ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HOÀN
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2006 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VỚI KHU VỰC ĐễNG
NAM Á TRONG GIAI ĐOẠN 1995 - 2001 15
1.1. NHèN LẠI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TRONG
NHỮNG NĂM 1986 - 1995 15
1.1.1. Sự chuyển biến của tỡnh hỡnh thế giới và khu vực 15
1.1.2. Sự hỡnh thành đƣờng lối đối ngoại đổi mới từ Đại hội VI (1986) đến
Đại hội VII (1991) 20
1.1.3. Đảng lónh đạo đƣa Việt Nam gia nhập ASEAN (1986 - 1995) 35
1.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VỚI KHU VỰC ĐễNG NAM Á
TRONG NHỮNG NĂM 1995 - 2001 VÀ SỰ ĐểNG GểP CỦA VIỆT NAM VÀO
CÁC HOẠT ĐỘNG AN NINH - CHÍNH TRỊ KHU VỰC 45
1.2.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực 45
1.2.2. Đại hội VIII (1996) và những điều chỉnh trong chớnh sỏch đối ngoại
của Đảng 51
1.2.3. Sự tham gia và đúng gúp tớch cực của Việt Nam vào cỏc hoạt động
chớnh trị - an ninh khu vực 56
1.3. TĂNG CƢỜNG QUAN HỆ HỮU NGHỊ VÀ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC
HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC KHU VỰC 60
1.3.1. Tăng cƣờng quan hệ chớnh trị và hợp tỏc kinh tế song phƣơng với
một số nƣớc trong khu vực 60
1.3.2. Tham gia hợp tỏc kinh tế trong khuụn khổ ASEAN 77
1.3.3. Tham gia hợp tỏc chuyờn ngành trong khuụn khổ ASEAN 81
Tiểu kết chƣơng 1 84
3.1.2. Từ năm 1995 đến năm 2006 chớnh sỏch đối ngoại của Đảng với khu
vực Đụng Nam Á nhằm phỏt triển quan hệ hợp tỏc toàn diện và đó đạt một
số thành tựu quan trọng 156
3.1.3. Trong những năm 1995 -2006 chớnh sỏch đối ngoại của Đảng với
khu vực Đụng Nam Á cũn bộc lộ một số hạn chế 159
3.1.4. Trong thời gian tới chớnh sỏch đối ngoại của Đảng với khu vực
Đụng Nam Á đứng trƣớc nhiều thỏch thức mới 162
3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 171
KẾT LUẬN 196
DANH MỤC CễNG TRèNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIấN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 200
TÀI LIỆU THAM KHẢO 201
PHỤ LỤC 218
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Việt
Tiếng Anh
ACFTA
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
ASEAN-China Free Trade
Area
AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN Economic
Community
Community
ASCC
Cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN
ASEAN Socio Cultural
Community
ASEAN
Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á
Association of South East
Asian Nations
ASEM
Hội nghị Á- Âu
Asia - Europe Meeting
BCT
Bộ Chính trị
BCHTƢ
Ban chấp hành trung ƣơng
CEPT
Hiệp định về Thuế quan Ƣu đãi có hiệu lực
chung
Common Efective
Preferential Tariff
CHDCND
Cộng hoà dân chủ nhân dân
CHND
Cộng hoà nhân dân
JIM
Hội nghị không chính thức Gia các ta về
Campuchia
Jakarta Informal Meeting
NXB
Nhà xuất bản
PMC
Hội nghị sau Hội nghị Bộ trƣởng ASEAN
Post Ministerial Conferences
SEATO
Tổ chức Hiệp ƣớc Đông Nam Á
Southeast Asian Treaty
Organization
SEOM
Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp ASEAN
Senior Economic Official
Meeting
SOM
Cuộc họp các quan chức cao cấp
Senior Official Meeting
USD
Đô la Mỹ
United State Dollar
WTO
Tổ chức thƣơng mại thế giới
World Trade Organization
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam với các nƣớc Đông Nam Á dƣới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là từ khi
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (7/1995) cần đƣợc nghiên
cứu và làm sáng tỏ.
Ở thời điểm hiện tại, quan hệ giữa Việt Nam với các nƣớc trong khu vực vẫn
tiếp tục phát triển với những thành tựu và những hạn chế. Do vậy nghiên cứu chính
sách đối ngoại của Đảng với khu vực Đông Nam Á trong đó có tổ chức ASEAN từ
năm 1995 đến năm 2006 một cách hệ thống, toàn diện là một việc làm cần thiết, có ý 2
nghĩa lý luận và thực tiễn. Thông qua đó, một mặt, chúng ta có thể đánh giá những
thành tựu cũng nhƣ hạn chế của chính sách đối ngoại mà ĐCSVN đề ra với khu vực
trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc; góp phần tăng cƣờng và thúc
đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam với các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á, từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm trong việc xử lý quan hệ với các nƣớc khu vực, giúp
chúng ta có thêm cơ sở khoa học để tiếp tục hoàn thiện đƣờng lối, chính sách đối
ngoại đƣa Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới. Mặt khác, luận án cung cấp
thêm một số tƣ liệu về quan hệ của Việt Nam với các nƣớc trong khu vực, đồng thời,
phục vụ công tác giảng dạy môn Lịch sử nói chung, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đƣờng lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Đó chính là những lý do cơ bản để tác giả chọn đề tài cho Luận án Tiến sĩ
Lịch sử của mình: “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với khu
vực Đông Nam Á từ năm 1995 đến năm 2006”
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng từ lâu đã thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nƣớc, nhiều ngành khoa học khác nhau
bởi vị trí và vai trò trong lịch sử.
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, nhiều cơ quan
chuyên môn nghiên cứu chuyên về Đông Nam Á và ASEAN nhƣ: Viện Nghiên cứu
Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Ngoại giao - Bộ
và triển vọng” [145];“Việt Nam - Đông Nam Á: Quan hệ lịch sử văn hoá”[179];
“Liên kết kinh tế ASEAN vấn đề và triển vọng” [148]; “Hội nhập kinh tế khu vực
của một số nước ASEAN” [67]; “Quan hệ Việt Nam - ASEAN và chính sách xuất
nhập khẩu của Việt Nam” [79]; “Quan hệ thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và
các nước thành viên ASEAN” [155]; “ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam” [117];
“Việt Nam - ASEAN quan hệ đa phương và song phương” [125]; “Việt Nam trong
ASEAN nhìn lại và hướng tới” [146]
Trong cuốn “Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ
XXI” [84] tác giả Trần Khánh đã phân tích những vấn đề nóng bỏng tạo nên diện mạo
và xu hƣớng phát triển của Đông Nam Á hiện nay. Xem xét Đông Nam Á trong các
vòng xoáy chiến lƣợc đƣợc tạo nên bởi xu thế toàn cầu hoá và sự thay đổi địa chính trị 4
khu vực, quá trình hợp tác trên nhiều cấp độ đa phƣơng, khu vực, song phƣơng trên các
lĩnh vực chính trị và kinh tế đã cho thấy những chuyển động khá phức tạp của ASEAN
hiện nay. Những cơ hội và thách thức đối với khu vực và từng nƣớc cho thấy nhu cầu
cần phải cải cách và đẩy mạnh hội nhập sâu rộng hơn nữa nhằm tạo lập khu vực Đông
Nam Á hoà bình, ổn định, năng động và có tính cạnh tranh cao.
“ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam” [117] của các tác giả Đào Huy Ngọc,
Nguyễn Phƣơng Bình, Hoàng Anh Tuấn gồm 3 phần. Phần thứ nhất đã trình bày sự
ra đời của tổ chức ASEAN và quá trình hợp tác giữa các nƣớc ASEAN trong các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá. Phần thứ hai là sự hội nhập của Việt Nam vào
ASEAN. Trong phần này cuốn sách đã đề cập đến hai nội dung lớn là quan hệ Việt
Nam - ASEAN từ 1967 - 1995 và những vấn đề và triển vọng của Việt Nam khi tham
gia ASEAN. Phần thứ ba nêu ra một số nhận xét chung. Khi trình bày quan hệ Việt
Nam - ASEAN trong những năm 1967 - 1995 các tác giả đã tập trung phân tích mối
quan hệ ấy ở ba giai đoạn 1967 - 1978; 1979 - 1991; 1992 - 1995 tƣơng ứng với mỗi
giai đoạn là những dấu mốc lịch sử đánh dấu những thăng trầm trong quan hệ hai
bên. Các tác giả đã đề cập một số vấn đề đặt ra đối với việc Việt Nam hội nhập
thấy thực trạng hợp tác, liên kết kinh tế ASEAN - Trung Quốc với những thuận lợi,
khó khăn, triển vọng và ảnh hƣởng của ACFTA đối với Việt Nam và các nƣớc trong
khu vực cũng nhƣ tác động trên lĩnh vực an ninh - chính trị và các lĩnh vực khác.
Tác giả Vũ Văn Hà trong cuốn “Quan hệ Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản
trong bối cảnh mới và tác động của nó tới Việt Nam” [65] đã tập trung phân tích
quan hệ đa phƣơng Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản đặt trong bối cảnh quan hệ
hợp tác chung của cả khu vực Đông Á, trong các tổ chức APEC, ARF, ASEAN + 3
với những tác động thuận chiều và ngƣợc chiều, mối quan hệ song phƣơng ASEAN
- Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản, Trung Quốc - Nhật Bản trên các lĩnh vực ngoại
giao, chính trị, an ninh, kinh tế, văn hoá và dự báo triển vọng của các mối quan hệ
đó. Tác giả cũng nêu tác động của quan hệ Trung Quốc - ASEAN - Nhật Bản đối
với Việt Nam với những cơ hội và thách thức.
Tác giả Nguyễn Thu Mỹ trong cuốn “Hợp tác ASEAN + 3 quá trình phát
triển thành tựu và triển vọng” [115] đã phân tích sự hình thành và sự tiến triển của
ý tƣởng hợp tác Đông Á, những nguyên nhân khiến ASEAN không hiện thực hoá 6
đƣợc những ý tƣởng đó trong những năm đầu thập kỷ 90, nêu đặc điểm của tiến
trình hợp tác khu vực và những nguyên nhân dẫn tới đặc điểm đó, phân tích thành
tựu sau 10 năm hoạt động của ASEAN +3, khái quát lại quá trình tham gia hợp tác
ASEAN +3 của Việt Nam.
Ngoài các công trình đã đƣợc xuất bản thành sách, còn có rất nhiều cuộc hội
thảo về Đông Nam Á, về ASEAN, về quan hệ Việt Nam - ASEAN đƣợc tổ chức ở
trong và ngoài nƣớc, nhiều chuyên khảo, bài viết đƣợc đăng tải trên các tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Quốc tế…
Hầu hết các tác phẩm, các bài viết đều tập trung nghiên cứu phân tích quá
trình ra đời, phát triển, những thành tựu kinh tế xã hội của từng nƣớc Đông Nam Á
cũng nhƣ của tổ chức ASEAN, đề cập đến xu thế và khả năng hợp tác phát triển
giữa các nƣớc Đông Nam Á, quá trình phát triển quan hệ và hợp tác giữa Việt Nam
bình thƣờng hoá quan hệ với Mỹ, quan hệ Việt Nam -Trung Quốc trong quá khứ,
hiện tại tƣơng lai và triển vọng trong thế kỷ XXI.
Cuốn “Đông Nam Á chặng đường dài phía trước” [181] của Giáo sƣ kinh tế
học Lim Chong Yah đã đề cập tới rất nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô cùng những chính
sách và khuynh hƣớng của toàn bộ 10 Quốc gia thành viên ASEAN. Ngoài ra cuốn
sách còn thảo luận và đánh giá những chính sách về dân số, thƣơng mại, công nghiệp
hoá, nông nghiệp, tiền tệ, tài chính, vấn đề hợp tác khu vực, cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ và những triển vọng phát triển trong tƣơng lai của Đông Nam Á.
Tác giả Da Cunha Derek trong cuốn “Southeast Asian Perspectives on
Security” (Viễn cảnh an ninh Đông Nam Á) [183] cung cấp một cái nhìn toàn cảnh
về an ninh khu vực Đông Nam Á, xu hƣớng chiến lƣợc và phát triển quân đội, phản
ứng của các quốc gia Đông Nam Á đối với môi trƣờng khu vực thời kỳ hậu chiến
tranh lạnh, vấn đề tranh chấp ở khu vực biển Đông, nhận thức về Đông Nam Á của
Nhật Bản và Trung Quốc.
Cuốn “The International Relations of Japan and South East Asia: Foging a
New Regionalism” (Mối quan hệ quốc tế của Nhật Bản và Đông Nam Á: Tiến tới
một chủ nghĩa khu vực mới) [200] của tác giả Sueo Sudo là bức tranh tổng thể về
tiến trình của mối quan hệ Nhật Bản - Đông Nam Á thời kỳ sau chiến tranh lạnh, 8
đồng thời tác giả cũng khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản, mối quan hệ
Nhật Bản với các nƣớc Đông Nam Á là một thành công của ngoại giao Nhật Bản.
Cuốn sách đặt ra 3 câu hỏi: Chủ nghĩa khu vực mới ở Đông Nam Á đƣợc thiết lập
khi nào và nhƣ thế nào? Bản chất của quá trình lãnh đạo và liên kết của Nhật Bản
trong việc duy trì và thúc đẩy chủ nghĩa khu vực mới đó? Điều gì sẽ sảy đến với chủ
nghĩa khu vực của Đông Nam Á trong tƣơng lai.
Cuốn “Southeast Asia in Search of an ASEAN Community” (Đông Nam Á
đang tìm kiếm một cộng đồng ASEAN) [198] của tác giả Rodolfo C.Severino đề cập
đến phƣơng cách ASEAN, vấn đề tƣ cách thành viên ASEAN đối với một số quốc
Mục đích nghiên cứu
- Trình bày và phân tích chính sách đối ngoại của ĐCSVN với khu vực Đông
Nam Á từ năm 1995 đến năm 2006.
- Thông qua đó, nêu lên những thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh
nghiệm chủ yếu trong quan hệ giữa Việt Nam với các nƣớc Đông Nam Á.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu và nguồn tƣ liệu nhƣ trên, luận án có nhiệm vụ:
- Đi sâu phân tích chủ trƣơng, chính sách và biện pháp của Đảng trong quan
hệ với khu vực Đông Nam Á qua hai giai đoạn: 1995 - 2001; 2001 - 2006.
- Hệ thống hoá, khái quát hoá những tƣ liệu đã có, bổ sung thêm những tƣ
liệu mới, góp phần nhìn nhận một cách khách quan quá trình Đảng lãnh đạo thực
hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nƣớc Đông Nam Á qua hai giai
đoạn: 1995 - 2001; 2001 - 2006 và bức tranh quan hệ Việt Nam - Đông Nam Á từ
năm 1995 đến năm 2006.
- Nêu lên những thành tựu cũng nhƣ hạn chế trong chính sách đối ngoại của
Đảng với khu vực Đông Nam Á từ năm 1995 đến năm 2006; rút ra những bài học
kinh nghiệm.
4. Nguồn tài liệu và hƣớng sử dụng
Các tài liệu đƣợc sử dụng trong luận án này bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin và Hồ Chí Minh về
mối quan hệ giữa các vấn đề dân tộc và quốc tế, dân tộc và thời đại là cơ sở lý luận
cho luận án. 10
- Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc ĐCSVN, Nghị quyết của Trung
ƣơng Đảng và Chỉ thị của Bộ Chính trị, diễn văn, bài phát biểu, các tác phẩm, trả lời
phỏng vấn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nƣớc ta về lĩnh vực đối ngoại,
các văn bản của Chính phủ, Bộ Ngoại giao, tài liệu đánh giá hay báo cáo tổng hợp
của một số bộ, ngành là những tài liệu gốc của luận án… hiện đang đƣợc lƣu giữ tại
Năm 1995 là thời điểm Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
ASEAN. Đây là một sự kiện mở ra cơ hội tăng cƣờng quan hệ và hợp tác giữa Việt
Nam với các nƣớc Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng. Mốc kết thúc của
luận án năm 2006 chỉ là một sự quy ƣớc có tính tạm thời, vào thời điểm này quan hệ
Việt Nam với các nƣớc khu vực Đông Nam Á vẫn đang tiếp tục phát triển. Năm
2006 là một mốc lịch sử đánh dấu 20 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới ở Việt Nam,
năm diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm
2006 cũng là thời điểm Việt Nam đã cơ bản hoàn thành việc cắt giảm các dòng thuế
xuống mức 0 - 5% theo cam kết CEPT/AFTA. Có thể nói mức độ cắt giảm thuế trong
khuôn khổ CEPT/AFTA là triệt để và mạnh mẽ nhất trong các lộ trình cắt giảm thuế
của Việt Nam từ trƣớc tới nay. Việc lựa chọn mốc năm 2006 làm thời điểm kết thúc
của luận án liên quan đến thời điểm đăng ký đề tài này của nghiên cứu sinh vào năm
2005.
Năm 2001 đƣợc lấy làm mốc phân kỳ cho chính sách đối ngoại của Đảng với
khu vực qua hai giai đoạn 1995 - 2001; 2001 - 2006 bởi đây là mốc lịch sử không
chỉ phản ánh một nấc thang cao hơn trong tƣ duy đối ngoại của Đảng mà còn đánh
dấu sự chuyển biến trong quan hệ quốc tế. Năm 2001 là năm đầu tiên của thế kỷ
XXI và sau sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001 ở Mỹ, các nƣớc lớn đều điều chỉnh
chính sách đối nội và đối ngoại. Năm 2001 là năm bản lề cho chiến lƣợc phát triển
kinh tế, xã hội 10 năm (2001- 2010) và thực hiện kế hoạch 5 năm (2001- 2005) do
Đại hội IX thông qua.
- Về nội dung nghiên cứu: Chính sách đối ngoại của Đảng với khu vực Đông
Nam Á là một lĩnh vực khoa học rất rộng, phức tạp và có nhiều vấn đề còn đang
trong quá trình vận động, phát triển, chƣa định hình rõ cần đƣợc Đảng và các nhà
khoa học tiếp tục nghiên cứu để có thể đƣa ra những nhận định khoa học có tính 12
khẳng định. Bởi vậy tác giả luận án không có tham vọng nghiên cứu quá rộng về mọi
lĩnh vực cũng nhƣ tất cả các vấn đề của khu vực. Luận án không đi sâu vào quan hệ
Về nội dung khoa học
- Góp phần làm sáng tỏ chính sách đối ngoại của Đảng trong quan hệ giữa
Việt Nam với khu vực Đông Nam Á từ 1995 - 2006, qua đó làm nổi bật vai trò lãnh
đạo của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại.
- Từ các kết quả nghiên cứu, luận án góp phần khẳng định sự đóng góp quan
trọng và vai trò không thể phủ nhận của Việt Nam trong việc duy trì hoà bình, ổn
định, hợp tác ở khu vực.
- Nhận thức về một số vấn đề tồn tại, những thuận lợi và khó khăn, bƣớc đầu
đƣa ra sự đánh giá, nhận xét quan hệ Việt Nam với các nƣớc Đông Nam Á, rút ra
những kinh nghiệm thực tiễn.
- Luận án có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hay giảng dạy cho
những môn học có liên quan.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận án gồm 3
chƣơng :
Chương 1 Chính sách đối ngoại của Đảng với khu vực Đông Nam Á từ năm
1995 đến năm 2001
Chƣơng này chỉ ra những cơ sở tiền đề hình thành đƣờng lối đổi mới, chính
sách đối ngoại đổi mới của Đảng trong đó có chính sách đối ngoại với khu vực
Đông Nam Á; sự lãnh đạo của Đảng trong việc đƣa Việt Nam gia nhập ASEAN và
sự tham gia của Việt Nam vào các hoạt động của ASEAN trên mọi lĩnh vực kể từ
năm 1995 đến năm 2001. Các nội dung đƣợc trình bày qua các mốc thời gian 1986 -
1995; 1995 - 2001.
Chương 2 Chính sách đối ngoại của Đảng với khu vực Đông Nam Á từ năm
2001 đến năm 2006
Chƣơng này trình bày những biến động của thế giới và khu vực những năm
đầu thế kỷ XXI và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Đảng với khu vực Đông
Nam Á ở Đại hội IX và Đại hội X, theo đó quan hệ với các nƣớc trong khu vực
đƣợc tăng cƣờng cả trên bình diện song phƣơng và đa phƣơng, trên mọi lĩnh vực:
1.1. NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TRONG
NHỮNG NĂM 1986 - 1995
1.1.1. Sự chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực
Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác
nhân đƣa đến những thay đổi quan trọng trong chiến lƣợc của các nƣớc lớn mà còn
làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á.
Sau năm 1975, Mỹ tiến hành điều chỉnh chiến lƣợc: giảm cam kết ở bên
ngoài, thúc đẩy hoà hoãn với các đối thủ chính, tập trung ƣu tiên giải quyết các vấn
đề trong nƣớc để củng cố địa vị của Mỹ. Mỹ đã rút hết sự có mặt quân sự khỏi lục
địa Đông Nam Á và giảm nhiều sự quan tâm tới khu vực. Tháng 6/1977, tổ chức
SEATO tuyên bố giải tán, quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh Thái Lan,
Philíppin… trở nên lỏng lẻo.
Liên Xô giành đƣợc thế cân bằng về vũ khí chiến lƣợc với Mỹ, tăng cƣờng
mở rộng ảnh hƣởng ở châu Mỹ La tinh, châu Á, châu Phi và quan tâm nhiều hơn tới
Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dƣơng.
Trung Quốc bắt đầu triển khai các chƣơng trình cải cách, hiện đại và mở cửa
kinh tế. Để thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế, Trung Quốc đẩy mạnh quan
hệ với Mỹ, Nhật Bản và các nƣớc phƣơng Tây đồng thời, tiếp tục mở rộng quan hệ
với các nƣớc trong Thế giới thứ ba, chú trọng cải thiện quan hệ với các nƣớc Đông
Nam Á.
Mặc dù rút khỏi Đông Nam Á, song lo ngại Liên Xô, Trung Quốc mở rộng
ảnh hƣởng ở đây nên Mỹ vừa tìm cách khai thác mâu thuẫn Xô - Trung vừa muốn
duy trì thế cân bằng chiến lƣợc giữa 3 nƣớc lớn trong khu vực Châu Á - Thái Bình
Dƣơng. Từ năm 1978, quan hệ giữa Mỹ - Liên Xô - Trung Quốc đã chuyển từ hình
thái đối đầu từng đôi một sang hình thái Mỹ - Trung câu kết chống Liên Xô. 16
Các nước Đông Nam Á cũng điều chỉnh chính sách, nhấn mạnh hoà bình,
17
nhau, cộng thêm những tác động chia rẽ và can thiệp trong quan hệ giữa các nƣớc
lớn Mỹ - Liên Xô - Trung Quốc càng làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn bất đồng
kéo dài.
Đầu những năm 90 của thế kỷ trƣớc, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu bị
sụp đổ cùng những chuyển biến nhanh chóng phức tạp về kinh tế - xã hội trên thế
giới đã tác động mạnh mẽ tới khu vực Đông Nam Á. Đông Nam Á không còn là nơi
tập trung những mục tiêu đối kháng của các nhóm nƣớc có ý thức hệ và chế độ xã
hội khác nhau nhƣ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Sự đối đầu Xô - Mỹ ở Đông
Nam Á ngày càng giảm; sự hoà hoãn, hoà dịu Xô - Mỹ và việc hai nƣớc phải tập
trung nhiều vào các vấn đề khác đã làm giảm lực chia rẽ ASEAN và Đông Dƣơng.
Không những thế, trong cố gắng củng cố xu thế hoà dịu, hai nƣớc này bắt đầu phối
hợp với nhau giải quyết các xung đột khu vực. Từ năm 1985, Liên Xô và Mỹ đã
tiến hành cuộc gặp hàng năm cấp Thứ trƣởng ngoại giao về các vấn đề Châu Á. Vấn
đề Campuchia lần đầu tiên đƣợc đề cập đến trong cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ năm
1988 tại Mátxcơva. Sự hoà dịu Xô - Mỹ đã tác động tới quan hệ Xô - Trung. Liên
Xô đã cố gắng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, xoá bỏ "ba trở ngại" mà phía
Trung Quốc đƣa ra nhằm tiến tới bình thƣờng hoá quan hệ với nƣớc này.
(1)
Hoà dịu
Xô - Mỹ, Xô - Trung đã tác động tới quan hệ Trung - Mỹ. Cả Mỹ và Trung Quốc
đều quan tâm nhiều hơn tới việc tăng cƣờng hoà dịu với Liên Xô. Sự cần nhau để
cùng chống Liên Xô không còn nhƣ trƣớc. Xu thế hoà dịu trên thế giới và sự rút dần
ảnh hƣởng của Liên Xô và Mỹ ở Đông Nam Á đã tạo ra "khoảng trống quyền lực" ở
khu vực này. Lợi dụng điều đó, Trung Quốc đã cố gắng tăng cƣờng ảnh hƣởng, tạo
chỗ đứng ở Đông Nam Á cũng nhƣ gia tăng sức ép với Việt Nam.
(2)
Việc Trung Quốc hiện đại hoá quân đội với những chiến lƣợc và khái niệm
an ninh mới nhƣ "biên giới mềm" cũng nhƣ nguy cơ xung đột ở biển Đông đã gây
đƣợc thừa nhận, quan hệ khu vực có sự chuyển động theo những mục tiêu chung.
Để thực hiện mục tiêu chung, hợp tác khu vực càng trở nên cần thiết. Trong bối
cảnh đó, vai trò của ASEAN - với tƣ cách là tổ chức thuần Đông Nam Á duy nhất -
ngày càng nổi lên.
Nhận thức đƣợc vấn đề này, ASEAN đã có sự điều chỉnh chiến lƣợc, chuyển
hƣớng từ hợp tác về chính trị và an ninh là chính sang hợp tác về kinh tế giữa các
nƣớc trong tổ chức, khuyến khích hợp tác với các đối tác bên ngoài nhất là các
cƣờng quốc kinh tế và các tổ chức kinh tế thế giới. Biểu hiện rõ nét của chủ nghĩa
khu vực Đông Nam Á là cuối năm 1990 Thủ tƣớng Malaixia Mahathia Môhamet đã
đƣa ra sáng kiến thành lập nhóm kinh tế Đông Á(EAEG) chỉ bao gồm các nƣớc
Đông Á. Sáng kiến trên thất bại nhƣng ý tƣởng này không hề mất đi. Năm 1992
theo sáng kiến của Thủ tƣớng Thái Lan Anan Paniarachun, Khu vực thƣơng mại tự
do ASEAN (AFTA) đã đƣợc thành lập. Ngoài việc phát triển kinh tế để phát huy