TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
HỌ VÀ TÊN: BẠCH THỊ THU
LỚP: K34B-GIÁO DỤC CÔNG DÂN
QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN XÔ THỜI KỲ
1950 – 1975
THEO ĐƢỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
G.V Lê Trung Nghĩa
HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy Lê Trung Nghĩa.
Người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô trong trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Giáo dục Chính trị đã
giảng dạy em trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo
điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khoá luận.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức bản thân, nên
khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo của các
thầy, cô cũng như các bạn để khoá luận của em được hoàn thiện hơn.
2.1 Quan hệ Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950 – 1964
2.2 Quan hệ Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1965 – 1975
2.3 Những bài học kinh nghiệm
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các cuộc chiến tranh đi qua để lại bao đau thương và mất mát.
Ai cũng biết hậu quả chiến tranh là to lớn biết bao. Cho dù đó là chiến tranh
phi nghĩa hay chiến tranh chính nghĩa thì đất nước đó cũng hứng chịu những
tổn thất nặng nề. Song, không phải đất nước nào cũng có quyền chọn cho
mình nền hòa bình, tự do. Có những lúc họ không muốn chiến tranh, nhưng
họ buộc phải chiến đấu cho nền độc lập nước nhà. Và Việt Nam chúng ta –
chính
là
đất
nước
rơi
vào
tình
dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô cả về
vật chất lẫn tinh thần. Không quá khi nói rằng, nếu không có sự hậu thuẫn
của đất nước Đông Âu này, chúng ta sẽ rất khó giành phần thắng trong hai
cuộc đối đầu khốc liệt với những kẻ thù rất mạnh trên. Trong chiến tranh,
Liên Xô thực sự là một hậu phương quốc tế vững chắc của dân tộc Việt
Nam.
Trong cuộc đấu tranh hiện nay vì độc lập dân tộc, hạnh phúc và
tiến bộ xã hội trên thế giới, cuộc chiến tranh thần thánh của nhân dân Việt
Nam là biểu tượng cho khát khao tự do, hoà bình và của bản lĩnh, trí tuệ.
Chính vì thế, tầm vóc, nguyên nhân thắng lợi và những vấn đề liên quan đến
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ luôn chiếm được sự quan tâm
nghiên cứu và thảo luận sôi nổi. Và một trong những câu hỏi thường được
đặt ra là: Quan hệ giữa Việt Nam với đồng minh chiến lược quan trọng của
mình là Liên Xô trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến có diện
mạo như thế nào? Nó bị tác động ra sao và ở chừng mực nào bởi các mối
quan hệ quốc tế liên quan khác?...Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Quan hệ
Việt Nam – Liên Xô thời kỳ 1950 – 1975 theo đường lối đối ngoại của
Đảng” làm bài khoá luận của mình và trong khả năng có thể, nhằm mục đích
tìm câu trả lời cho những câu hỏi ấy.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Trong ký ức của không ít người Việt Nam, đặc biệt là những người đã
sống qua thời kỳ chiến tranh, khi nói đến đất nước Liên Xô sẽ vẫn còn nhiều
tình cảm đặc biệt dành cho dân tộc này - một dân tộc lớn, vĩ đại và nhân
văn. Chính vì vậy, từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu,
sách báo, tạp chí cả trong và ngoài nước nói về mối quan hệ giữa Việt Nam
và Liên Xô. Chúng ta có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu đã được
công bố như:
Thật, Hà Nội, 1982.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một khía
cạnh trong đường lối đối ngoại của Đảng từ nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đề cập một cách trực tiếp về quan
hệ Việt Nam – Liên Xô giai đoạn 1950 - 1975 theo đường lối đối ngoại của
Đảng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình quan hệ Việt Nam - Liên Xô giai đoạn 1950 1975 theo đường lối đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm làm rõ
bản chất của mối quan hệ này.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quan hệ Việt Nam – Liên
Xô trong thời kỳ 1950 – 1975. Từ đó, bước đầu rút ra những bài học kinh
nghiệm của công tác đối ngoại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Với khoá luận này, trước tiên tôi phân tích bối cảnh quốc tế và khu
vực để làm rõ các nhân tố tác động đến quan hệ Việt nam - Liên Xô.
- Tiếp đó đi tìm hiểu khái quát tình hình Việt Nam và đường lối đối
ngoại của Việt Nam.
- Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên Xô thời kỳ từ năm 1950 đến
năm 1975 theo đường lối đối ngoại của Đảng trên tất cả các lĩnh vực chính
trị - ngoại giao; viện trợ quân sự; kinh tế - thương mại; giáo dục – đào tạo;
khoa học - kỹ thuật và văn hóa – xã hội để chỉ ra những thành tựu đạt được
cũng như những vấn đề còn tồn tại.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn tôi đã sử dụng các
phương pháp: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp
thống kê, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc...
5. Phạm vi nghiên cứu
Xô đứng đầu mỗi cực. Hệ thống do Liên Xô đứng đầu đại diện cho các lực
lượng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Còn Mỹ đại diện cho
các lực lượng đế quốc và phản động quốc tế.
Hai nước đứng đầu mỗi cực là Mỹ và Liên Xô đã đẩy mạnh, tăng
cường chạy đua vũ trang và sự ảnh hưởng của mình trên thế giới. Thời kỳ
này bắt đầu từ sau Hội nghị Yalta kéo dài đến tận năm 1990. Lịch sử gọi đó
là thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Quả vậy, chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Mỹ có tiềm lực kinh tế
và quân sự mạnh nhất, có thể nói bằng tất cả các nước cộng lại. Với ưu thế
về vũ khí hạt nhân, Mỹ có tham vọng làm bá chủ toàn cầu. Ngày 6/4/1946,
Tổng thống Truman công khai tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia
mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền
lãnh đạo thế giới” [22,119].
Để phục vụ cho cuộc “Chiến tranh lạnh”, nhằm thiết lập sự thống trị
trên toàn cầu của Mỹ và tiêu diệt Chủ nghĩa Cộng sản mà đứng đầu là Liên
Xô, Mỹ đã thiết lập một chiến lược mang tên: Chiến lược toàn cầu. Chiến
lược toàn cầu đã được thực hiện qua các thời kỳ với các chủ nghĩa, chiến
lược, học thuyết mang tên các tổng thống cầm quyền. Chủ thuyết Truman
nằm trong số đó. Ngày 12/3/1947, Tổng thống Hoa Kỳ Truman đã đọc một
bài diễn văn trước Quốc hội: “… Liên Hợp Quốc được thành lập để đem lại
sự tự do và nền độc lập lâu bền cho các quốc gia thành viên. Tuy nhiên,
chúng ta sẽ không thực hiện được những mục tiêu của mình, trừ phi chúng
ta sẵn lòng giúp đỡ những dân tộc tự do duy trì các chế độ tự do và sự toàn
vẹn lãnh thổ của họ chống lại những phong trào xâm lăng tìm cách áp đặt
lên họ những chế độ độc tài” [22,120]. Xuất phát từ quan điểm này, Truman
xác định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: “Tôi cho rằng chính sách của
Hoa Kỳ là phải ủng hộ những dân tộc tự do chống lại các mưu toan nô dịch,
bất kể chúng xuất phát từ những thiểu số có vũ trang hay sức ép bên ngoài.
mới của phong trào Cộng sản quốc tế. (Lúc này, Quốc tế Cộng sản đã giải
tán từ 22/5/1943 để đảm bảo mối liên minh chiến đấu của các nước trong
phe đồng minh mà cụ thể ở đây là Liên Xô, Mỹ và Anh).
Trong các ngày từ 22/9 đến 29/10/1947, tại Szklarska - Poreba (Ba
Lan) đã diễn ra Hội nghị 9 Đảng Cộng sản ở châu Âu: Liên Xô, Pháp, Italia,
Nam Tư, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Romania và Bulgaria. Trưởng đoàn
Liên Xô là Zhdanov đã đọc diễn văn và nêu rõ rằng thế giới đã được chia
thành hai phe: phe đế quốc và chống dân chủ do Mỹ cầm đầu, phe chống đế
quốc và ủng hộ dân chủ do Liên Xô lãnh đạo. Đây được gọi là “Chủ thuyết
Zhdanov”, ý tưởng chia phe vừa nêu cũng đã xác định rõ thành phần của
mỗi phe: “Anh và Pháp liên minh với Hoa Kỳ và hành động như là những
chư hầu trong các vấn đề chính, đi theo chính sách đế quốc của Hoa Kỳ. Phe
đế quốc cũng được ủng hộ bởi những nước sở hữu thuộc địa khác như Bỉ và
Hà Lan, hoặc bởi những nước có chế độ phản động chống dân chủ như Thổ
Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, cũng như bởi những nước phụ thuộc Hoa Kỳ về chính trị
và kinh tế, như Cận Đông, Nam Mỹ, Trung Quốc.
Lực lượng chống đế quốc và chống phát xít kết hợp thành phe kia, với
nền tảng là Liên Xô và các nước dân chủ mới. Thuộc phe này còn có các
nước đã cắt đứt với chủ nghĩa đế quốc và đang quyết tâm tiến bước vào con
đường tiến bộ dân chủ như Romania, Hungary, Phần Lan, Indonesia, Việt
Nam, Ấn Độ cũng gia nhập phe chống đế quốc (…). Trong tất cả các nước,
phe chống đế quốc dựa vào phong trào công nhân và dân chủ, các đảng cộng
sản anh em, vào những chiến sĩ của phong trào giải phóng dân tộc ở những
nước thuộc địa và phụ thuộc, vào tất cả các lực lượng tiến bộ và dân chủ”.
Hội nghị tuyên bố thành lập Cục Thông tin Cộng sản (Kominform) có
nhiệm vụ xác định đường lối, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp hoạt động
giữa các đảng cộng sản và các tạp chí “Vì nền hòa bình vững chắc, vì nền
dân chủ nhân dân”. Kominform được chính thức thành lập ngày 5/10/1947
Với thắng lợi của các lực lượng chống phát xít đã mở ra thời kỳ mới
trong sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, nhất là
những nước ở khu vực Châu Á. Các nước này, ở những mức độ khác nhau,
đã và đang đứng lên giành độc lập, tự do, quyền dân sinh, dân chủ như
CHND Triều Tiên, Việt Nam, Inđônêxia, Mã Lai, Philippin, Miến
Điện…trong đó sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhất là thắng lợi của cách
mạng Trung Quốc (10/1949) với sự ra đời của nước CHND Trung Hoa.
Sự ra đời của nước CHND Trung Hoa đã làm tăng đáng kể sức
mạnh của hệ thống XHCN, làm cho cán cân lực lượng trên trường quốc tế
càng thay đổi có lợi cho các mạng, đồng thời đánh thẳng vào hệ thống đế
quốc chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Đánh giá ý nghĩa về việc thành lập nước
CHND Trung Hoa, đồng chí Xuxlốp khẳng định trong bản báo cáo đọc ở
Hội nghị Cục thông tin Quốc tế (11/1949): “Sự thành lập nước CHND
Trung Hoa đã đánh một đòn mạnh vào kế hoạch xâm lược của đế quốc Mỹ
muốn biến Trung Hoa thành một thuộc địa và một kho vũ khí cho cuộc tấn
công quân sự mới của chúng. Sự gia nhập của Trung Hoa vào gia đình các
nước dân chủ và hoà bình tạo nên sự thay đổi mới trong cán cân lực lượng
trên vũ đài quốc tế có lợi cho phe dân chủ hoà bình làm cho mặt trận hoà
bình rộng lớn và mạnh mẽ thêm” [12,230].
Những nhân tố quốc tế và khu vực trên đây, nhất là nhân tố khu vực
đã tác động mãnh mẽ đến quan hệ Việt Nam – Liên Xô.
Trước hết, sự hình thành trật tự thế giới hai cực đã khiến Việt Nam vì
lợi ích độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, đứng hẳn về cực do Liên Xô đứng
đầu. Sự đối đầu giữa hai cực Xô – Mỹ càng quyết liệt, mối quan hệ giữa
cách mạng Việt Nam và cách mạng Liên Xô càng trở nên gắn bó hơn.
Sự lớn mạnh của phong trào cách mạng thế giới, nhất là sự thắng lợi
của cách mạng Trung Quốc đã đẩy nhanh quá trình thiết lập mối quan hệ
Liên Xô – Việt Nam. Thật vậy, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc là
“ngàn cân treo sợi tóc”. Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, song
cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù: Pháp, Tưởng, Anh, Nhật với
tổng số 30 vạn quân của 4 thế lực đối địch đó đều đang có mặt tại Việt Nam.
Bởi vì, theo quyết định hội nghị Postđam (từ 17/7 đến 2/8/1945). Ở Việt
Nam, từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam là quân đội Anh tiến vào giải giáp quân đội
Nhật. Còn từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc sẽ cho quân đội Tưởng đảm nhận và chỉ
sau một tuần 20 vạn quân Tưởng đã kéo vào Cao Bằng và một tháng sau
chiếm đóng khắp nước ta. Theo sau quân Tưởng là các đảng phái phản động
như Việt quốc, Việt cách. Nguy hiểm hơn là khi quân đội Anh vào giải giáp
quân đội Nhật, chúng đã giúp thực dân Pháp quay trở lại nổ súng đánh
chiếm Sài Gòn vào ngày 23/9/1945 với dã tâm cướp nước ta một lần nữa.
Theo sau quân Pháp ở miền Nam có bọn Đại Việt quốc xã và các giáo phái
khác. Ngoài ra, đây cũng là thời kì chính quyền cách mạng phải đối mặt với
“giặc đói”, “giặc dốt” do hậu quả của chế độ thực dân phong kiến để lại.
Như vậy, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời trong bối cảnh
quốc tế bất lợi vì chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc các nước tham
chiến đều lâm vào tình trạng kiệt quệ nên có xu hướg hướng nội. Vì vậy, nền
độc lập của Việt Nam không được quốc gia nào thừa nhận về mặt ngoại
giao. Thêm vào đó với tính chất thực dân, các nước đế quốc cũng có mưu
toan xóa bỏ thành quả mà cách mạng tháng Tám vừa mới đạt được.
Trong điều kiện lịch sử mới, Việt Nam cùng một lúc phải đương đầu
với quá nhiều kẻ thù trên lãnh thổ của mình: Thái độ gây sức ép và âm mưu
lật đổ chính phủ của bọn Tưởng ở miền Bắc và cuộc chiến tranh xâm lược
trở lại của thực dân Pháp ở miền Nam.
Trước tình hình đó, ngày 3/10/1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã kịp thời đưa ra chính sách ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của dư luận
quốc tế và xem đây là một trong những nhân tố góp phần “đưa nước nhà đến
sự độc lập hoàn toàn vĩnh viễn”. Nội dung cơ bản của chính sách ngoại giao
tập
trung
ngọn
lửa
đấu
tranh
vào
chúng.
Bản chỉ thị đã vạch rõ nhiệm vụ cần thiết của nhân dân ta: Đối với
cách mạng thế giới: “phải đấu tranh để thực hiện triệt để hiến chương các
nước liên hiệp ủng hộ Liên Xô, xây dựng hòa bình thế giới, mở rộng chế độ
dân chủ nhân dân ra các nước, giải phóng cho các nước thuộc địa”. Đối với
cách mạng Việt Nam: “phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm
lược, bài trừ nội phản và cải thiện đời sốn nhân dân”.
Để thực hiện mục tiêu của cách mạng, bản Chỉ thị đã đề ra nhiệm vụ
cụ thể của công tác ngoại giao: Về ngoại giao, ta kiên trì theo nguyên tắc
“thêm bạn bớt thù” nên đưa ra khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện” đối với
quân đội của Tưởng Giới Thạch; còn đối với Pháp, ta chủ trương nhân
nhượng
về
vũ khí của Nhật ở miền Bắc Việt Nam và đầu tháng 3/1946 Pháp đã đưa tàu
chiến trở quân ra Bắc và nguy cơ chiến tranh xâm lược lan ra miền Bắc.
Trước tình hình đó, ngày 3/3/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng
họp và đưa ra nhận định: “Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là chuyện riêng
của Tưởng và Pháp mà nó còn là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay
sai của chúng ở thuộc địa, mục đích là nhằm bán đứng Việt Nam cho Pháp".
Từ nhận định trên, Đảng đề ra chủ trương “hòa với Pháp” bằng cách
ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Bản Tạm ước (14/9/1946) để có
thể đuổi Tưởng về nước, bảo toàn lực lượng giành được giây phút nghỉ ngơi
để tiến tới giành độc lập hoàn toàn. Bản chỉ thị cũng viết: “Nếu Pháp không
giữ chủ trương cho Đông Dương tự trị theo bản tuyên ngôn 2/9/1945 thì
nhất định đánh và có thể đánh lâu dài theo lối du kích. Nhưng Pháp công
nhận Đông Dương tự chủ thì có thể hòa, hòa để có thể phá tan âm mưu cửa
bọn Tàu Trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít còn sót lại, chúng
đặt ta vào tình thế cô lập buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù cùng một lúc để
thực lực của ta tiêu hao".
Như vậy, trong bối cảnh quốc tế ở thời điểm đó, chính sách ngoại
giao trên đây của nhà nước Việt Nam là rất rộng mở, nó thể hiện nguyện
vọng của nhân dân Việt Nam là muốn hợp tác với tất cả các quốc gia tôn
trọng những nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương.
Cùng với những thay đổi của tình hình quốc tế và diễn biến của cuộc
kháng chiến chống Pháp, chính sách đối ngoại cả nhà nước Việt Nam ngày
càng cụ thể hóa và mở rộng nhằm cô lập, phân hóa kẻ thù và tranh thủ tới
mức tối đa sự ủng hộ của các nước.
Từ năm 1947 đến năm 1949, cùng với thắng lợi trên các chiến trường,
hoạt động đối ngoại của nhà nước Việt Nam trở nên sôi động, chủ động và
tích cực hơn bằng những hình thức phong phú đa dạng. Lúc này, hoạt động
đối ngoại của nhà nước ta bắt đầu hướng ra quan hệ hợp tác với quốc tế.
gọi quý ngài một sự giúp đỡ có thể” [19,4-5]. Rất tiếc bức công điện không
có sự trả lời.
Là người thông minh và rất nhạy bén với thời cuộc, ngày 21/10/1945,
chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tiếp công điện khác tới Stalin lưu ý đến những vấn
đề có liên quan đến Việt Nam. Nội dung chính của những vấn đề này là tố
cáo Pháp câu kết với Nhật chống lại phe đồng minh, lên án những hành động
hèn nhát của Pháp đầu hàng phát xít Nhật. Bức điện cũng nói rõ: “ Nước
VNDCCH được thành lập trên cơ sở giành lại nền độc lập từ tay Nhật,
nhưng Pháp đã coi thường những quy định của Hiến chương Đại Tây
Dương và quay trở lại xâm chiếm Việt Nam. Đặc biệt, bức công điện nhấn
mạnh đến ý chí của nhân dân Việt Nam là sẽ quyết tâm đứng lên đấu tranh
chống thực dân Pháp và Pháp sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước
những hậu quả sẽ xảy ra” [19,4-5]. Tuy nhiên bức công điện này cũng
không được trả lời.
Theo I.V Bukhăckin, phó vụ trưởng lưu giữ tư liệu lịch sử Bộ ngoại
giao Nga (tác giả của bài báo đã trích), sở dĩ không có sự trả lời là do thông
tin về Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh không được đầy đủ. Bức công
điện được kí dưới một cái tên khi đó đối với Matxcơva còn mới mẻ. Hơn
nữa theo các chữ cái tiếng Nga, họ của lãnh tụ mới của Việt Nam không
thống nhất. Khi thì viết “Khôxkhimingơ” khi thì “Khôtrimin”. Tuy nhiên
đây chỉ là một cách lí giải.
Sự không trả lời bức công điện trên đây chỉ có thể giải thích bằng
những nguyên nhân sâu xa đó là xuất phát từ chính sách đối ngoại của Liên
Xô nói chung cũng như đối với Việt Nam nói riêng. Song với lòng tha thiết
muốn hợp tác với Liên Xô và các nước dân chủ trong lời kêu gọi gửi Liên
Hợp Quốc cuối năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đối với các
nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp
tác trên mọi lĩnh vực” [19,470].
đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Mấy
năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một cuộc thắng lợi to nhất trong
lịch sử Việt Nam, tức là hai nước lớn nhất trên thế giới – Liên Xô và Trung
Quốc đã thừa nhận nước VNDCCH là một nước ngang hàng trong đại gia
đình dân chủ thế giới. Nghĩa là ta đã đứng hẳn về phe dân chủ và nhập vào
khối 800 triệu nhân dân chống đế quốc. Chắc rằng, cuộc thắng lợi chính trị
ấy sẽ là cái đà cho thắng lợi sau này” [19,81-82].
Như vậy, với sự hình thành thế giới hai cực đối đầu sau chiến tranh
và những chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới và khu
vực; xuất phát từ lợi ích riêng và chung cùng với những nỗ lực trong hoạt
động đối ngoại của hai bên; từ mối quan hệ trên tinh thần cách mạng trước
đó; ngày 30/1/1950, Liên Xô và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao với nhau.
1.3 Chính sách đối ngoại của Liên Xô.
Như đã nói ở trên, sau chiến tranh, vị trí của Liên Xô được nâng cao
trên trường quốc tế, trở thành cường quốc mạnh nhất ở Châu Âu, là trụ cột
của phe XHCN. Tuy nhiên, do bị tổn thất nặng nề, nên sau khi chiến tranh
kết thúc, Liên Xô khẩn trương bắt tay vào việc khôi phục đất nước mà không
có bất kỳ sự viện trợ nào từ bên ngoài. Bằng tinh thần lao động sáng tạo và
cần cù, tự lực cánh sinh, Liên Xô đã giành được những thắng lợi quan trọng
trong kế hoạch 5 năm lần thứ IV (1946 – 1950) về khôi phục và phát triển
nền kinh tế quốc dân. Trên các lĩnh vực khác, Liên Xô cũng gặt hái được
nhiều thành tựu, nhất là lĩnh vực quốc phòng. Năm 1949, Liên Xô chế tạo
thành công bom nguyên tử, chấm dứt sự độc quyền của Mỹ về loại vũ khí
này.
Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước như vậy, đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc triển khai các chính sách đối ngoại của Liên Xô sau chiến
tranh.
Trong lĩnh vực chính trị - quân sự, Liên Xô tích cực giúp các nước
này xây dựng nhà nước theo định hướng XHCN và bảo vệ lãnh thổ quốc gia
của họ. Sự nỗ lực quan trọng của Liên Xô trong lĩnh vực này là chế tạo
thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền của Mỹ và tạo thế cân
bằng về loại vũ khí chiến lược này…Điều đó không chỉ tạo sự ổn định vững
mạnh cho phe XHCN mà còn tiếp tục củng cố, nâng cao vị trí và ảnh hưởng
của Liên Xô trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, không dừnh lại ở việc bảo vệ, củng cố thành quả đạt
được ở Châu Âu, Liên Xô tiếp tục mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ở
khu vực khác, đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trước hết,
Liên Xô tận tình giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho cuộc cách mạng giải