®¹i häc quèc gia hµ néi
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ MAI THANH
CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRONG CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
(1945-1954)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hµ néi – 2013
®¹i häc quèc gia hµ néi
Hµ néi - 2013
BẢNG QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
BCH
Ban Chấp hành
2
BTV
Ban Thường vụ
3
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
4
CNCS
Chủ nghĩa cộng sản
5
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
6
CNĐQ
Chủ nghĩa đế quốc
7
CGVN
Công giáo Việt Nam
10
CMDTDCND
Hội Công giáo kháng chiến
23
KCCP
Kháng chiến chống Pháp
24
MTVM
Mặt trận Việt Minh
25
MTLV
Mặt trận Liên việt
26
M.E.P
Hội truyền giáo nước ngoài Paris
28
LĐCGKC
Liên đoàn Công giáo kháng chiến
29
U.M.D.C
Đơn vị lưu động bảo vệ họ đạo
30
VNDCCH
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
31
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
32
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
33
NATO
1.2.2.
Công giáo với cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, chuẩn bị kháng chiến
44
Chương 2: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC GIAI ĐOẠN
KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (1946-1954)
67
2.1.
Công giáo với dân tộc những năm đầu toàn quốc kháng chiến
(1946 -1951)
67
2.1.1.
Những nhân tố tác động đến đường hướng Công giáo Việt Nam
67
2.1.2.
Công giáo Việt Nam – “dòng trong” và “dòng đục”
76
2.2.
Công giáo với dân tộc giai đoạn đẩy mạnh kháng chiến đến
thắng lợi (1951-1954)
96
2.2.1.
Công giáo đồng hành cùng dân tộc
96
2.2.2.
Một bộ phận Công giáo đi ngược lợi ích dân tộc
103
2.2.3.
Cuộc di cư của người Công giáo miền Bắc
111
3.2.2.
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo, lương thực sự
156
3.2.3.
Phân hóa, tranh thủ hàng ngũ chức sắc Công giáo
161
3.2.4.
Đấu tranh với âm mưu lợi dụng Công giáo, trên tinh thần khoan
dung, độ lượng
165
KẾT LUẬN
172
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
174
TÀI LIỆU THAM KHẢO
175
PHỤ LỤC
192
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến, có ảnh hưởng to lớn đến sự
nguyên thuỷ - Giáo hội Công giáo Rô ma.Trong tiếng Việt, thuật ngữ Công giáo được dùng để dịch từ
Catholica/Catholiquevới ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộngdành cho tất thảy mọi người
không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa.Ngoài ra, Công giáo ở Việt Nam còn được gọi là đạo Gia tô, Thiên
Chúa giáo, Kittô giáo.
2
Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán –Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn
từ Abraham – tổ phụ của người Do Thái và Ả Rập.Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt
văn hóa cũng như hàng ngàn xác tín và giáo phái khác nhau. Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo hình thành nên
ba nhánh chính: Công giáo Rô ma, Chính thống giáo Đông phương (tách ra khỏi Giáo hội Công Giáo La Mã
năm 1054vì một số bất đồng về tín lý, phụng vụ và quyền bính)và Tin lành (ly khai khỏi Công Giáo và Chính
Thống Giáo sau những cuộc cải cách/reformations do Martin Luther chủ xướng tại Đức năm 1517). Những
nhánh này sau đó cũng đã phân chia thành hàng ngàn các nhánh nhỏ khác nhau. Tính chung, đây là tôn giáo lớn
nhất thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới).
bước tiến của sự xâm lăng thuộc địa tương ứng với mỗi bước leo thang của đạo
Công giáo và ngược lại. Đã xảy ra không ít những cuộc đụng độ giữa Công giáo
và dân tộc.
Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, có sức lan tỏa,
có tầm ảnh hưởng sâu rộng vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc. Nhà nước
VNDCCH ra đời – chính từ thời khắc lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam bước vào
cuộc hồi sinh vĩ đại, xóa bỏ 80 năm nô lệ, xây dựng cuộc sống mới với tư thế và
địa vị của người làm chủ. Với tính chất dân tộc sâu đậm, Cách mạng tháng Tám
đã mở ra cho người CGVN vận hội mới - đoàn kết với 20 triệu người ngoại đạo
thành một khối thống nhất để kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc. Đó là cơ hội để
người Công giáo vươn lên, xác định đúng vị trí của mình trong lòng dân tộc Việt
Nam.
Cách mạng thành công chưa bao lâu, lịch sử lại đặt đất nước Việt Nam
trước những thách thức mới và to lớn – thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến
tranh tái chiếm Đông Dương. Nền độc lập vừa mới giành được đứng trước nguy
cơ một mất, một còn. Lúc này, độc lập là vô giá, quyền dân tộc là thiêng liêng;
lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, tự do; nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng,
cho số lượng công trình nghiên cứu hoặc về, hoặc có liên quan đến đề tài khá đồ
sộ, đa dạng về chủng loại, phong phú ở góc độ tiếp cận.Khảo cứu một cách kỹ
càng, cẩn trọng những công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước
là thao tác khoa học cần thiết, quan trọng, là một trong những cơ sở để tác giả
luận án hoàn thành mục đích nghiên cứu của mình.
Hệ thống hóa, phân tích các công trình khoa học về, hoặc liên quan trực
tiếp đến vấn đề tôn giáo, CGVN, vấn đề Công giáo với dân tộc trong cuộc
KCCP (1945- 1954), dựa vào đối tượng, mục đích, phạm vi, nhiệm vụ nghiên
cứu của các công trình, tác giả chọn cách tiếp cận theo nội dung vấn đề nghiên cứu
để phân loại công trình.
2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về tôn giáo
Trung tâm thông tin tư liệu – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1995), Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp
bách, Chuyên đề,Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa (Chủ nhiệm, 2003), Xu hướng phát triển
tôn giáo hiện nay ở nước ta và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý,
Đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Võ
Kim Quyên (2004), Tôn giáo và đời sống hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội; Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo,
Hà Nội; Vũ Văn Hậu (2006), “Nhìn nhận về sự tác động của toàn cầu hóa tới
đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay”, Tạp chíThông tin Khoa học xã hội, số 8;
Đỗ Minh Hợp (Chủ biên, 2006), Tôn giáo học nhập môn, Nxb Tôn giáo, Hà
Nội; Đỗ Minh Hợp (Chủ biên, 2006), Tôn giáo Phương Đông - Quá khứ và hiện
tại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn
giáo học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội…
Thông tin chuyên đề “Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở
Việt Nam” đã tập trung làm rõ những đặc điểm chủ yếu của các loại hình tôn
giáo lớn ở Việt Nam, trình bày những tác động cơ bản của các tôn giáo khác
nhau đối với đời sống xã hội Việt Nam, chỉ ra những phương hướng chủ yếu xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo. Trong công trình, các tác giả đã khái lược về lịch
với những cách tiếp cận khác nhau. Về Công giáo, tác giả cho rằng, Công giáo được
truyền bá vào Việt Nam không chủ trương nhập thế (theo nghĩa đồng hành với dân
tộc), song qua từng thời kỳ khác nhau, Công giáo đã có những đóng góp nhất định cho
sự nghiệp bảo vệ, giải phóng và canh tân đất nước. Tác giả đã đánh giá một cách
khách quan những đóng góp của Công giáo trong các lĩnh vực kiến trúc, văn học, báo
chí, âm nhạc… Nhìn chung, vấn đề Công giáo với dân tộc trong kháng chiến chống
Pháp mới chỉ được tác giả điểm lướt qua.
Về tổng thể, đây là nhóm công trình có số lượng lớn, đa dạng về thể loại
và quy tụ được đông đảo các nhà khoa học tên tuổi. Các nhà khoa học đã tiếp
cận vấn đề dưới nhiều góc độ, lấy thực tiễn biến chuyển, vận động của các tôn
giáo lớn ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam làm cơ sở tham chiếu; từ đó, đúc
rút những vấn đề lý luận, cung cấp những kiến thức nền, căn bản và một số kiến
thức chuyên sâu cho người nghiên cứu.
2.2. Nhóm công trình nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
và đoàn kết tôn giáo
Nguyễn Đức Lữ (1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương
giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3; Viện Nghiên cứu Tôn giáo(1996), Hồ Chí
Minh về tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Đỗ Quang Hưng
(Chủ biên, 2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết
trong cách mạng Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; GS.TS. Lê Hữu
Nghĩa - PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ (Chủ biên, 2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo, công tác tôn giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đức Lữ
(2007), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới”,
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12; Nguyễn Đức Lữ (Chủ biên, 2009), Tư tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành
chính, Hà Nội…
Công trình khoa học cấp Nhà nước KX.02-07: “Chiến lược đại đoàn kết
Hồ Chí Minh” (GS. Phùng Hữu Phú chủ trì, 1995) là công trình khảo cứu khá
kỹ, có hệ thống về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, từ quá trình hình
thành, thực hiện đến nội dung, nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết. Vấn đề
Trong bài viết “Hồ Chí Minh về sự khoan dung tôn giáo”, Tạp chí Nghiên
cứu Tôn giáo số 1, 2003), tác giả Hồ Trọng Hoài cho rằng: “Mặc dù thế giới
quan mácxít là khác biệt thế giới quan tôn giáo, song nó chủ trương khắc phục
sự khác biệt trên cơ sở khoan dung – tôn trọng triệt để quyền tự do tín ngưỡng
tôn giáo của con người”. Tác giả khẳng định: Những người Cộng sản chủ trương
kiến tạo một “thiên đường”, “một cõi bồng lai” ngay chính ở cõi trần và thực
hành bình đẳng tôn giáo trong cả tư tưởng và hành động. Trên cơ sở thế giới
quan mácxít về tôn giáo, về căn bản, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn có chính
sách tôn giáo hợp lòng người. Tuy nhiên, không phải bao giờ và ở mọi lúc, mọi
nơi, sự chỉ đạo hiện thực hóa chính sách tôn giáo vào cuộc sống cũng đúng đắn,
khoa học. Không hiếm gặp sự cực đoan, giáo điều, duy ý chí trong thực hiện.
Phục vụ một cách hiệu quả cho những người nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo là công trình “Chủ tịchHồ Chí Minh với đồng bào Công giáo”
(Huy Thông sưu tầm và tuyển chọn, Nxb Chính trị quốc gia, 2004). Tác giả sưu
tập một khối lượng phong phú các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
Công giáo và đồng bào Công giáo đã đăng tải trên các báo Cứu quốc, Nhân dân,
Chính nghĩa… và trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập, sắp xếp theo trình tự thời
gian, rất thuận tiện cho việc nghiên cứu. Sự cẩn thận, tỉ mỉ, công phu trong sưu
tập, tập hợp, sắp xếp tư liệu, sự kiện cho thấy tâm huyết của tác giả đối với việc
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng.
Một cách tổng quát, đây là những công trình nở rộ từ thời kỳ đầu đổi mới,
đặc biệt phát triển mạnh mẽ từ năm 1991, sau khi tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII, ĐCSVN quyết định “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam”. Cho
đến nay, đây vẫn là khu vực nghiên cứu khá sôi động, nhiều vấn đề nghiên cứu
được làm sâu thêm; triển khai nghiên cứu những vấn đề mới, nhất là những vấn
đề thuộc về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo vào thực tiễn.
2.3. Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nƣớc Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ, (Chủ nhiệm đề tài, 2002), Đổi mới chính sách
mối quan hệ với văn hoá, nhìn rõ sự tác động qua lại giữa văn hóa và tôn giáo,
nhận thức đầy đủ sức mạnh nội sinh của tôn giáo với tư cách là một bộ phận của
văn hóa, một bộ phận của đời sống xã hội.
Luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học của NCS. Nguyễn
Văn Hậu (2004) “Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc ở Việt Nam từ Cách
mạng tháng Tám 1945 đến nay” nghiên cứu quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc ở
Việt Nam, đặt trọng tâm nghiên cứu vào quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc thời
kỳ xây dựng CNXH. Luận án khẳng định: Bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những quyết sách đúng đắn
về tín ngưỡng, tôn giáo. Chính sách đó phần nào hoá giải được những mâu thuẫn
giữa tôn giáo và CNXH, củng cố mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc. Luận án
chỉ ra rằng, hiện nay, trong quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo vẫn tồn tại những
vấn đề hết sức phức tạp, nhất là khi các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam
luôn lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Năm 2007, NCS. Phạm Hữu Xuyên đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ
Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học: “Quan điểm Hồ Chí Minh về tín ngưỡng,
tôn giáo”. Luận án chỉ ra tính phức tạp của vấn đề tôn giáo nói chung, tôn giáo ở
Việt Nam nói riêng trong điều kiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đang được các
thế lực thù địch coi là công cụ hữu hiệu để làm lung lay chế độ XHCN ở Việt
Nam. Luận án nhấn mạnh: Muốn có đường lối, chính sách tôn giáo đúng đắn,
khoa học, Đảng và Nhà nước cần phải vận dụng một cách sáng tạo những quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn
giáo, đặc biệt là các quan điểm về đoàn kết lương giáo, ứng xử khoan dung với
tôn giáo, về đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và
CNXH… Luận án đưa ra lời cảnh báo và giải pháp chống địch lợi dụng tôn giáo
chống phá chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam.
Nhìn chung, nhóm công trình nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước Việt Nam khá phong phú với đội ngũ nghiên cứu hùng hậu, có
những đóng góp quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiễn. Điều đáng nói là
Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đến trước Cách mạng tháng Tám 1945”, tác giả
Nguyễn Phú Lợi đã trình bày quá trình hình thành, phát triển của tổ chức xứ, họ
đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đến trước khi Cách mạng tháng Tám 1945
thắng lợi, góp phần làm rõ vai trò của các tổ chức xứ, họ đạo Công giáo trong
đời sống của người Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ. Tuy thời gian nghiên cứu là
trước năm 1945, song những kết quả khảo cứu của luận án về hoạt động, cách
thức tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ đã cung cấp cho tác giả
luận án những nhận thức cơ bản về đơn vị tổ chức Công giáo thấp nhất, song lại
có những ảnh hưởng đáng kể đối với đời sống giáo dân đồng bằng Bắc Bộ.
Chuyên luận "Choosing Peace Hanoi and the Geneva Agreement on
Vietnam,1954–1955" (Journal of Cold War Studies, Vol. 9, No. 2, Spring 2007)
của Pierre Asselin tuy không nghiên cứu trực tiếp về Công giáo ở Việt Nam,
song đề cập đến tình hình Việt Nam sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, đã
giành một dung lượng đáng kể khảo cứu về vấn đề người Công giáo di cư vào
miền Nam. Phân tích chính sách tôn giáo của Nhà nước VNDCCH, yêu cầu
đoàn kết dân tộc, Pierre Asselin kết luận rằng, số giáo dân di cư vào miền Nam
Việt Nam đa phần bị dẫn dắt bởi đức tin mù quáng chứ không hoàn toàn do kỳ
thị tôn giáo của Chính phủ Việt Minh như một số quan điểm chủ quan đậm sắc
thái tuyên truyền chính trị vẫn thường gặp.
Chuyên luận “Northern Migration:PopulationCatholic
refugeesfromNorth Vietnamandtheir rolein the Republic ofSouthVietnam, 1954-
1959” (Journal of Vietnamese Studies, Volume 4, issue 3, Fall 2009), Peter
Hansen (giảng viên khoa Lịch sử Giáo hội ở Châu Á,
Melbourne College of Divinity, Australia) là một công trình khảo cứu khá kỹ về
quá trình di cư, tái định cư của giáo dân miền Bắc ở miền Nam Việt Nam sau
năm 1954. Vốn từng là một luật sư đã có thời gian làm việc thiện nguyện tại một
số trại tỵ nạn Hồng Kông và Philippinnes đầu những năm 90 (XX) - nơi ông làm
quen với những người Việt tị nạn, có vốn hiểu biết sâu sắc về cộng đồng người
Việt Nam di cư, có nguồn tư liệu phong phú, nên nhiều luận giải của tác giả khá
thuyết phục. Đưa ra một góc nhìn mới về nguyên nhân của cuộc “thiên di lịch
công cụ biến chuyển đời sống thiêng liêng, nhưng mặt khác, GHCG không hề là
một phiến đá rắn nguyên khối, có tính cách đa biệt nội tại, mà có khả năng thích
ứng uyển chuyển và thay đổi qua lịch sử. Trên quan điểm đó, nhóm tác giả khảo
sát những cách thích ứng địa phương và quốc gia của GHCG trong bối cảnh lịch
sử xã hội XHCN, nghiên cứu các chủ đề như truyền thống đối với hiện đại, giáo
phẩm đối với hàng giáo sĩ cấp dưới, cơ cấu định chế đối với tổ chức quần chúng
bình dân…; từ đó, cuốn sách lần lượt mô tả dung mạo xã hội và chính trị của
Giáo hội đương đại ở các nước XHCN khác nhau. Về Công giáo ở Việt Nam
những năm 1945-1954, các tác giả khái quát những vấn đề cơ bản nhất trong
quan hệ Công giáo với chính trị, khẳng định: “Việc can thiệp và xâm chiếm
thuộc địa của Pháp (1860-1945) làm cho Giáo hội thịnh đạt như một định chế”
[220, tr. 272].
Năm 2009, Nhà xuất bản Cerf (Paris) cho ra đời cuốn sách: "Église
catholique et le communisme en Europe (1917-1989). De Lénine à Jean-Paul II,
Paris” của Giáo sư Philippe Chenaux. Cuốn sách nghiên cứu về quan hệ giữa
3
Pedro Ramet là giáo sư diễn giảng (associate professor) tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Henry M Jackson, Viện
Đạ i học Washington, Seattle.
Công giáo với cộng sản và các xung đột dưới mọi hình thức qua sự khảo cứu
công phu những vấn đề của Công giáo ở các nước khối XHCN Đông Âu, Liên
Xô và ở những nước phát triển Tây Âu, với phạm vi nghiên cứu bắt đầu từ năm
1917 (năm Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, đưa những người cộng sản lên
nắm quyền ở nước Nga, sau đó dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng “mười
ngày rung chuyển thế giới” xuất hiện một hệ thống các nước theo tư tưởng cộng
sản) và kết thúc bằng năm 1989 (thời điểm bức tường Berlin cùng với Nhà nước
xã hội chủ nghĩa các nước Đông Âu sụp đổ). Đó là khoảng thời gian mà Philippe
Chenaux gọi là “thế kỷ XX ngắn ngủi”. Trong cuốn sách, Philippe Chenaux làm
rõ quan hệ đối đầu – hòa hoãn – đối đầu giữa Công giáo và cộng sản, coi một
trong những điểm khởi nguồn cho sự sụp đổ của hệ thống cộng sản trong các
dân tộc ở châu Á với những thay đổi về định chế cũng như văn hoá của
GHCGVN. Nghiên cứu mối liên hệ giữa đức tin và chính trị trong nước Việt
Nam thuộc địa, tác giả chỉ ra những thay đổi trong Giáo hội Thiên Chúa giáo
Việt Nam – sự thay đổi phản ánh sự bất hoà ngày càng gia tăng giữa Chính
quyền thuộc địa và những mối quan hệ ngày càng lớn hơn với Giáo hội Thiên
Chúa giáo toàn cầu. Đó cũng là cơ sở giúp giải thích vai trò của Nhà thờ trong
xã hội Việt Nam sau khi giành được độc lập.
Trong bài viết “Tools of Empire? Vietnamesse Catholics in South
Vietnam” (Journal of the Canadian Historical Association, Vol 20, N
0
2, 2009),
Van Nguyen-Marshall (Phó giáo sư sử học,Trent University)nghiên cứu và dựng
lại bức tranh cáchoạt động chínhtrị - xã hội của người Công giáo miền Nam Việt
Nam từ năm 1950 đến năm 1970, từ hoạt động cứu trợ nhân đạo đến biểu tình
chống chiến tranh, tham gia vàochính trị địa phươngvàquốcgia, phê bìnhchính
sách của Chính phủ. Những nỗ lực ấy của người công giáo miền Nam Việt Nam,
theo đánh giá của Van Nguyen-Marshall, thể hiện tính chủ động, cố gắng thay
đổi môi trường chính trị - xã hội. Điều đó chứng tỏ rằng, người Công giáo miền
Nam Việt Nam đã vượt khỏi khuôn khổ “đóng cứng của đạo”, tham gia vào đời
sống chính trị.
Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu nêu trên, các nhà nghiên
cứu tập trung làm sáng tỏ những nội dung cơ bản nhất về tình hình Công giáo ở
Việt Nam qua các giai đoạn nghiên cứu khác nhau. Đây là hướng nghiên cứu
hẹp trong lĩnh vực tôn giáo, nên trong so sánh với một số hướng nghiên cứu
khác, thì số lượng công trình còn khá khiêm tốn, song những đóng góp của các
công trình cho tiến trình nghiên cứu Công giáo là rõ nét và quan trọng.
2.5. Nhóm công trình nghiên cứu về Công giáo với dân tộc trong
kháng chiến chống Pháp
Phạm Bá Trực (1945), “Kính chúa yêu nước đoàn kết lương giáo đấu
tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”, Uỷ ban Đoàn kết Liên Việt
CGVN, về chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào Công
giáo. Các tác giả luận giải khá kỹ về hai xu hướng của CGVN trong quan hệ với
dân tộc những năm 1945-1954, mà các tác giả gọi một cách hình tượng là “dòng
chảy ngược” và “dòng chảy xuôi”. Trong kết luận của công trình, các tác giả
khẳng định hai nội dung quan trọng: 1- Những năm 1945-1954, dưới tác động tư
tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách tôn giáo đúng
đắn của ĐCSVN, đồng bào Công giáo đã đặt niềm tin nơi Chính phủ, tích cực
thực hiện đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; 2- Cần phát huy, kế thừa những
kinh nghiệm quý báu của thời kỳ này vào hoạch định chính sách tôn giáo trong
điều kiện hiện nay.
Trong công trình "Les Catholiques Vietnamiens pendant la guerre
D'indépendance (1945-1954) entre la reconquete coloniale et la resistance
communiste", tác giả Trần Thị Liên (Phó Giáo sư-Nghiên cứu viên tạiTrường
Đại học ParisDiderot) đã khảo cứu những chiều cạnh cơ bản nhất thuộc về quan
hệ giữa Công giáo với chính trị ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954. Tác giả
đặc biệt chú ý đến sự tương tác giữa Công giáo với Nhà nước VNDCCH. Phân
tích các yếu tố tích cực trong chính sách đối với tôn giáo nói chung, với Công
giáo nói riêng của Nhà nước VNDCCH trong kháng chiến, đặc biệt là giai đoạn
kiến tạo nền móng đất nước sau ngày giành độc lập, tác giả kết luận rằng, trước
yêu cầu sống còn bảo tồn độc lập, tự do, Nhà nước Việt Nam mới đã đưa ra và
thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo trên nền tảng đại đoàn kết dân tộc như
một "thủ thuật chính trị"; vì thế, đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Trên cơ sở nguồn
lưu trữ Ba Lan và Việt Nam, tác giả so sánh chính sách tôn giáo của hai quốc gia
có cùng hệ tư tưởng, liên hệ với Liên Xô, Trung Quốc; từ đó, cố gắng phác họa
mô hình quan hệ Công giáo với chính trị ở các quốc gia theo ý thức hệ cộng sản.
Là một trong những học giả có những nghiên cứu giá trị về chiến tranh
Đông Dương, về lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại, Christopher Goscha (Đại
học Québec, Montréal) trong công trình “Vietnam: Un État né de la Guerre
1945-1954” (H-Diplo Roundtable Reviews, 2012) tuy không trực tiếp bàn về
vấn đề Công giáo trong kháng chiến chống thực dân Pháp, song có những cống
giáo, các tác giả đã phân tích khá sâu sắc, có sức thuyết phục các nội dung thuộc
về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh như: Cơ sở hình thành, nguyên tắc, nội
dung cơ bản của chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh cũng soi chiếu, làm sáng
tỏ cơ sở, điều kiện, mục tiêu thực hiện đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, vấn đề vận dụng tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh vào thực tiễn
cách mạng Ngoài ra, các tác giả còn làm sâu sắc thêm một số vấn đề liên quan
như: Phát huy tiềm năng cách mạng của đồng bào các tôn giáo trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc; phương pháp đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí
Minh… Trong hầu hết các công trình, các tác giả đều đúc kết kinh nghiệm, hoặc
đưa ra phương hướng, giải pháp, nhằm củng cố vững chắc khối đoàn kết tôn
giáo ở Việt Nam, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo trong
đời sống xã hội và đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ, đoạn lợi dụng vấn đề dân
tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nói chung, tại một số địa bàn trọng điểm
nói riêng.
3- Nghiên cứu về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam,
các nhà nghiên cứu đã đề cập và làm rõ nhiều khía cạnh khác nhau thuộc về
quan điểm, chủ trương của ĐCSVN đối với tôn giáo; về chính sách, sự quản lý
của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo qua các thời kỳ khác nhau. Các tác giả
đã tổng kết những thành công, hạn chế, tìm ra nguyên nhân hạn chế, để từ đó có
những đề xuất, kiến nghị về hoạch định chủ trương, chính sách tôn giáo, về đổi
mới cơ chế quản lý tôn giáo…; đồng thời, khái quát một số kinh nghiệm về
đoàn kết lương giáo như: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do
không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân; đấu tranh vạch rõ kẻ thù, phê phán
thẳng thắn hành động chống phá cách mạng làm tổn hại lợi ích của nhân dân và
Tổ quốc; làm tốt công tác vận động chức sắc tôn giáo, phát huy vai trò và uy
tín của họ trong cộng đồng tôn giáo. Những kiến giải, khuyến nghị đối với chính
sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam của các tác giả nhóm công trình này
là những gợi mở tốt cho tác giả luận án khi giải quyết một số nội dung nghiên cứu
có liên quan.
4- Đa số các tác giả đã giành một dung lượng đáng kể trong các công trình
khoảng trống còn tồn tại xung quanh vấn đề nghiên cứu, bám sát đối tượng, mục
đích, nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả luận án định hướng đi sâu, làm rõ những vấn
đề về CGVN trong quan hệ với dân tộc những năm KCCP, đó là:
1- Phân tích chính sách vận động Công giáo của Đảng, Nhà nước
VNDCCH, làm rõ xu hướng đồng hành cùng dân tộc của đa số đồng bào
CGVN, những đóng góp của CGVN cho cuộc KCCP với tinh thần sống tốt đời,
đẹp đạo, sống Phúc âm giữa lòng dân tộc.
2- Làm sáng tỏ xu hướng đi ngược lại lợi ích dân tộc của một bộ phận
giáo chức và đồng bào CGVN, những ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động chống
phá của bộ phận này đối với cuộc KCCP, đối với quá trình xây dựng chế độ mới.
3- Khái quát những đặc điểm cơ bản của quan hệ Công giáo với dân tộc;
đánh giá một cách khách quan, công bằng vai trò, mặt tích cực, tiêu cực của
CGVN đối với dân tộc, đối với kháng chiến, làm cơ sở cho việc đúc rút kinh
nghiệm lịch sử.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án quan hệ Công giáo với dân tộc trong
KCCP với những chiều cạnh cơ bản nhất.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài việc sử dụng rộng
rãi các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như phương pháp lịch sử,
phương pháplogic, phương phápphân tích, phương pháptổng hợp, luận án còn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản ngành xã hội nhân văn như phương
phápđối chiếu, thống kê, phương phápso sánh, để xử lý các sự kiện, con số, với
mục đích dựng lại bức tranh toàn cảnh về quan hệ Công giáo với dân tộc trong
KCCP. Luận án đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, những hoạt
động cơ bản của Công giáo bằng các phương pháp lịch sử, phương pháplogic,
phương phápphân tích, phương phápkhái quát hóa Để luận giải và chỉ đặc
điểm, bản chất, đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử trong quá trình vận động
đồng bào Công giáo cống hiến cho KCCP.