tộc Việt Nam đƣợc khôi phục
trên một tầm cao mới. Chế độ thực dân Pháp, ách thống trị của phát xít Nhật và

Việt Nam cận đại. Với hy vọng góp phần vào việc tìm hiểu một cách sâu sắc và
toàn diện về quá trình phi thực dân hóa ở Việt Nam, tôi quyết định chọn vấn đề
"Các cuộc vận động dân chủ trong quá trính phi thực dân hóa ở Việt Nam, giai
đoạn 1904 - 1945" làm đề tài luận án tiến sĩ sử học của mình.
Nhƣ đã nói ở trên, cho đến nay ở Việt Nam và nƣớc ngoài đã có khá
nhiều công trình nghiên cứu về các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam từ năm
1904 đến năm 1945. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đó chỉ đề
cập đến từng phong trào, từng cuộc vận động riêng lẻ, nhƣ các nghiên cứu về
phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, về hoạt động của Đảng Lập Hiến,
của nhóm Nam Phong, về các cuộc đấu tranh thời kỳ 1925 - 1926, về các cuộc
vận động trên báo giới, trên văn đàn công khai, về một số cuộc vận động dân
chủ thời kỳ 1936 - 1939 và về tính chất dân chủ của Cách mạng tháng Tám vv…
Cho đến nay ở Việt Nam cũng nhƣ ở nƣớc ngoài chƣa có một nghiên cứu
chuyên sâu nào mang tính hệ thống về các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam
từ năm 1904 đến năm 1945 đặt trên nền của quá trình phi thực dân hóa. Vì vậy
nghiên cứu này của chúng tôi, một mặt sẽ kế thừa đƣợc kết quả nghiên cứu của
nhiều tác giả đi trƣớc nhƣng lại không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã
công bố.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của Luận án là làm sáng tỏ lịch sử của các cuộc vận động dân
chủ trong quá trình phi thực dân hóa ở Việt Nam từ 1904 đến 1945.
Để đạt đƣợc mục tiêu này, trong quá trình nghiên cứu về các cuộc vận
động dân chủ, Luận án có nhiệm vụ làm rõ khái niệm và phạm vi của các thuật
ngữ nhƣ “dân chủ” và “các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam”, “quá trính
phi thực dân hoá”.
Nhiệm vụ của Luận án là đặt các cuộc vận động dân chủ trong mối liên hệ
lịch sử chặt chẽ với các cuộc đấu tranh yêu nƣớc, chống thực dân và giải phóng
dân tộc để nghiên cứu. Luận án còn khẳng định quan điểm coi các cuộc vận


Minh về các vấn đề liên quan đến đề tài Luận án vừa là nguồn tƣ liệu quan
trọng, đồng thời vừa là cơ sở lý luận của Luận án.

4

Để hoàn thành Luận án, tác giả đã sử dụng nguồn tƣ liệu thành văn là chủ
yếu, bao gồm hai nhóm tƣ liệu chính: tƣ liệu sơ cấp (primary sources) và tƣ liệu
thứ cấp (secondary).
Nhóm tƣ liệu thành văn sơ cấp bao gồm những tài liệu thành văn do các
tác nhân có liên quan đến quá trình lịch sử của các vận động dân chủ trong quá
trình phi thực dân hoá ở Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945 sản sinh ra, đƣợc lƣu
giữ trong các cơ quan nhƣ Trung tâm lƣu trữ Quốc gia I, Thƣ viện Quốc gia
Việt Nam, Viện nghiên cứu Lịch sử Đảng và Viện nghiên cứu về Hồ Chí Minh
và các lãnh tụ của Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt
Nam, Khoa Lịch sử, Trƣờng ĐH KHXH &NV (ĐHQG Hà Nội)… Thƣ viện
Khoa học tổng hợp và Trung tâm lƣu trữ tại các địa phƣơng cũng là nơi lƣu giữ
các tài liệu sơ cấp có giá trị. Đó là các bài viết, các tác phẩm của các nhân vật
lịch sử tham gia hoặc giữ vai trò lãnh đạo của các cuộc vận động dân chủ và
đƣợc viết ra trong quá trình diễn ra các cuộc vận động đó.
Có giá trị lớn đối với đề tài Luận án là một số bộ tài liệu sơ cấp đã đƣợc
sƣu tầm, tập hợp và xuất bản. Trong những năm 1955 - 1960, nhóm nghiên cứu
do Trần Huy Liệu đứng đầu đã sƣu tập và công bố bộ “Tài liệu tham khảo lịch
sử cách mạng cận đại Việt Nam” với nhiều tƣ liệu quí trong đó có liên quan đến
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1919 - 1945 là từ tập 4 đến tập 12. Đó là các bộ
Văn kiện Đảng đã đƣợc các cơ quan có thẩm quyền sƣu tầm và công bố. Gần
đây nhất là bộ Văn kiện Đảng toàn tập (tập hợp các văn bản nghị quyết và các
tài liệu khác sinh ra trong quá trình hoạt động của Đảng) do Nxb CTQG công bố
lần đầu từ năm 1998. Bên cạnh đó là các bộ tài liệu Hồ Chì Minh toàn tập (bao
gồm các tác phẩm trong quá trình hoạt động cách mạng của Ngƣời) cũng có giá
trị to lớn đối với việc nghiên cứu về các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam từ

động dân chủ ở Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945. Những công trình này chúng
tôi sẽ tổng thuật kỹ hơn ở chƣơng Tổng quan tình hình nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu đề tài Luận án
Trên cơ sở phƣơng pháp luận sử học Mácxít, chủ nghĩa duy vật lịch sử,
tác giả đã sử dụng phƣơng pháp lịch sử trong nghiên cứu đề tài Luận án. Nội
dung của phƣơng pháp lịch sử mà tác giả vận dụng là:

6

- Luôn nhìn nhận các vấn đề của đề tài trong các điều kiện lịch sử cụ thể,
không hiện đại hóa lịch sử, sử dụng phƣơng pháp mô tả lịch sử để khôi phục
diễn trình lịch sử của các cuộc vận động dân chủ trong thời gian 1904 - 1945.
- Trình bày sự kiện lịch sử trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại của nó, chỉ
ra những mối tƣơng tác lịch sử đa chiều giữa các cuộc vận động dân chủ với các
trào lƣu chính trị xã hội khác.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ:
Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu nhằm bao quát, khai thác các nguồn tài liệu
khác nhau, phê phán các nguồn sử liệu và sử dụng chúng một cách thích hợp;
phƣơng pháp mô tả, so sánh, phân tích lôgic và phân tích tổng hợp; phƣơng
pháp liên ngành… để hoàn thành Luận án.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Về nguyên tắc, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ
lãnh thổ của nƣớc Việt Nam ngày nay, tƣơng ứng với cả ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung
Kỳ và Nam Kỳ) của Liên bang Đông Dƣơng thuộc Pháp thời cận đại. Tuy nhiên,
địa bàn trọng điểm mà Luận án đề cập sẽ là những khu vực của Việt Nam vốn là
những nơi từng diễn ra các cuộc vận động dân chủ tiêu biểu nhƣ: thành phố Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Thái Bình…
Thời gian: Từ năm 1904 đến năm 1945.
Chúng tôi chọn mốc khởi đầu cho khoảng thời gian nghiên cứu của mình
là năm 1904, năm Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội. Phan Bội Châu -

động đó đã đƣợc những công trình đi trƣớc tái hiện khá đầy đủ khi đi sâu nghiên
cứu ở góc độ đơn lẻ, nhất là các cuộc vận động dân chủ từ khi có Đảng Cộng
sản Đông Dƣơng lãnh đạo. Vấn đề quan tâm của Luận án là đặt tất cả các cuộc
vận động dân chủ trong một hệ qui chiếu là quá trình phi thực dân hóa để phân
tích và luận giải và khẳng định cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam
cũng bao hàm tính chất dân chủ sâu sắc cũng nhƣ sự thống nhất giữa giải phóng
dân tộc và giải phóng xã hội, giải phóng con ngƣời trong đƣờng lối của Đảng
Cộng sản Đông Dƣơng đã làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám với
tính chất dân tộc, dân chủ và nhân dân sâu sắc.
2.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng bao trùm của Luận án là các cuộc vận động dân chủ trong quá
trình phi thực dân hóa ở Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945 mà theo cách hiểu của
chúng tôi, thì nội dung của các cuộc vận động dân chủ không chỉ bó gọn trong

8

vấn đề nông dân và ruộng đất mà bao gồm tất cả các cuộc vận động đấu tranh
cho giải phóng con ngƣời, giải phóng xã hội diễn ra trong các lĩnh vực nhƣ:
chính trị, xã hội, văn hóa, tƣ tƣởng và biểu hiện ở cấp độ cao nhất là giải phóng
dân tộc để giành quyền độc lập tự chủ cho cả cộng đồng - nền tảng cho quyền
làm chủ của mỗi ngƣời dân. Vì các cuộc vận động dân chủ diễn ra trong nhiều
địa hạt nên đối tƣợng nghiên cứu của Luận án khá rộng lớn, do khuôn khổ có
hạn của Luận án, nên chúng tôi chỉ có thể chọn lựa những cuộc vận động tiêu
biểu trong các giai đoạn tiêu biểu để nghiên cứu. Những cuộc vận động dân chủ
tiêu biểu diễn ra ở Việt Nam từ 1904 - 1945 là:
- Giai đoạn 1904 - 1908: Phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân, Đông
Kinh nghĩa thục.
- Giai đoạn 1918 - 1939: Các cuộc vận động của Đảng Lập Hiến ở Nam kỳ,
hoạt động của Nguyễn An Ninh, Đảng Thanh Niên, các cuộc đấu tranh đòi ân xá
Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh.

3. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án đƣợc kết cấu làm 5 chƣơng
Chƣơng 1: Tổng quan tính hính nghiên cứu về các cuộc vận động dân chủ ở
Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945
Chƣơng 2: Các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1904 - 1945: Một
số khái niệm cơ bản và yếu tố tác động chình
Chƣơng 3: Các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam những năm 1904 - 1908
Chƣơng 4: Các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam từ năm 1918 đến 1939
Chƣơng 5: Cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam từ năm1939 đến 1945 10

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CUỘC
VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1904 - 1945

1.1.Các nghiên cứu ở Việt Nam
Thời gian qua, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về các cuộc
vận động dân chủ, giai đoạn 1904 - 1945 đƣợc công bố ở Việt Nam. Liên quan
đến đề tài Luận án là những công trình có đề cập đến vấn đề dân chủ với tƣ cách
là một thể chế chính trị, các nội dung của nền dân chủ tƣ sản và nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó là các công trình trực tiếp đề cập đến các nội dung
khác nhau của các cuôc vận động dân chủ ở Việt Nam trong các giai đoạn khác
nhau từ năm 1904 đến 1945. Nội dung này rất rộng lớn và phong phú nên có đến
hàng trăm công trình đề cập đến. Tuy nhiên trong khuôn khổ Luận án, chúng tôi
không có điều kiện trình bày cụ thể.
Ở đây, chúng tôi chỉ xin tổng quan về một số nhóm công trình quan
trọng nhất.
Trƣớc hết phải kể đến nhóm công trính lý luận của các nhà lãnh đạo của

Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo: Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
Đỗ Trung Hiếu: Nhà nước XHCN với việc xây dựng nền dân chủ ở Việt
Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ triết học bảo vệ năm 2003 lƣu tại Thƣ viện quốc
gia Việt Nam.
Các công trình nói trên đã nêu ra và đi sâu phân tích các nội dung của nền
dân chủ tƣ sản với mặt tiến bộ và hạn chế của nó, bên cạnh đó, khẳng định
những yếu tố tiến bộ của nền dân chủ XHCN.
Nhóm các công trính nghiên cứu về sự xuất hiện và phát triển tư tưởng
dân chủ tư sản ở Việt Nam và các nhân vật, phong trào dân chủ yêu nước tiêu
biểu ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có các tác phẩm nhƣ:
Năm 1973, Nxb KHXH xuất bản tác phẩm Sự phát triển của tư tưởng ở
Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám của tác giả Trần Văn Giàu
(tập 1, 2) và sau đó năm 1993 thì tập 3 đƣợc xuất bản. Đây là một công trình
nghiên cứu về lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam đồ sộ và mẫu mực, trong đó đã đề cập
đến sự xuất hiện và phát triển của tƣ tƣởng dân chủ tƣ sản ở Việt Nam đƣợc biểu

12

hiện bằng sự xuất hiện và phát triển của các nhóm xã hội, các đảng phái chính
trị, các nhà dân chủ tiêu biểu… đi theo các trào lƣu tƣ tƣởng dân chủ khác nhau
nhƣ tƣ tƣởng dân chủ phƣơng Tây qua Tân thƣ, Tân văn, tƣ tƣởng dân chủ tƣ
sản Pháp, chủ nghĩa Tam dân, chủ nghĩa Mác - Lê nin…. Trong đó tác giả nêu
cao vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Đông Dƣơng với
ngọn cờ tƣ tƣởng Mác - Lê nin và đƣờng lối giải phóng dân tộc đúng đắn và
sáng tạo, đã đƣa dân tộc tới nền độc lập và tự do.
Tác phẩm Nguyễn Trường Tộ, thời thế và tư duy cách tân của tác giả
Hoàng Thanh Đạm đã nghiên cứu khá kỹ lƣỡng về cuộc đời và tƣ tƣởng canh
tân của nhân vật lịch sử Nguyễn Trƣờng Tộ và đƣa ra những đánh giá về ông.
Đó là một nhân vật có tƣ duy sáng suốt, trí tuệ canh tân lỗi lạc, là ngƣời có nhân

với những tác phẩm nhƣ: Nghiên cứu Phan Bội Châu (Nxb Chính trị Quốc gia
ấn hành năm 2004), Phan Bội Châu, nhà yêu nước, nhà văn hoá lớn (Nxb Nghệ
An và trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây ấn hành năm 2005).
Về Phan Bội Châu, cũng có khá nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc nghiên
cứu và đánh giá về ông, tiêu biểu là một số tác phẩm nhƣ:
Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt
Nam (Nxb Văn hoá 1958) của Tôn Quang Phiệt.
Phan Bội Châu (1867- 1940). Con người và sự nghiệp. Kỷ yếu Hội thảo
khoa học kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Bội Châu của trƣờng ĐH KHXH&
NV, ĐHQG Hà Nội, 1997.
Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu (Nxb Nghệ An - Trung tâm văn
hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2005).
Về phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh, một nhà nho cải cách xƣớng
xuất, cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu. Sớm nhất phải kể đến tác phẩm
Phong trào Duy tân của Nguyễn Văn Xuân đƣợc viết từ những năm 1937,1938.
Nghiên cứu về các nhân vật tiêu biểu của phong trào Duy Tân, Nguyễn
Q.Thắng là một tác giả có nhiều đóng góp với các tác phẩm nhƣ: Phan Châu
Trinh, cuộc đời và tác phẩm (Nxb Văn học, Hà Nội, 2006), Huỳnh Thúc Kháng,
con người và thơ văn (Nxb Văn học, Hà Nội, 2006) trong đó có nhiều đánh giá
xác đáng về tƣ tƣởng dân chủ của các nhà chí sĩ đấu tranh cho Duy tân này.
Năm 1996, Nxb KHXH ấn hành tác phẩm Tím hiểu tư tưởng dân chủ của
Phan Châu Trinh của Đỗ Thị Hoà Hới. Tác phẩm đã đánh giá và làm rõ những
nguồn ảnh hƣởng đến tƣ tƣởng dân chủ của Phan Châu Trinh nhƣ: ảnh hƣởng

14

của truyền thống dân tộc, ảnh hƣởng của văn minh phƣơng Tây, ảnh hƣởng của
văn hoá Trung Hoa, ảnh hƣởng của tƣ tƣởng canh tân của Nhật Bản. Đồng thời
tác giả cũng khảo sát và đặt tƣ tƣởng dân chủ của Phan Châu Trinh vào trong
tiến trình hình thành và phát triển dòng tƣ tƣỏng canh tân đất nƣớc và chỉ ra

tư tưởng Hồ Chì Minh” của Lê Mậu Hãn (Nxb CTQG xuất bản lần đầu năm
2000) trình bày khái quát những vấn đề cơ bản của sức mạnh dân tộc Việt Nam
dƣới ánh sáng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh từ khi Ngƣời ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc,
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu lý luận giải phóng dân tộc rồi bắt
tay vào sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến ngày nay.
Tác phẩm Nguyễn An Ninh gồm các nghiên cứu, đánh giá về sự nghiệp
của Nguyễn An Ninh và phần tƣ liệu gốc tập hợp hầu hết các bài diễn thuyết, bài
báo của ông đăng trên báo "La cloche fêlée" và "La Lutte" do tác giả Nguyễn An
Tịnh - con trai của nhà chí sĩ sƣu tầm và đƣợc Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh xuất
bản năm 1996. Qua tác phẩm có thể nắm đƣợc tƣ tƣởng yêu nƣớc của Nguyễn
An Ninh chịu ảnh hƣởng sâu sắc của tƣ tƣởng cách mạng dân chủ tƣ sản Pháp,
đó là tƣ tƣởng cách mạng ôn hoà, giành độc lập bằng cải cách dân chủ và xây
dựng một nền văn hoá độc lập trên cơ sở kết hợp tinh hoa Đông Tây.
Viết về Nguyễn An Ninh, còn các tác phẩm Nguyễn An Ninh "Tôi chỉ làm
cơn gió thổi" của Nguyễn Thị Minh đƣợc Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh ấn hành
năm 2001, Sự tiến hoá liên tục của Nguyễn An Ninh, một lãnh tụ cách mạng
hùng biện của tác giả Hà Huy Giáp do Nxb TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1989.
Nghiên cứu chung về lịch sử xuất hiện và phát triển của báo chí Việt Nam
vào thời cận đại có công trình Lịch sử báo chì Việt Nam: 1865 - 1945 do Đỗ
Quang Hƣng chủ biên (Nxb ĐHQG 2002).
Về đóng góp của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh trong việc phát triển văn hoá
Việt Nam đầu thế kỷ XX, tác giả Nguyễn Thị Lệ Hà có công trình "Những đóng
góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chì tiếng Việt và truyền bá
chữ Quốc ngữ" đăng trên Tạp chì nghiên cứu Lịch sử số 5. 2004.
Về Phạm Quỳnh và đóng góp của tờ Nam Phong tạp chí, trƣớc đây có
Dƣơng Quảng Hàm đã đánh giá ông trong tác phẩm"Việt Nam văn học sử yếu"
xuất bản trƣớc năm 1945, khá coi trọng công lao của Phạm Quỳnh trong việc
phát triển Tiếng Việt và xây đắp nền Quốc văn.

16

Vân Chi có thể đƣợc coi là tiêu biểu nhất với tác phẩm: "Vấn đề phụ nữ trên báo
chì tiếng Việt trước năm 1945" (Nxb KHXH, H, 2008). Tác phẩm đã dựa vào tƣ

17

liệu báo chí tiếng Việt trƣớc năm 1945 để khảo cứu về vấn đề phụ nữ, tái hiện
lại cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ vào nửa đầu thế kỷ XX do các nhóm trí
thức tiến bộ bao gồm cả nữ trí thức tiến hành công khai trên báo chí.Tác giả đã
nhận định về phong trào nữ quyền nhƣ một phong trào mang lại sự tiến bộ cho
phụ nữ và gây ra ảnh hƣởng mới cho xã hội. Vận động cho nữ quyền cũng là
vận động cho giải phóng xã hội và giải phóng con ngƣời và do đó đây là một
phong trào vì mục tiêu dân chủ và tiến bộ rõ rệt.
Về phong trào dân chủ giai đoạn1936 - 1939 do Đảng lãnh đạo, đáng chú
ý có công trình chuyên khảo: "Lịch sử cuộc vận động ví các quyền dân sinh, dân
chủ ở Việt Nam (1936 - 1939)" của Phạm Hồng Tung do Nxb Chính trị Quốc gia
ấn hành năm 2008. Công trình đã cố gắng chỉ ra những đặc điểm chính yếu của
cuộc vận động vì dân sinh dân chủ giai đoạn 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản
Đông Dƣơng lãnh đạo với một đƣờng lối mới đúng đắn, một bƣớc chuẩn bị quan
trọng cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.
Nhóm các công trính thông sử Việt Nam đã đề cập đến các cuộc vận động
dân chủ ở Việt Nam thời kỳ 1904 - 1945 như:
Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập II) do Đinh Xuân Lâm chủ biên (Nxb
Giáo dục Hà Nội, 2005) trong giai đoạn 1858 - 1918 đã có khoảng 32 trang viết
về các phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục.
Trong giai đoạn 1919 - 1930, giáo trình đã dành 7 trang để đề cập đến các phong
trào dân chủ yêu nƣớc công khai từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến
năm 1930.
Về sự xuất hiện và hoạt động của các tổ chức yêu nƣớc và cách mạng ở
Việt Nam từ sau những năm 1920 nhƣ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
(HVNCMTN), Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ), Tân Việt Cách mạng

Về phong trào dân chủ giai đoạn 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản Đông
Dƣơng lãnh đạo, với hệ thống tƣ liệu phong phú và quan điểm đổi mới, 85 trang
là một dung lƣợng lựa chọn xứng đáng để có thể tái hiện khá đầy đủ các sự kiện
và đánh giá khá sâu sắc và toàn diện về đặc điểm ý nghĩa lịch sử của phong trào
với vị thế một phong trào có tầm quan trọng đối với thắng lợi của Cách mạng
tháng Tám.
Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945 đã đƣợc dành tới 134
trang viết. Với hệ thống tƣ liệu khá phong phú, công trình đã tái hiện và đánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status