ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THỊ HÀ PHƯƠNG
QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC TRẬN TẬP KÍCH SÂN BAY CÁT BI
(NGÀY 07/3/1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
1
Chương I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA TRẬN ĐÁNH
8
1.1. Hải Phòng - Kiến An trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp
8
1.2. Sân bay Cát Bi - Một căn cứ không quân lợi hại của thực dân
Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1945 - 1954)
21
1.3. Sân bay Cát Bi trong chiến cuộc Đông xuân 1953 - 1954
27
Chương II: QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO TRẬN ĐÁNH
34
2.1. Trinh sát - gây dựng cơ sở
34
2.2. Xác định phương án chiến đấu
45
2.3. Xây dựng lực lượng và chuẩn bị vật chất
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc, Hải Phòng là
thành phố ―đi trƣớc về sau‖ ( nhân dân Hải Phòng phải tiến hành cuộc kháng
chiến từ ngày 20 tháng 11 năm 1946, trƣớc ngày toàn quốc kháng chiến một
tháng và là địa phƣơng cuối cùng mà thực dân Pháp rút quân, ngày 13 tháng 5
năm 1954). Cuộc kháng chiến ở đây của không chỉ lâu dài, mà còn vô cùng khó
khăn ác liệt vì Hải Phòng không có lực lƣợng vũ trang chính quy thƣờng trực.
Thế nhƣng, vƣợt lên tất cả quân và dân Hải Phòng chiến đầu ngoan cƣờng và
làm nên những chiến thắng vang dội, tiêu biểu là chiến thắng trong trận tập kích
sân bay Cát Bi ngày 7 tháng 3 năm 1954.
Với Hải Phòng sân bay Cát Bi đã trở thành một cái tên gắn liền cuộc kháng
chiến chống Pháp. Ngay từ khi thực dân Pháp tấn công Hải Phòng ngày 20
tháng 11 năm 1946, quân và dân thành phố đã anh dũng đứng lên kháng chiến,
và một trong những trận đánh đầu tiên là trận đánh bảo vệ sân bay Cát Bi. Và
trong chiến cuộc Đông xuân 1953 - 1954, trận tập kích sân bay Cát Bi cũng trở
một trận đánh đỉnh cao của lực lƣợng vũ trang địa phƣơng, đóng góp quan trọng
vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.
Ngày nay Cát Bi trở thành sân bay dân dụng lớn của Hải Phòng, địa danh
Cát Bi đã đƣợc đặt tên cho một phƣờng, một con đƣờng của thành phố. Tuy
nhiên thực tế hiện nay cho thấy phần lớn ngƣời Hải Phòng không biết hoặc biết
rất ít về lịch sử địa phƣơng, trong đó có lịch sử kháng chiến chống Pháp và trận
đánh sân bay Cát Bi. Vì vậy, việc nghiên cứu về trận tập kích sân bay Cát Bi
cũng chính là tìm hiểu về một trong những sự kiện lịch sử của thành phố, thông
qua trận đánh cũng hiểu rõ hơn về đặc điểm của Hải Phòng trong kháng chiến
chống Pháp, về những khó khăn của lực lƣợng vũ trang Kiến An - Hải Phòng
này đã lƣợc thuật lại trong nhiều nguồn tƣ liệu.
Thứ nhất, trận tập kích sân bay Cát Bi đƣợc đề cập trong những tài liệu viết
về kháng chiến chống Pháp nhƣ:
―Mấy vấn đề lớn ở khu Tả Ngạn sông Hồng trong kháng chiến chống
Pháp‖ của Đặng Kinh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001;
―Truyền thống anh hùng của quân và dân khu Ba‖ của Cục Chính trị Quân
khu 3, Hà Nội, 1980;
―Quân khu 3 - Những trận đánh trong kháng chiến chống Pháp‖ của Bộ tƣ
lệnh Quân khu 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990.
Những tài liệu này đã trình bày thực tiễn và kinh nghiệm trên từng lĩnh vực
quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Quân khu Ba, khu Tả Ngạn,
trong đó có đề cập đến trận đánh sân bay Cát Bi nhƣ là một trong những sự kiện
quan trọng, tiêu biểu.
Thứ hai, có một số tài liệu đã viết về trận đánh trong loạt tài liệu trình bày
về các trận tập kích nhƣ: ―Tập kích sân bay Cát Bi - Gia Lâm - Bạch Mai‖ của
Cục Chính trị liên khu 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1962.
Thứ ba, trận đánh này cũng đƣợc trình bày trong phần viết về lịch sử kháng
chiến chống Pháp của Đảng bộ Hải Phòng, Bộ Tƣ lệnh Hải Phòng, hay lịch sử
Đảng bộ của các xã của Hải Phòng nhƣ:
―Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng‖ (Tập 1: 1925 - 1955) của Ban chấp hành
Đảng bộ Hải Phòng, Nhà xuất bản Hải Phòng, Hải Phòng, 1991;
―Những sự kiện về lịch sử đấu tranh vũ trang của Hải Phòng‖ (Tập 1:
1930 - 1955) của Bộ Tƣ lệnh Hải Phòng, Nhà xuất bản Hải Phòng, Hải Phòng,
1979;
―Hải Phòng - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược‖ của
Nguyễn Trƣờng Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986;
―Lịch sử Đảng bộ huyện An Hải‖ của Ban thƣờng vụ huyện uỷ An Hải,
Nhà xuất bản Hải Phòng, Hải Phòng, 1990;
―Lịch sử Đảng bộ xã Hòa Nghĩa‖ (1940 - 2000) của thƣờng vụ Hòa
Nghĩa, Nhà xuất bản Hải Phòng, Hải Phòng, 2001;
Thứ ba, luận văn đã khai thác về một phƣơng thức tấn công mới, táo bạo
của lực lƣợng vũ trang Kiến An - Hải Phòng, đó là cách đánh của bộ đội đặc
công tinh nhuệ. Đây là cách đánh sáng tạo của chiến tranh nhân dân mà cuối
những năm kháng chiến chống Pháp và suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ vẫn
đƣợc vận dụng và đã trở thành cách đánh truyền thống của nghệ thuật quân sự
Việt Nam.
Thứ tƣ, luận văn góp phần vào nghiên cứu giảng dạy về lịch sử địa
phƣơng, giai đoạn kháng chiến chống Pháp của Hải Phòng. Học sinh sẽ có điều
kiện tìm hiểu sâu về một chiến thắng đỉnh cao trong cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân Hải Phòng, một chiến thắng có ý nghĩa đặc biệt, ảnh hƣởng
không nhỏ đến ý chí kháng chiến của quân và dân Tả ngạn Sông Hồng, góp
phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.
6.Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng.
Chương I: Bối cảnh lịch sử của trận đánh, gồm 27 trang với các phần:
1.1. Hải Phòng - Kiến An trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
1.2. Sân bay Cát Bi - Một căn cứ không quân lợi hại của thực dân Pháp
trong cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam (1945 - 1954)
1.3. Sân bay Cát Bi trong chiến cuộc Đông xuân 1953 - 1954
Chương II: Quá trình chuẩn bị cho trận đánh, gồm 30 trang với các phần:
2.1. Trinh sát - gây dựng cơ sở
2.2. Xác định phƣơng án chiến đấu
2.3. Xây dựng lực lƣợng và chuẩn bị vật chất
2.4. Tổ chức luyện tập theo phƣơng án chiến đấu
Chương III: Diễn biến, kết quả của trận đánh, gồm 13 trang với các phần:
3.1. Tổ chức trận đánh và diễn biến
3.2. Kết quả
Chương IV: Đánh giá, gồm 15 trang với các phần:
bằng Bắc Bộ, cảng Hải Phòng là cửa ngõ về đƣờng biển lớn nhất miền Bắc
Đông Dƣơng. Từ đây, thực dân Pháp tiếp nhận nhân lực, vật lực để duy trì và
mở rộng cuộc chiến tranh xâm lƣợc. Hải Phòng Kiến An lại nằm trong địa bàn
chiến lƣợc rất trọng yếu của chiến trƣờng chính Bắc Bộ. Khi tiến hành chiến
tranh xâm lƣợc trở lại Việt Nam, ý đồ chiến lƣợc của thực dân Pháp là chiếm
giữ đồng bằng Bắc Bộ làm chỗ đứng chân, ra sức bình định nhằm biến nơi đây
thành hậu phƣơng chiến lƣợc trực tiếp để chúng vơ vét nguồn nhân lực, của cải
dồi dào thực hiện âm mƣu chiến tranh xâm lƣợc của chúng.
Hải Phòng là một đô thị, hải cảng bị chiếm đóng sớm, Kiến An là vành đai
bảo vệ Hải Phòng, cũng bị địch chiếm từ tháng 4 năm 1947. Ngay từ những
ngày đầu chiếm đóng, thực dân Pháp đã chú trọng xây dựng thị xã về quân sự,
chính trị, kinh tế, biến nơi đây thành hậu cứ chiến lƣợc của chúng trong khu vực
cố thủ Hải Phòng - Kiến An, làm một trong những bàn đạp xuất phát để đánh
phá vùng duyên hải, đồng bằng Bắc Bộ cũng nhƣ chi viện cho các chiến trƣờng
khác. Lúc này toàn bộ Kiến An chỉ có 2 vùng, đó là vùng địch tạm chiếm và
vùng tranh chấp, không có vùng tự do. Ngay sau khi chiếm đƣợc Hải Phòng và
thị xã Kiến An, chúng đã tổ chức đánh theo chiến thuật ―vết dầu loang‖, xúc
tiến các cuộc tiến công lấn chiếm bằng đƣợc vùng nông thôn.
Ngay từ đầu, thực dân Pháp đã xác định triệt tiêu tất cả những lực lƣợng vũ
trang thƣờng trực và bán vũ trang ở Hải Phòng. Vì vậy tại đây chỉ có lực lƣợng
bộ đội địa phƣơng chứ không có bộ đội chủ lực. Vì vậy, với đảng bộ Hải Phòng
Kiến An, trở ngại lớn nhất là xa sự chỉ đạo của Liên khu uỷ, của trung ƣơng
và hành quân của bộ đội gặp nhiều khó khăn khi đánh sâu vào địa bàn này.
Trong hoàn cảnh đặc thù đó, địch có ƣu thế nhiều mặt. Cơ sở kháng chiến của ta
luôn luôn bị địch khủng bố, phá vỡ, chỉ hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo có khu
du kích nhƣng thƣờng xuyên bị địch uy hiếp, càn quét, giành giật.
Thực tiễn chiến đấu ở những ngày đầu đã đặt hai địa phƣơng Hải Phòng và
Kiến An phải trở thành một chiến trƣờng, vì vậy ngày 26 tháng 11 năm 1946
Hải Phòng và Kiến An hợp nhất. Cuối tháng 3 năm 1947, bộ đội Vệ quốc đoàn
chỉ còn một đại đội ở Kiến An. Bộ chỉ huy chiến khu Ba đã rút hầu hết lực
sạo, khủng bố, bắn giết nhân dân.
Nhân dân Hải Phòng Kiến An mặc dù vẫn luôn hƣớng về kháng chiến
nhƣng do vừa phải trải qua những ngày tháng cực kì khó khăn, gian khổ, nên
đồng bào còn sợ bị địch khủng bố, sợ cán bộ bị bắt đầu hàng khai báo, liên luỵ
đến mình. Do đó các cán bộ đi khôi phục, xây dựng cơ sở đã gặp phải vô vàn
khó khăn.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến đầu năm 1950
đã có bƣớc phát triển mới, có ý nghĩa chiến lƣợc: Chính quyền nhân dân càng
thêm vững chắc, tinh thần chiến đấu của quân dân càng cao, lại đƣợc sự ủng hộ
của các lực lƣợng hoà bình và dân chủ thế giới. Tình hình đó tạo ra những điều
kiện thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Hải Phòng
Kiến An về lâu dài nằm trong ảnh hƣởng những thuận lợi của tình hình mới.
Nhƣng trƣớc mắt cuộc chiến đấu còn vô cùng gian khổ, quyết liệt. Trong thời
gian này, Hải Phòng Kiến An đã xây dựng và củng cố các đại đội bộ đội địa
phƣơng, mỗi huyện có từ một trung đội đến một đại đội và chú trọng hơn đến
công tác xây dựng lực lƣợng dân quân du kích.
Về phía thực dân Pháp, do phải tập trung quân cơ động để đánh chiếm
đồng bằng và trung du đầu năm 1950 nên chúng phải giảm bớt quân chiếm
đóng, rút bỏ một số vị trí ít quan trọng trên địa bàn Hải Phòng Kiến An. Song
chúng lại tăng cƣờng hoạt động chính trị, ra sức củng cố nguỵ quyền và hoạt
động gián điệp do thám. Vùng tạm chiếm Kiến An chúng kết hợp chặt chẽ cả
hành động quân sự lẫn thủ đoạn chính trị, càn quét triệt phá cơ sở kháng chiến
Đối với những khu có cơ sở kháng chiến mạnh, chúng tập trung càn quét liên
tục, dài ngày, cày đi xới lại 5, 6 tháng liền.
Để đối phó với nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lƣợc Đông
Dƣơng, Pháp buộc phải cầu xin viện trợ quân sự của đế quốc Mĩ và từ đó ngày
càng phụ thuộc vào Mĩ. Theo kế hoạch Đờlát đờ Tátxinhi và nhận đƣợc viện trợ
của Mĩ cả về mặt vật chất và chuyên gia kĩ thuật, địch xây dựng Hải Phòng
trung tâm của vùng chiến thuật và chia thành bốn tiểu khu chỉ huy thẳng xuống
các quân trấn. Dựa vào hệ thống đƣờng không, đƣờng bộ, chúng xây dựng hệ
1
Liên khu Ba (ngày nay là Quân khu Ba) đƣợc hình thành trên cơ sở hợp nhất Chiến khu Hai (Hữu ngạn sông
Hồng và Chiến khu Ba (Tả ngạn sông Hồng). Từ tháng 7 năm 1952 đến tháng 7 năm 1954, Liên khu Ba lại đƣợc
tách thành Khu Ba và Khu Tả ngạn trực thuộc trung ƣơng.
song song với bồi dưỡng lực lượng ta, tăng cường chất lượng cho bộ đội và dân
quân du kích, đủ sức đánh tiêu hao, tiêu diệt địch củng cố khu du kích, đẩy
mạnh vũ trang tuyên truyền, mở rộng cơ sở chính trị trong vùng địch tạm
chiếm‖ [3, Tr.118].
Công tác gây dựng cơ sở của địa phƣơng đã có bƣớc tiến mới. Sau một thời
gian dài làm công tác dân vận, chính lòng kiên trì, nhẫn nại của cán bộ, đảng
viên và chiến sĩ đã làm cho bà con xúc động, khơi dậy lòng yêu nƣớc của bà
con. Nhân dân đã đƣa cán bộ về nhà, đào hầm cất giấu, nuôi ăn, nuôi mặc, canh
gác, bảo vệ. Các cơ sở đƣợc hồi phục, phong trào đấu tranh phát triển hơn. Bên
cạnh đó hoạt động Đông Xuân 1952 1953 nổ ra trên khắp chiến trƣờng toàn
quốc tạo nên bầu không khí vô cùng phấn khởi trong nhân dân Hải Phòng -
Kiến An. Sau những năm tháng đau thƣơng, gian khổ, giờ đây nhân dân vùng bị
địch tạm chiếm đã thực sự nhìn thấy ánh sáng của thắng lợi.
Thực hiện chỉ thị của Khu uỷ Tả Ngạn (đƣợc thành lập năm 1952 theo
quyết định của Tổng quân uỷ) về hoạt động Xuân Hè 1953, Tỉnh uỷ và Tỉnh đội
Kiến An đã quán triệt phƣơng châm dùng lực lƣợng tinh nhuệ đánh vào thị xã,
thành phố; chủ trƣơng đẩy mạnh hoạt động ở vùng sau lƣng địch và tổ chức
những trận tập kích vào các hậu cứ chiến lƣợc của chúng. Do tình hình cơ sở
kháng chiến ở một số xã nằm ven thị xã Kiến An đƣợc khôi phục và ngày càng
mạnh lên đã tạo điều kiện cho các chiến sĩ quân báo của ta bám sát, điều tra nắm
chắc tình hình vị trí, kho tàng của địch ở thị xã Kiến An.
Sau một thời gian bí mật chuẩn bị địch tình, xây dựng kế hoạch tác chiến,
ngày 20 tháng 4 năm 1953, Tỉnh uỷ Kiến An quyết định tập trung lực lƣợng bộ
đội địa phƣơng gồm 300 quân tinh nhuệ tập kích vào thị xã Kiến An. Đây là
một phân khu quan trọng, đồng thời là cứ điểm hậu cần chiến lƣợc hợp thành
địch ở Sở Dầu ―đốt cháy 147 triệu lít xăng dầu, phá huỷ 300 xe cơ giới các loại,
gây thiệt hại cho địch 400 triệu đồng Đông Dƣơng‖ [3, Tr117].
Đây là đòn phủ đầu trời giáng vào kế hoạch Na - va, nó có ý nghĩa to lớn
vì đã đánh thẳng vào dạ dày của địch. Chiến thắng Sở Dầu là một chiến thắng
kép: vừa phá đƣợc kho tàng phƣơng tiện chiến tranh lớn của địch, vừa bảo toàn
đƣợc lực lƣợng ta, làm thất bại kế hoạch trả thù của địch vào sáng hôm sau. Đây
là thắng lợi của quan điểm chiến lƣợc đúng, tiêu diệt sinh lực địch cả về quân số
và phƣơng tiện chiến tranh. Chiến thắng này cũng là kết quả của tinh thần chiến
đấu thông minh và đầy quả cảm của các cán bộ, chiến sĩ, đồng thời cũng là kết
quả của thế trận chiến tranh nhân dân. Đây là đòn đánh hiểm thứ hai của quân
dân Hải Phòng - Kiến An giáng xuống đầu quân xâm lƣợc. Sau trận Sở Dầu,
địch gặp khó khăn lớn về hậu cần, chúng nơm nớp lo sợ các cuộc tấn công sắp
tới của quân ta xuất phát từ các chỗ đứng chân từ nông thôn Kiến An và ngoại
thành Hải Phòng.
Nhìn chung, chiến thắng Kiến An, Sở Dầu khẳng định chủ trƣơng của
Tỉnh uỷ về việc: tìm sơ hở của địch để chủ động tiến công, đánh thẳng vào sào
huyệt, phá cơ sở hậu cần chiến lƣợc của địch là hoàn toàn đúng đắn. Hơn thế,
nó còn nói lên sự trƣởng thành về kĩ thuật, chiến thuật của bộ đội địa phƣơng,
sự mạnh lên về trình độ chỉ huy chiến đấu, cho ta kinh nghiệm về đánh thọc sâu
vào hậu cứ của địch có hiệu quả lớn.
Về phía thực dân Pháp, bƣớc vào năm 1953, kế hoạch quân sự của Xa -
lăng không vẫn không cứu vãn đƣợc tình hình, trái lại ở đâu địch cũng rơi vào
tình thế bị động đối phó. Lực lƣợng của địch luôn bị căng ra, bị bao vây chia
cắt, bị tiêu hao và tiêu diệt. Để cứu vãn tình thế, chính phủ Pháp phải tính đến
cái gọi là: Những điều kiện quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có
danh dự. Tháng 5 năm 1953, chính phủ Pháp cử tƣớng Na - va, nguyên tổng
thanh tra quân đội Pháp, cựu tƣ lệnh lục quân khối quân sự Bắc Đại Tây Dƣơng
làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dƣơng sang Việt Nam. Na -
va sang nhận nhiệm vụ, mang theo bản kế hoạch mang tên hắn đƣợc hội đồng
tham mƣu trƣởng Pháp đánh giá cao và đƣợc can thiệp Mĩ đồng tình và viện trợ.
Thực hiện kế hoạch trên, dƣới sự lãnh đạo, chỉ đạo Tỉnh uỷ Kiến An và Thành
uỷ Hải Phòng, quân và dân Hải Phòng Kiến An đã đẩy mạnh các hoạt động:
Củng cố cơ sở Đảng, phát triển các đoàn thể quần chúng, động viên thanh niên
hăng hái tòng quân giết giặc. Tỉnh Kiến An đã có 4590 thanh niên gia nhập bộ
đội chủ lực tỉnh và bộ đội chủ lực khu. Trong vùng địch tạm chiếm, các cấp uỷ
đảng tích cực chỉ đạo, củng cố, xây dựng lực lƣợng công an, du kích bí mật,
nhất là ở các địa bàn quan trọng: vùng ven thành phố, thị xã, cảng, sân bay,
đƣờng giao thông chiến lƣợc Bộ đội chủ lực của tỉnh, huyện đƣợc học tập
chính trị, nhận thức tình hình, nhiệm vụ mới đồng thời khẩn trƣơng rèn luyện
chiến thuật, kĩ thuật quân sự
Riêng bộ đội tập trung sau trận tập kích thị xã Kiến An, Ban chỉ huy tỉnh
quyết định giải tán Đại đội 54 của tỉnh, tăng cƣờng cho Đại đội 196 huyện Tiên
Lãng từ 3 trung đội thành 4 trung đội để khi địch càn 4 khu thì có 4 đơn vị phối
hợp với du kích cùng lúc kiện toàn cho hai đại đội 295 và 331 thành hai đại đội
mạnh.
Về phía địch, vừa thực hiện kế hoạch Na - va, vừa phản ứng tức thời sau
hai trận quân ta đánh vào thị xã Kiến An và Sở Dầu, chúng tập trung lực lƣợng
lớn quân Âu Phi càn quét ác liệt và dai dẳng trên địa bàn Kiến Thuỵ. Ngoài
việc tìm diệt lực lƣợng vũ trang, phá cơ sở kháng chiến, địch ra sức vơ vét của
cải, bắt thanh niên đi lính. Tại thị xã Kiến An, địch tăng cƣờng thêm 1 tiểu đoàn
thƣờng xuyên kiểm soát các ngả đƣờng, củng cố lại hệ thống phòng thủ, lắp
thêm 2 đèn chiếu trên núi Cột Cờ. Ở thị trấn Đồ Sơn, địch xây dựng thêm 11
tháp canh, tăng thêm pháo và đèn chiếu. Tại địa bàn Kiến Thuỵ chúng đóng
thêm 2 vị trí, tăng lính Âu Phi Tiên Lãng, Vĩnh Bảo là căn cứ du kích, địa bàn
đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, do đó vùng này trở thành trọng điểm đánh
phá của chúng.
Bằng cách huy động trên 10 tiểu đoàn, trong đó có hai binh đoàn cơ động
thiện chiến, tăng cƣờng phi pháo yểm trợ, thực dân Pháp đã mở cuộc càn quét
Cơ - lốt (Claude) từ ngày 28 tháng 8 năm 1953 đến ngày 20 tháng 9 năm 1953
vào Tiên Lãng trung tâm của kế hoạch bình định mới của chúng. Đây là trận
Úc; đoạn đê Nam Am thuộc Vĩnh Bảo có quãng dài đến hơn 30 km không còn
một vị trí nào của địch. Từ đầu năm 1954, nhiệm vụ xây dựng du kích bí mật
trong vùng địch chiếm và củng cố ban chỉ huy xã hội, thôn đội đƣợc các cấp uỷ
đảng quan tâm. Lúc này chiến trƣờng phát triển rất sôi động, các lực lƣợng vũ
trang của ta ở các nơi hoạt động mạnh, phong trào đấu tranh của nhân dân trong
vùng địch tạm chiếm lên cao.
Bị bao vây trong biển lớn của chiến tranh nhân dân, quân địch bị bƣng
tai, bịt mắt, đánh mà không thấy đối phƣơng, đánh mà không trúng, có cách
đánh sở trƣờng mà không phát huy đƣợc. Chính vì vậy, kẻ địch có đông quân,
nhiều phƣơng tiện mà lại bị phân tán, suy yếu, không phát huy đƣợc tác dụng
nhƣ chúng muốn. Trái lại, các lực lƣợng vũ trang và chính trị của ta có thể bao
vây địch thƣờng xuyên, tiến công và nổi dậy ở khắp nơi. Trong thế đó, các lực
lƣợng của ta có thể phát huy đƣợc tác dụng mạnh mẽ, luôn luôn giữ quyền chủ
động đánh địch, đánh chúng ở đâu và vào lúc nào là do mình lựa chọn, đã đánh
là trúng, tiêu diệt địch từ nhỏ đến lớn. Trong thế chiến tranh nhƣ vậy, kẻ địch có
nhiều quân và phƣơng tiện nhƣng chúng không thể phòng thủ chắc khắp mọi
nơi. Thế chiến lƣợc phân tán và bị động của chúng bao giờ cũng bộc lộ nhiều
chỗ yếu và sơ hở. Quân và dân ta có thể dựa vào thế chiến lƣợc có lợi của mình,
dùng lực lƣợng thích hợp đánh những đòn bất ngờ, rất hiểm, rất đau. Toàn dân
đánh giặc, điều đó đó đƣợc nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lƣợc trong lịch sử
ta chứng minh.
Phát động toàn dân nổi dậy đánh giặc, quân và dân Hải Phòng - Kiến An đã
tạo nên một thế bao vây, chia cắt và tiến công địch về chính trị và quân sự, ở
ngay các địa bàn mà chúng tạm thời chiếm đóng. Trên các địa bàn này, bằng
cách kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du
kích với chiến tranh chính quy, chúng ta đã tạo nên một thế chiến tranh xen kẽ,
rất triệt để, trong đó quân đội hiện đại của thực dân Pháp bị chia cắt, bao vây, bị
tiến công từ bốn phía, ở khắp mọi nơi, làm cho địch không tìm đâu ra một nơi
gọi là an toàn trong một cuộc chiến tranh không tiền tuyến, không hậu phƣơng,
mà đâu cũng là chiến trƣờng. Những cuộc phản cụng này nằm trong tỡnh hỡnh
xung quanh thành vành đai trắng. Đặc biệt, sau chiến thắng Biên giới của quân
và dân ta, bọn can thiệp Mĩ bắt đầu trực tiếp giúp Pháp kiến thiết sân bay Cát Bi
thành một sân bay hiện đại, một trong những sân bay lớn nhất ở Đông Dƣơng.
Trong hai năm 1951 - 1952, chúng tiếp tục đuổi dân ở 8 thôn xóm xung quanh
sân bay để mở rộng 450m đƣờng băng và phạm vi sân bay (kể cả hệ thống
phòng thủ, bảo vệ kiên cố, 300 bốt gác, 3 hàng rào dây thép gai và vùng trắng)
ra 6 km
2
Sân bay Cát Bi nhanh chóng đƣợc mở rộng thành một trong những trọng
điểm của căn cứ quân sự liên hợp gồm cảng Hải Phòng, sân bay Cát Bi, hệ
thống kho hàng. Trong đó riêng sân bay này trở thành khu vực tập kết vũ khí,
trang bị kĩ thuật quân sự, có sức chứa hàng trăm máy bay để từ đây cầu hàng
không sẽ chuyển các mặt hàng chiến lƣợc cho các chiến trƣờng phía bắc Đông
Dƣơng. Từ ngày thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, sân
bay trở thành cầu hàng không lớn trực tiếp chi viện cho Điện Biên Phủ.
Sân bay nằm sâu trong vùng địch hậu, cách thành phố Hải Phòng hơn 7 km
về phía đông nam. Phía đông bắc sân bay giáp sông Cấm và cửa biển (cửa
Cấm), phía tây nam giáp sông Văn Úc và vịnh Bắc Bộ, phía bắc cách cảng Hải
Phòng 5 km.
Phạm vi sân bay chiếm diện tích rộng hơn 1500ha, có 500 ha xung quanh
là vành đai trắng, có hai đƣờng băng chéo nhau đƣợc thiết kế cho phi cơ hạng
nặng có thể lên xuống đƣợc. Đƣờng ghi cho máy bay loại nặng lên xuống, các
công sự, khu nhà máy, hệ thống thông tin liên lạc đều đƣợc củng cố hơn. Từ
20 tháng 11 năm 1953, khi giặc Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ
và xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh thì sân bay Cát
Bi càng đƣợc quân địch chú trọng, nó trở thành cầu hàng không trực tiếp chi
viện cho Điện Biên Phủ.
Việc xây dựng sân bay Cát Bi không phải chỉ là công trình của giặc Pháp.
Tháng 1 năm 1954, Mĩ đã đƣa sang Cát Bi một số phi công, nhân viên cùng
Quý Kim để bảo vệ sân bay từ bên kia sông Lạch Tray, ngoài ra còn có lực
lƣợng Âu Phi canh gác sát ngay đội hình máy bay đỗ. Ngoài ra có 13 cụm
phòng không bằng vũ khí trọng liên bố trí bảo vệ sân bay. Giữa các hàng rào, lô
cốt, tháp canh đều có hoả lực kiểm soát, khống chế và các bãi mìn, vật cản gây
tiếng động khi có va chạm.
Việc canh giữ, tuần tiễu địch ở sân bay đƣợc tổ chức nghiêm mật, chặt chẽ
bởi các đội tuần tra bằng xe cơ giới mang theo chó săn lùng sục quanh sân bay
cứ 15 phút vòng lại một lần. Một lực lƣợng khác thƣờng trực sẵn sàng cơ động
ứng phó với mọi tình huống bất trắc từ xa, bên cạnh đó sân bay còn đƣợc lực
lƣợng ứng chiến từ Hải Phòng chi viện khi cần thiết. Ngoài ra còn có lực lƣợng
tề dõng địa phƣơng, bọn gián điệp của phòng nhì ở Cây Xanh, Đồng Xá chuyên
điều tra phá cơ sở ta ở các làng quanh sân bay. Địch thƣờng xuyên tổ chức
những trận càn sâu vào vùng nông thôn Kiến Thuỵ để lập tề, tạo thành khu đệm
ngăn cách sân bay với vùng tự do Tiên Lãng của ta.
Địch đã lợi dụng 3 mặt giáp sông và biển của sân bay trong việc bố phòng
cũng nhƣ chúng đã lợi dụng các cao điểm ở các khu vực chung quanh dãy núi
Kiến An (phía tây), dãy núi Cát Bà (phía đông), dãy núi Đồ Sơn (phía nam) và
dãy núi Đèo ở Thuỷ Nguyên để đặt các đài quan sát, súng cao xạ bảo vệ sân
bay. Để đảm bảo an toàn hơn nữa, chúng còn bố trí các tuyến phòng ngự dọc
theo sông Văn Úc và tuyến đƣờng số 14; trên các tuyến đƣờng đó, đồn bốt địch
đóng nhan nhản.