: 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………… … PHẠM THỊ THU HIỀN
VAI TRÒ CỦA TỔNG THỐNG BILL CLINTON
TRONG VIỆC HOẠCH ĐỊNH
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỐI VỚI VIỆT NAM
VAI TRÒ CỦA TỔNG THỐNG BILL CLINTON
TRONG VIỆC HOẠCH ĐỊNH
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỐI VỚI VIỆT NAM Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60 22 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS.TRẦN THIỆN THANH
Mở đầu…………………………………………………………………….4
1.Mục đích và ý nghĩa của đề tài……………………………………………………….4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………………………………6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………………… 12
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu………………………………………….13
5. Cấu trúc luận văn……………………………………………………………………14
Chương 1: Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam trong nhiệm kì của Tổng
thống Bill Clinton…………… ……………………………………………….15
1.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt
Nam……………………………………………………………………………….15
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực……………………………………………………………15
1.1.2. Tình hình nước Mỹ………………………………………………………………………18
1.1.3. Lợi ích của Mỹ trong quan hệ với Việt Nam…………………………………………19
1.1.4. Chính sách đối ngoại và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế……………… 20
1.2. Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam trong nhiệm kì của Tổng thống Bill
Clinton …………… ………………………………………………………………… 22
1.3. Tiểu kết……………………………………………………………………………32
Chương 2: Vai trò của Tổng thống Bill Clinton trong việc hoạch định chính sách đối
ngoại đối với Việt Nam………………………………………………………… 33
2.1. Vai trò của Tổng thống Mỹ trong lĩnh vực đối ngoại…………………………… 33
2.1.1. Theo Hiến pháp………………………………………………………………….33
2.1.2. Các đạo luật khác……………………………………………………………….34
2.2. Một số nhân tố ảnh hưởng tới vai trò của Tổng thống trong lĩnh vực đối ngoại….37
2.2.1. Cá nhân Tổng thống Mỹ……………………………………………………… 37
2.2.2. Sự kiềm chế của Quốc hội……………………………………………………….38
2.2.3. Vấn đề lợi ích quốc gia……………………… ……………………………… 39
2.3. Vai trò của Tổng thống Bill Clinton trong việc hoạch định chính sách đối ngoại đối với
Việt Nam………………………………………………………………………… 40
2.3.1. Trên lĩnh vực kinh tế…………………………………………………………….40
2.3.2. Trên lĩnh vực ngoại giao……………………………………………………… 47
: 6
DANH MỤC TÀI LIỆU VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á–Thái Bình Dương
EU European Union
Liên minh châu Âu
IMF International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
MIA Missing in Action
Mất tích trong chiến tranh
MFN Most Favoured Nation
Quy chế tối Huệ quốc
POW Prisoner of War
Tù binh trong chiến tranh
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
WB Worl Bank
Ngân hàng thế giới
USAID United States Agency for International Development
Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ
Eximbank Ngân hàng xuất nhập khẩu
Mỹ. Từ khi lập nước cho đến nay, hầu hết các Tổng thống Mỹ đương nhiệm đều đưa ra học
thuyết của mình như: học thuyết Roosevelt, học thuyết Truman, học thuyết Nixon, học thuyết
Bush… Mỗi học thuyết đều thể hiện những mục tiêu, lợi ích và nội dung chính sách đối
ngoại toàn cầu và khu vực của Mỹ ở những giai đoạn nhất định. Vì vậy, việc nghiên cứu quá
trình hoạch định chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ cũng như các nhân tố tác động đến
quá trình đó sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ hơn vai trò của Tổng thống trong lĩnh vực đối
ngoại và sự phối hợp cũng như kiềm chế của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Mỹ.
1.3. Trong lịch sử, quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam trải qua nhiều biến động và thăng
trầm do những biến động của tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á. Từ năm 1954 –
: 8
1975, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ là quan hệ giữa một nước xâm lược với một nước chống
xâm lược, giữa một bên đại diện cho hệ thống Tư bản chủ nghĩa và một bên đại diện cho
ngọn cờ cộng sản chủ nghĩa. Sau chiến thắng mùa Xuân 1975, Mỹ thi hành triệt để chính
sách bao vây cấm vận Việt Nam. Trước sự biến chuyển của tình hình thế giới, khu vực châu
Á – Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng, đặc biệt là sự đổi mới
toàn diện của Việt Nam từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX đã buộc Mỹ phải điều chỉnh
chính sách đối ngoại cho phù hợp với sự thay đổi đó. Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam
đã có những bước chuyển biến khá rõ nét, đặc biệt dưới chính quyền Clinton. Bill Clinton là
Tổng thống đầu tiên sau Chiến tranh Lạnh, trong hai nhiệm kì của mình đã đặc biệt quan tâm
đến quan hệ giữa hai nước. Tổng thống Bill Clinton có vai trò quan trọng trong việc điều
chỉnh chính sách đối ngoại với Việt Nam như bãi bỏ cấm vận, bình thường hóa quan hệ
ngoại giao, ký kết Hiệp định thương mại song phương… Những quyết định đó đem lại cho
Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời làm thay đổi vị trí của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và các
nước khác trên thế giới. Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Bill Clinton
đối với Việt Nam đã tạo nền tảng cho các Tổng thống sau đó như G.W. Bush và Obama tiếp
tục cải thiện chính sách trong quan hệ với Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình hoạch
định chính sách đối ngoại của Tổng thống Bill Clinton đối với Việt Nam sẽ cho ta cái nhìn
khái quát hơn về vị trí của Việt Nam trong chiến lược đối ngoại của Mỹ và ý nghĩa của các
quyết định đối ngoại của Mỹ với Việt Nam.
sự kiềm chế của Quốc hội Tác giả, trên cơ sở phân tích, đã đưa ra những minh chứng cụ thể
để chứng minh cho luận đề của mình. Ví dụ, để chứng minh sự kiềm chế cũng như sự giám
sát của Quốc hội đối với Tổng thống trong các quyết định bổ nhiệm bằng việc yêu cầu Tổng
thống ra điều trần trước Uỷ ban Thượng viện, tác giả đã đưa ra dẫn chứng về Tổng thống
Bush và tổng thống Bill Clinton; trên cơ sở Đạo luật tình huống 1972, tác giả đã phân tích
làm rõ mối quan hệ giữa Tổng thống và Quốc hội trong việc thông qua một đạo luật hay một
điều ước quốc tế….
- Cuốn “American Trade Politics” của I.M. Destler (Insutitue for International
Economics 1995) đề cập quyền lực của Tổng thống và Quốc hội trong lĩnh vực thương mại.
Dựa trên các đạo luật như: Hiến pháp, Đạo luật các Hiệp định thương mại có đi có lại năm
1934, Đạo luật Thương mại 1974… tác giả đã đi sâu phân tích và lý giải tại sao quyền lực
của Tổng thống trên lĩnh vực này được tăng lên rồi bị hạn chế.
: 10
Hai là, các bài viết, công trình đề cập đến vai trò của Tổng thống Bill Clinton trong
quá trình hoạch định chính sách đối ngoại với Việt Nam từ 1993-2000 có thể thể kể đến:
- Richard C.Halbrooke (2001) với tác phẩm “An American in Hanoi: American’s
reconciliation with Vietnam”, New York Norwal đã tập trung phân tích, lý giải tại sao người
Mỹ lại có mặt ở Hà Nội sau chiến tranh Việt Nam. Đúng như nhan đề tác phẩm, sự định hình
cho quan hệ Việt Nam bắt đầu từ bản lộ trình bốn điểm của Tổng thống Bush và kết quả cho
mối quan hệ hai nước là những quyết định bình thường hoá đầy đủ trên lĩnh vực ngoại giao
và kinh tế của Tổng thống Bill Clinton. Tác gỉả đã khẳng định sự quan tâm của Mỹ khi ở
Việt Nam là vấn đề Campuchia và đặc biệt là POW/MIA.
- Bài viết “Vietnam's Post - Cold War Diplomacy and the U.S” của Allan E. Goodman
Source (Asian Survey, Vol. 33, No. 8 (Aug, 1993)) đã đề cập đến những nhân tố tác động
đến quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Tổng thống Bill Clinton như vấn đề POW/
MIA, dư luận quốc tế… Liên quan đến vấn đề này, tác giả đã phân tích rõ các yếu tố ủng hộ
hoặc phản đối quyết định của Tổng thống. Đồng thời, Allan E. Goodman Source cũng đã đề
cập cam kết của Tổng thống Bill Clinton trước Quốc hội Mỹ về vấn đề POW/MIA trong tiến
trình bình thường hoá quan hệ thương mại với Việt Nam.
- Bài viết của Brantly WomackSource với nhan đề “Vietnam in 1995: Successes in
quyền hạn nhất định trong lĩnh vực đối ngoại như: đại diện cho quốc gia ký kết điều ước
quốc tế, bổ nhiệm đại sứ, tiếp đón đại sứ; là tổng tư lệnh lực lượng vũ trang. Tuy nhiên,
quyền lực của Tổng thống Mỹ luôn chịu sự kiềm chế của một cơ quan khác, đó chính là
Quốc hội Mỹ. Hai viện trong Quốc hội, đặc biệt là Thượng viện Mỹ có ảnh hưởng lớn đến
vai trò của Tổng thống Mỹ. Quốc hội đã ban hành một số đạo luật như: Luật thương mại,
Nghị quyết về Quyền chiến tranh để kiềm chế quyền lực của Tổng thống.
- Vũ Dương Huân trong cuốn “Hệ thống chính trị Mỹ, cơ cấu và tác động đối với quá
trình hoạch định chính sách đối ngoại” đã có những lập luận và phân tích khá tỉ mỉ về quyền
hạn và vai trò của Tổng thống trong lĩnh vực đối ngoại. Tác giả đã đề cập đến sự mở rộng
quyền lực của Tổng thống trong tiến trình lịch sử, sự vượt quyền của các Tổng thống trong
hoạch định cũng như triển khai chính sách đối ngoại. Bên cạnh việc đề cập đến vai trò của
Tổng thống Mỹ, Vũ Dương Huân đã đưa ra một số nhân tố tác động đến việc hoạch định
chính sách đối ngoại của chính quyền Mỹ như: sự kiềm chế của Quốc hội, các tổ chức chính
trị xã hội, phương tiện truyền thông, các nhóm lợi ích Mỹ…
Thứ hai, cũng như các học giả nước ngoài, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã dành
khá nhiều trang viết và công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam
: 12
thời Tổng thống Bill Clinton cũng như vai trò và ảnh hưởng của các quyết định của tổng
thống đến Việt Nam.
- Cuốn “Hoa Kì: cam kết và mở rộng” (Chiến lược toàn cầu mới của Mỹ), (1997), Nhà
xuất bản Khoa học Xã Hội, Hà Nội của tác giả Lê Bá Thuyên đề cập đến chiến lược đối
ngoại mới của chính quyền Clinton với mục đích khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế
giới. Trong tác phẩm này, tác giả đã tập trung đi vào phân tích các mục tiêu, lợi ích của Mỹ;
nội dung chính sách đối ngoại đối với thế giới, các khu vực liên quan và quá trình triển khai
chính sách đó trên thực tế. Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ chính sách đối ngoại của chính
quyền Clinton đối với Việt Nam.
- Lê Văn Quang (2005) với tác phẩm “Quan hệ Việt - Mỹ thời kì sau Chiến tranh
Lạnh (1990 - 2000)”, NXB Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện khá sinh
động quan hệ Việt Nam và Mỹ trong một thời gian dài. Tác giả đã khái quát lại quan hệ Việt
- Mỹ qua các thời kì, chính sách đối với Việt Nam của các Tổng thống như Reagan, Bush và
Mỹ, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Emiko Fukase và Will Martin, (1999), Ảnh
hưởng của việc Mỹ trao quy chế Tối huệ quốc cho Việt Nam, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số
6, tr 69 – 74… Các công trình trình nghiên cứu cũng như các bài viết này đã cũng cấp những
thông tin về chính sách đối ngoại cũng như nhận định đánh giá về các quyết định của Tổng
thống Bill Clinton.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của giới học giả, cuốn Hồi ký “MyLife” của Cựu
tổng thống Bill Clinton và Hồi kí của Hillary Clinton (hiện đã được dịch ra tiếng Việt) đã
cung cấp cho chúng ta thông tin khá hữu ích trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại
của Tổng thống; những nhân tố ảnh hưởng cũng như các kết quả đạt được khi triển khai
chính sách đó ở các khu vực, các nước cụ thể, trong đó có Việt Nam trong hai nhiệm kì từ
1993 – 2001.
Có thể nói, các học giả trong và ngoài nước đều thể hiện sự quan tâm của mình đến
quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ. Những bài viết đó là nguồn
tài liệu phong phú giúp tác giả đánh giá nhận định vai trò và quyền hạn của Tổng thống trên
lĩnh vực đối ngoại nói chung. Tuy nhiên, khi đề cập đến vai trò hoạch định chính sách đối
ngoại của Tổng thống Bill Clinton đối với Việt Nam, dường như chưa có một công trình
nghiên cứu cụ thể nào. Các bài viết cũng như các tác phẩm của các học giả trong và ngoài
nước chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề hoặc phân tích một số khía cạnh nhất định như: vấn đề
POW/MIA, quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận 1994, quyết định bình thường hoá quan hệ ngoại
giao với Việt Nam 1995, chuyến thăm của Tổng thống đến Việt Nam năm 2000 hay những
: 14
bất đồng trong quan điểm giữa Quốc hội về vấn đề Việt Nam, quan hệ Việt - Mỹ trong một
giai đoạn cụ thể… Các công trình nghiên cứu, các bài viết chưa làm rõ chính sách đối ngoại
của Tổng thống Bill Clinton đối với Việt Nam, những nhân tố tác động và đánh giá vai trò
của Tổng thống trong lĩnh vực này. Dựa vào các nguồn thông tin hữu ích này, tác giả đã tập
hợp các tài liệu, phân loại các tài liệu và trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích các vấn đề để hoàn
thành nhiệm vụ và mục tiêu của luận văn là vai trò của Tổng thống Bill Cinton trong việc
hoạch định chính sách đối ngoại với Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ vai trò của Tổng thống Bill
Carter, G. Bush và Tổng thống sau này như G.W Bush hay so sánh trường hợp của Việt Nam
với các nước khác như Cuba trong việc dỡ bỏ lệnh cấm vận … để thấy được sự linh hoạt
nhạy bén và đóng góp của Tổng thống Bill Clinton. Trên cơ sở các nguồn tư liệu có được,
chúng tôi đã phân tích, tổng hợp và đánh giá những đóng góp, mức độ thực thi quyền lực của
Tổng thống Bill Clinton trong lĩnh vực đối ngoại trên cơ sở của Hiến pháp. Bên cạnh đó, đây
là đề tài đề cập đến quan hệ quốc tế nên tác giả còn vận dụng phương pháp quốc tế học,
phương pháp luật học, phương pháp chính trị học. Việc sử dụng các phương pháp đặc thù
trên là ưu thế của đề tài so với nhiều công trình khác bởi lẽ, các phương pháp này chúng tôi
có được cái nhìn tổng quát, khách quan, chính xác hơn và vấn đề được khai thác nhiều chiều
hơn.
5. Cấu trúc của luận văn
Với tiêu đề “Vai trò của Tổng thống Bill Clinton trong việc hoạch định chính sách
đối ngoại đối với Việt Nam”, ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu làm ba chương:
Chương 1: Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam trong nhiệm kì của Tổng
thống Bill Clinton.
Chương 2: Vai trò của Tổng thống Bill Clinton trong việc hoạch định chính sách đối
ngoại đối với Việt Nam.
Chương 3: Nhận xét về vai trò của Tổng thống Bill Clinton trong việc hoạch định
chính sách đối ngoại đối với Việt Nam.
Trong ba chương đóng góp mới của luận văn thể hiện rõ nét ở chương 2 và đặc biệt là
ở chương 3. Trong chương 3, tác giả luận văn đánh giá vai trò của Tổng thống trong việc
hoạch định chính sách đối ngoại với Việt Nam, những nhân tố ảnh hưởng, mức độ thực thi
quyền lực của Tổng thống so với những quy định trong Hiến pháp và các đạo luật, so các đời
: 16
Tổng thống trước đó trong chiến tranh Việt Nam và so với bản thân Bill Clinton trong chính
sách đối với các nước khác.
Do hạn chế về thời gian, tư liệu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng
tôi mong nhận được sự bổ sung, góp ý, phê bình để có thể tiếp tục hoàn thiện và mở rộng
hướng nghiên cứu trong các đề tài tiếp theo.
phải tất cả các nguy cơ an ninh đều cấp bách hoặc dính dáng đến quân sự. Những vấn đề
xuyên quốc gia như chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu, ô nhiễm môi trường… cũng gây ra những
tác động về anh ninh cả trước mắt và lâu dài. Ngoài ra, hàng loạt vấn đề môi trường xuyên
quốc gia nổi lên cũng gây ảnh hưởng ngày càng lớn đến ổn định quốc tế và do đó sẽ trở thành
thách thức mới đối với các nước” [29, tr. 47-48]. Do đó, trong khi tạo dựng mối quan hệ với
Việt Nam, chính quyền Mỹ luôn khẳng định sự quan tâm của mình đến các vấn đề này thông
qua bài phát biểu của mình và chuyến thăm cấp cao của tổng thống Bill Clinton tới Việt Nam
năm 2000.
Thứ ba, cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật mới bắt đầu từ năm 1970, đặc biệt là cách
mạng trong lĩnh vực thông tin phát triển mạnh đã tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội; thúc đẩy xu hướng liên kết và hợp tác kinh tế. Đây vừa là thời cơ vừa là
thách thức đối với các nước trong việc xây dựng đường lối chính sách, định hướng mục tiêu
phát triển. Nhân tố này có tác động mạnh đến quan hệ Việt - Mỹ. Những thành tựu mới của
khoa học kĩ thuật, ưu thế về vốn và trình độ quản lý kinh doanh làm cho lực lượng sản xuất
của Mỹ phát triển nhanh, dẫn đến nhu cầu mở rộng thị trường. Trong khi đó, với nguồn lao
động rẻ và phong phú về tài nguyên đã tạo nên một thị trường tiềm năng, hấp dẫn các nhà
đầu tư, các doanh nghiệp Mỹ ở Việt Nam. Đồng thời, cơ hội cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ
giúp Việt Nam đi tắt đón đầu các thành tựu khoa học công nghệ mới phục vụ phát triển đất
nước. Xuất phát từ nhu cầu đó, chính quyền Mỹ dần thay đổi chính sách đối với Việt Nam.
1.1.1.2. Bối cảnh khu vực Đông Nam Á
Sau Chiến tranh Lạnh, tình hình các nước Đông Nam Á có những chuyển biến lớn:
Một là, sau Chiến tranh Lạnh, mâu thuẫn giữa Mỹ với các nước Indonesia, Malaisia
và Singapore về vấn đề nhân quyền và thương mại ngày càng trở nên gay gắt. Đồng thời,
tranh chấp lịch sử giữa Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác về quần
đảo Trường Sa đã đe dọa hòa bình và an ninh khu vực.
Hai là, nằm trong khu vực có nền kinh tế năng động nhất thế giới, khu vực châu Á –
Thái Bình Dương, các nước Đông Nam Á đã tăng cường đổi mới công nghệ, tranh thủ nguồn
vốn và kĩ thuật từ bên ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế. Sự tồn tại của các cường quốc
: 18
trong khu vực đã trở thành những thực thực thể có trọng lượng về kinh tế - chính trị đe dọa vị
: 19
sách của IMF trong khi các nước G7 chỉ đóng từ 3-7%; Mỹ chiếm 38% cổ phần của WB),
Mỹ đã có tiếng nói và chi phối tới các tổ chức quốc tế lớn [30, tr. 24].
Về khoa học công nghệ, Tổng thống Bill Clinton cho rằng “đầu tư công nghệ là đầu tư
vào tương lai của nước Mỹ” [42, tr. 37], an ninh quốc phòng và anh ninh kinh tế gắn bó chặt
chẽ với nhau. Mỹ đã điều chỉnh chính sách khoa học và công nghệ phù hợp với nhu cầu phục
hưng kinh tế Mỹ và tăng cường quân sự Mỹ. Tính riêng trong năm 1996, Mỹ có 4,63 triệu
nhà khoa học. Đầu tư cho khoa học công nghệ mỗi năm lên tới 150 tỷ USD [9, tr .106].
Về tiềm lực quốc phòng: Ngân sách đầu tư cho lĩnh vực này liên tục tăng, chiếm 41%
ngân sách quốc phòng của thế giới. Năm 1990, Mỹ chi 324,6 tỷ USD; 1999 là 263,1 tỷ USD
và năm 2000 là 273,8 tỷ USD [42, tr. 38]. Mỹ là quốc gia có tiềm lực về vũ khí hạt nhân,
không quân, hải quân và vũ khí kĩ thuật cao. Trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, loại
bom thông minh được sử dụng 10% thì đến cuộc không kích Kosovo (Nam Tư) năm 1999 là
70%, trong cuộc chiến tranh ở Afganistan là 90%. Mỹ tiếp tục phát triển hệ thống phòng thủ
tên lửa quốc gia để tăng cường tiềm lực hạt nhân, vô hiệu hóa hoàn toàn các hệ thống tên lửa
tấn công của đối phương.
Mặt khác, trong vấn đề chính trị và đối ngoại của Mỹ xuất hiện nhiều xung đột. Nhân
dân Mỹ không hài lòng với thực trạng kinh tế và gây sức ép đối với chính phủ Mỹ. Mâu
thuẫn về chủng tộc (đặc biệt vụ Los Angeles), sự cắt giảm chi tiêu trong giáo dục khiến
“nhiều trường đại học, trung học và tiểu học bị cắt giảm kinh phí 6%; đến nay có khoảng 3/4
trường đại học thu không đủ chi. Đại học Quốc lập Caliphoocnia giảm hơn 1000 người, buộc
phải đóng cửa 5000 lớp”[3, tr. 82]. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh Việt Nam đã tiêu tốn của
Mỹ không ít tiền của; đặc biệt, giữa Tổng thống và Quốc hội, các thành viên của Đảng Dân
chủ và Đảng Cộng hòa, giữa các nhóm lợi ích, giữa người Mỹ với nhau bị bao phủ bởi “Hội
chứng Việt Nam” trong lòng nước Mỹ.
Như vậy, nước Mỹ cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI vừa có những lợi thế nhất định vừa
phải đối mặt với một loạt các thách thức mới nảy sinh. Do đó, để nâng cao thế và lực trên
trường quốc tế, Mỹ đã phải thay đổi chính sách đối ngoại của mình, trong đó có Việt Nam.
1.1.3. Lợi ích của Mỹ trong quan hệ với Việt Nam
Với sự biến đổi của khu vực Đông Nam Á và những thành quả trong quá trình đổi mới
Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế vào những năm 80 của thế kỉ XX đang bị suy
giảm nghiêm trọng bởi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tình trạng bị cô lập, bao vây cấm vận từ
Mỹ và các thế lực thù địch. Trước những yêu cầu cấp bách, Việt Nam đã chuyển hướng
chính sách đối ngoại để phù hợp với tình hình mới. Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986),
: 21
Việt Nam chính thức thông qua đường lối đổi mới, trong đó dành ưu tiên cho cải cách kinh tế
toàn diện và từng bước mở cửa, hội nhập với thế giới bên ngoài. Trên cơ sở mục tiêu kinh tế
là số một, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (12/1986) đã đề ra chủ trương “kiên trì
thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình và hữu nghị” [4, tr. 105] với tất cả các nước, không
phân biệt chế độ chính trị - xã hội, mở rộng quan hệ kinh tế, kĩ thuật với các nước, trong đó
có “các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên
tắc bình đẳng cùng có lợi” [4, tr. 81]. Về nhiệm vụ, phương châm và tư tưởng chỉ đạo chính
sách đối ngoại, Việt Nam chủ trương giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ
nghĩa xã hội, đồng thời phải sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và
hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như tình hình thế giới và khu vực.
Với phương thức nhiệm vụ đề ra, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung
Quốc vào năm 1991; kí Hiệp định khung về hợp tác với EU vào năm 1995, gia nhập ASEAN
(1995), thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước ở Mỹ La Tinh, Úc,… Đặc biệt, Hiệp định
Paris về Campuchia (21/10/1991) “đã giải tỏa những cản trở cuối cùng trên con đường triển
khai chính sách đối ngoại của chúng tôi là bình thường hóa, đa dạng hóa và sẵn sàng hợp tác
với tất cả các nước, trước hết là các nước Đông Nam Á và rộng hơn ở châu Á – Thái Bình
Dương trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi” [2, tr. 79 - 80]. Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam
chủ trương bình thường hoá quan hệ với Mỹ là chủ trương đối ngoại quan trọng, đáp ứng
nguyện vọng đông đảo của nhân dân hai nước, sẽ có lợi cho hoà bình và ổn định ở khu vực
Đông Nam Á. Đảng chủ trương, một mặt Việt Nam cần cảnh giác với âm mưu “diễn biến
hòa bình” của Mỹ; mặt khác cần nhận thức rõ tầm quan trọng của Mỹ đối với thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ sẽ giúp Việt
Nam thoát khỏi thế bị cô lập, khai thông và mở đường cho ngoại giao đa phương và tạo cho
Việt Nam một tư thế thuận lợi trong việc hợp tác nhiều mặt với các nước trên thế giới.
Như vậy, có thể nói với sự thay đổi đường lối đối ngoại của Đảng ta từ 1986 cho đến
quan hệ đồng minh an ninh nòng cốt trong những năm gần đây, trong khi thúc đẩy các quan
hệ hợp tác với các nước khác trong khu vực” [46, tr. 4], trong đó có Việt Nam. Có thể nói,
chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam được xây dựng trên cơ sở những mục tiêu của
chiến lược khu vực châu Á – Thái Bình Dương và lợi ích của Mỹ.
Mặt khác, Việt Nam nằm trên đường vành đai châu Á – Thái Bình Dương, cầu nối
Đông – Nam Á với Đông – Bắc Á, nằm án ngữ giao điểm các eo biển huyết mạch nối liền
: 23
Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Do đó, trong quá trình xây dựng chính sách mới, Mỹ
cần quan tâm đến nhiều yếu tố:
Một là, sự rút lui quân sự của Nga, sự cắt giảm vũ khí quân sự của Mỹ ở khu vực này
đã tạo nên “khoảng trống quyền lực” và cơ hội cho các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc,
Nhật Bản.
Sau cải cách mở cửa năm 1979 đến đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc nhanh chóng trở
thành một nước có nền kinh tế năng động trong khu vực và tạo dựng uy tín trên trường quốc
tế. Năm 1996, Trung Quốc trở thành “nước đối thoại toàn diện” của ASEAN và năm 1997,
Uỷ ban hợp tác hỗn hợp Trung Quốc – ASEAN đã ra đời, hai bên nhất trí thiết lập quan hệ
đối tác láng giềng thân thiện, tin cậy và hợp tác toàn diện hướng tới thế kỉ XXI. Về kinh tế,
trong 20 năm cải cách mở cửa (1979 - 1998), tốc độ tăng trưởng bình quân GDP bình quân
hàng năm là 9,8% và đứng hàng thứ bảy thế giới về GDP [8, tr. 556]. Để khẳng định vị thế
của mình, Trung Quốc cũng giống như tất cả các cường quốc khác đều muốn hướng ra bên
ngoài với tham vọng bá cường. Trong những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, Trung
Quốc có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các điểm nóng trong khu vực như vấn đề
Campuchia và tiến trình phát triển của khu vực. Với vị trí bên cạnh Đông Nam Á đồng thời
cùng chung khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, với sức mạnh đang lên, Trung Quốc đã
nhanh chóng hoạch định chính sách mới, lấy Đông Nam Á làm khu vực trọng yếu trong
chiến lược tiến ra phía Nam với tham vọng trở thành cường quốc thế giới. Đây là một trong
các cường quốc đang lên đe dọa đến lợi ích của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.
Đông Nam Á đối với Nhật cũng trở thành một địa bàn quan trọng hàng đầu trong
chính sách đối ngoại vì đây vừa là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên, thị trường với nguồn
nhân công rẻ cho kinh tế Nhật vừa là điểm hấp dẫn đầu tư buôn bán. Thủ tướng Kaifu từng
Bốn là, chiến tranh Việt Nam – “một cuộc chiến tranh dài nhất và không mong muốn
nhất của đất nước đã ám ảnh người dân Mỹ bởi quy mô, tính khốc liệt và tàn bạo của nó.
Cuộc chiến tranh này kéo dài từ tháng 7/1954 đến tháng 4/1975 với năm đời Tổng thống từ
D.Eisenhower, Jonh K. Kennedy, Johnson, R.Nixon đến G. Ford. Cuộc chiến tranh này đã
làm hao tổn quá nhiều sức người sức của của Mỹ. Chính quyền chi 676 tỷ USD, 58.000 quân
Mỹ bỏ mạng và khoảng 304.000 người bị thương, tàn phế suốt đời. Chiến tranh kết thúc,
nước Mỹ phải hứng chịu một thảm kịch lớn đó là cuộc sống của hàng triệu người Mỹ bị tan
vỡ, lòng tin của người dân đối với chính phủ bị suy giảm và đặc biệt là những binh lính Mỹ
đã tham chiến ở Việt Nam phải hứng chịu những hậu quả to lớn. Trong số 304.000 bị
thương, có 153.329 người bị thương nặng phải nằm viện dài ngày và Lầu Năm Góc cũng
: 25
thừa nhận có đến 20.000 lính Mỹ bị nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam [54, tr. 7]. Ngoài ra
có gần 350.000 cựu binh khác bị giải ngũ một cách không vinh dự, không được đảm bảo việc
làm, không được tôn trọng sau khi về nước [15, tr. 52].
Bên cạnh đó, hầu hết lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam đều nghiện thuốc lá, rượu, thậm
chí là Heroin, thậm chí bị mắc chứng rối loạn thần kinh (ước tính có 70.000 cựu binh Mỹ
mắc bệnh) [14, tr. 487]. Mặt khác, các gia đình có người Mỹ mất tích cũng gây sức ép đến
chính quyền Mỹ. Chính điều đó đã khiến các vấn đề liên quan đến Việt Nam, đặc biệt là vấn
đề POW/MIA trở nên hết sức nhạy cảm. Đồng thời, “Hội chứng Việt Nam” có tác động lớn
đến một bộ phận chính giới và cựu binh Mỹ. Do đó cải thiện quan hệ với Việt Nam giúp Mỹ
vượt qua sự chia rẽ trong xã hội Mỹ về quá khứ.
Trên cơ sở những nhân tố trên, chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam nhằm
tới ba mục tiêu:
Thứ nhất, ngăn chặn ảnh hưởng của các nước lớn, khẳng định vai trò của Mỹ trong
việc duy trì an ninh khu vực;
Thứ hai, bình thường hóa quan hệ ngoại giao và kinh tế với Việt Nam;
Thứ ba, xây dựng chỗ đứng và duy trì ảnh hưởng ở Việt Nam.
Với mục tiêu đặt ra, chính sách đối ngoại của Mỹ với Việt Nam dưới chính quyền Bill
Clinton được thể hiện trên những nội dung sau:
Về chính trị - ngoại giao, với mục tiêu tăng cường quan hệ của mình với các nước