Bổ sung tài liệu vào các Trung tâm lưu trữ tỉnh - Thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********************************
TRẦN QUANG HỒNG

BỔ SUNG TÀI LIỆU VÀO CÁC TRUNG TÂM LƢU TRỮ TỈNH -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LƯU TRỮ HỌC VÀ TƯ LIỆU HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LƯU TRỮ HỌC VÀ TƯ LIỆU HỌC
MÃ SỐ: 5.10.02

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. VƢƠNG ĐÌNH QUYỀN HÀ NỘI – 2002


Chƣơng 2. Thực trạng công tác bổ sung tài liệu vào các
Trung tâm lƣu trữ tỉnh

2.1. Thực trạng về tổ chức bảo quản tài liệu lƣu trữ tại các cơ quan
cấp tỉnh.

2.1.1. Tình hình tài liệu lưu trữ tại các cơ quan cấp tỉnh

2.1.2. Tình hình kho tàng, trang thiết bị bảo quản

2.2. Thực trạng công tác bổ sung tài liệu tại các Trung tâm lƣu trữ
tỉnh.

Những quy định, hướng dẫn của Trung tâm lưu trữ tỉnh đối với công
tác bổ sung tài liệu.

Tình hình bổ sung tài liệu tại các Trung tâm lưu trữ tỉnh hiện nay.

Chƣơng 3. Những giải pháp trong công tác bổ sung tài liệu
vào các Trung tâm lƣu trữ tỉnh

3.1. Đối với các cơ quan quản lý vĩ mô về công tác lƣu trữ.

3.2. Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh và Trung tâm lƣu trữ
tỉnh.

3.3. Đối với các cơ quan là nguồn nộp lƣu.

Kết luận

4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích ý nghĩa của đề tài
Ngay sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, Nhà nước Dân chủ
cộng hoà non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự quan tâm sâu sắc đối
với công tác lưu trữ đã ra bản Thông đạt số 1C/VP ngày 03.01.1946 gửi các vị
Bộ trưởng Chính phủ, trong đó Hồ Chủ tịch khẳng định: Tài liệu lưu trữ “có
giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia”, và nêu rõ: cấm các cơ
quan, công sở, viên chức tự tiện huỷ bỏ hồ sơ tài liệu lưu trữ, “những hồ sơ
hoặc công văn không cần dùng sau này sẽ phải gửi về những Sở lưu trữ công
văn thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để tàng trữ”[54/373].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1986) đã xác định: “Tổ chức tốt công tác lưu trữ, bảo vệ an toàn và sử dụng
có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia”[50/80] là nhiệm vụ chính trị của Đảng
và Nhà nước ta nói chung và của ngành Lưu trữ nói riêng. Nhiệm vụ này đòi

quả, đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển đất nước.
Điều 118, Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định: "Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; thành phố
trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã ” [16/184].
Như vậy, theo Hiến pháp và luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi,
1994) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (từ nay gọi
chung là Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở
địa phương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên mọi mặt hoạt động
của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong phạm vi địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, có hệ thống các cơ quan chuyên môn để thực hiện chức năng
quản lý nhà nước theo lãnh thổ, gọi chung là các sở, ban, ngành.
Trong quá trình hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình,
các cơ quan nhà nước cấp tỉnh đã sản sinh ra một khối lượng lớn tài liệu.
Những tài liệu này phản ánh mọi mặt hoạt động của bộ máy Nhà nước cấp
tỉnh trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, phản ánh thành quả của các địa
phương trong việc thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, những tài liệu này có ý nghĩa rất lớn trong
phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương Và tài liệu lưu
6 7 không thể tránh khỏi là tài liệu bị hư hỏng, mất mát, thất lạc quá nhiều, không
thể phục vụ cho việc nghiên cứu khai thác đạt hiệu quả cao. Đây chính là
nguyên nhân làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình nâng cao chất lượng và
hiệu quả của công tác lưu trữ trước yêu cầu của phát triển đất nước, của
nhiệm vụ cải cách nền hành chính quốc gia.
Tình trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng đặc biệt vẫn là
vấn đề thực tiễn của công tác bổ sung tài liệu đối với các Trung tâm lưu trữ
tỉnh - những “kho lưu trữ mở” - tiếp tục bổ sung tài liệu của các cơ quan vẫn
chưa được giải quyết một cách triệt để. Chính vì vậy, một trong những lĩnh
vực của công tác lưu trữ là bổ sung tài liệu của các Trung tâm lưu trữ tỉnh
ngày càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết, cần được giải
quyết thoả đáng trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Từ nhận thức này, chúng tôi chọn đề tài: “Bổ sung tài liệu vào các
Trung tâm lƣu trữ tỉnh - Thực trạng và giải pháp" làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành “Lưu trữ học và Tư liệu học” của mình. Qua đề tài này chúng tôi
hy vọng các cấp lãnh đạo, quản lý hiểu và quan tâm hơn nữa đến công tác lưu
trữ của cơ quan mình nói riêng và tới sự nghiệp lưu trữ của nước nhà nói
chung.
2. Mục tiêu của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn giải quyết được hai mục tiêu cơ
bản sau:
Một là, đưa ra được một bức tranh khái quát về tài liệu lưu trữ, công tác

yếu, có khối lượng lớn và đầy đủ hơn những loại hình tài liệu khác như tài
liệu ghi âm, tài liệu ảnh, tài liệu phim điện ảnh
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài trước
hết phải kể đến là phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac - Lenin: Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp luận của lưu
trữ học, đó là các nguyên tắc: nguyên tắc chính trị, nguyên tắc lịch sử, nguyên
tắc toàn diện và tổng hợp. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, một số
phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp lịch sử và logic cũng được
chúng tôi vận dụng khi nghiên cứu tình hình tổ chức và phát triển của công
tác lưu trữ và các kho, trung tâm lưu trữ.
Đặc biệt trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, phương pháp điều
tra, khảo sát được chúng tôi hết sức coi trọng. Phương pháp này giúp nắm
9 hiểu được đầy đủ tình hình thực tế, thu thập và xử lý được nhiều thông tin cần
thiết mà từ các nguồn tư liệu, tài liệu khác không hoặc chưa đề cập tới.
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác bổ sung tài liệu, nên từ
trước tới nay xung quanh vấn đề bổ sung tài liệu đã có nhiều giáo trình, đề tài
nghiên cứu khoa học, khoá luận tốt nghiệp, bài viết, bài nghiên cứu đi sâu và
khai thác lĩnh vực này trên phương diện lý luận và thực tiễn.
Về lý luận chung: công tác bổ sung tài liệu đã được đề cập đến trong


liệu vào Trung tâm lưu trữ tỉnh Hà Tây - Thực trạng và giải pháp” - Trịnh
Ngọc Hùng; “Nguồn tài liệu cần giao nộp vào Trung tâm lưu trữ thuộc Văn
phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” - Đào Đức
Thuận Nhưng những khoá luận tốt nghiệp này mới chỉ giải quyết những vấn
đề đặt ra dưới mức độ là tìm hiểu và đặt trong một phạm vi nghiên cứu rất
nhỏ hẹp.
Ngoài ra, về lĩnh vực bổ sung tài liệu còn có nhiều bài viết, bài nghiên
cứu khác trên các sách báo, tạp chí chuyên ngành.
Những vấn đề, khía cạnh mà các đề tài nghiên cứu khoa học, khoá luận
tốt nghiệp, các bài viết, bài nghiên cứu đề cập tương đối là nhiều và khá cụ
thể, nhưng nhìn chung mới chỉ dừng lại ở một số vấn đề mang tính lý luận
chung hay giải quyết vấn đề cụ thể như xác định về nguồn bổ sung tài liệu,
chứ chưa có một đề tài, bài viết nào đi sâu nghiên cứu về tài liệu hình thành
trong cơ quan nhà nước, khắc họa được một bức tranh khái quát về công tác
lưu trữ và tài liệu lưu trữ ở cấp tỉnh (ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn
nữa đến công tác bổ sung tài liệu) để từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu
cho công tác này.
7. Nguồn tƣ liệu, tài liệu tham khảo
Để thực hiện đề tài này, tôi đã thu thập, sử dụng những nguồn tư liệu,
tài liệu tham khảo sau:
- Tài liệu mang tính chất phương pháp luận, gồm: sách kinh điển, sách
lý luận như: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
- Giáo trình, tài liệu lý luận về khoa học nghiệp vụ lưu trữ như: Lý luận
và thực tiễn công tác lưu trữ,
- Tài liệu về lịch sử, tổ chức bộ máy và hoạt động của các cơ quan nhà
nước cấp tỉnh như: Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBND, lịch sử địa
phương, lịch sử ngành
- Tài liệu chỉ đạo, quy định về công tác lưu trữ của địa phương; tài liệu
phản ánh về tình hình công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ của các tỉnh

của các cơ quan cấp tỉnh; thực trạng công tác bổ sung tài liệu tại các Trung
tâm lưu trữ tỉnh ).
Chƣơng 3. Những giải pháp trong công tác bổ sung tài liệu vào các
Trung tâm lƣu trữ tỉnh
Đây là chương đề xuất những giải pháp đối với các cơ quan quản lý vĩ
mô về công tác lưu trữ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Trung tâm lưu trữ tỉnh và các
cơ quan là nguồn nộp lưu trong công tác bổ sung tài liệu vào các Trung tâm
lưu trữ tỉnh.
12 Ngoài ra, trong luận văn của chúng tôi còn có phần Phụ lục gồm một số
văn bản quy định, hướng dẫn của Nhà nước về công tác bổ sung tài liệu và
bảng thống kê tổng hợp về tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ của các Trung
tâm lưu trữ tỉnh.
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi đã gặp rất nhiều khó
khăn trong việc khảo sát, khai thác tư liệu, tài liệu. Bởi vì, phạm vi nghiên
cứu rộng đã không cho phép chúng tôi có điều kiện thời gian và vật chất để
khảo sát trực tiếp được ở tất các địa phương; nhiều văn bản đang còn trong
giai đoạn hiện hành không được phép khai thác Bên cạnh những khó khăn
khách quan, về mặt chủ quan, trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế. Nên
mặc dù đã rất cố gắng song luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những
hạn chế, thiếu sót nhất định. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng
góp của các nhà nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm

phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu trữ để phục vụ cho việc nghiên cứu, sử
dụng trước mắt và lâu dài và làm cho thành phần Phông lưu trữ Quốc gia Việt
Nam ngày càng hoàn thiện.
Khái niệm "Bổ sung tài liệu" được định nghĩa trong Giáo trình Lý luận
và thực tiễn công tác lưu trữ như sau:
"Bổ sung tài liệu là hệ thống các biện pháp có liên quan tới việc xác
định nguồn tài liệu thuộc thành phần Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam, lựa
chọn, chuẩn bị và chuyển giao vào các phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu trữ
theo quyền hạn và phạm vi đã được Nhà nước quy định" [07/130].
Như vậy, công tác bổ sung tài liệu ở đây chính là căn cứ vào những quy
định của Nhà nước để tiến hành thu nộp tài liệu vào các lưu trữ khác nhau. Bổ
sung tài liệu là công tác liên quan đến quá trình hoàn thiện không ngừng
thành phần Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam và được thực hiện dựa vào sự
bố trí mạng lưới các phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu trữ trong cả nước.
Bổ sung tài liệu còn bao gồm cả công tác nghiên cứu các biện pháp để
tổ chức giao nộp một cách chủ động, hợp lý và khoa học các tài liệu cho các
phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu trữ. Nội dung của công tác bổ sung tài liệu
ở đây bao hàm ý nghĩa là xác định và thu nhận tài liệu từ các nguồn khác
nhau và bổ sung vào lưu trữ, tức là bổ sung các thành phần tài liệu có giá trị
từ các cơ quan là nguồn nộp lưu vào các phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu
trữ.
Bổ sung tài liệu là một trong những khâu quan trọng của công tác lưu
trữ, bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
14

trung tâm lưu trữ có liên quan đến hầu hết các nghiệp vụ khác của công tác
lưu trữ, đặc biệt là việc xác định giá trị tài liệu và phân loại tài liệu. Tuy
không phải mọi nghiệp vụ lưu trữ đều chịu ảnh hưởng của công tác bổ sung
15 tài liệu một cách giống nhau, nhưng nhìn chung nếu việc bổ sung tài liệu
không được thực hiện tốt thì các nghiệp vụ có liên quan trực tiếp không thể có
kết quả cao và hiệu quả của công tác lưu trữ nói chung sẽ bị hạn chế.
Xung quanh việc bổ sung tài liệu, chúng ta cũng cần tìm hiểu và làm rõ
thêm một số khái niệm có liên quan đó là: nguồn bổ sung tài liệu và nguồn tài
liệu bổ sung, khu vực thẩm quyền lưu trữ.
Từ điển Lưu trữ Việt Nam đã định nghĩa khái niệm "Nguồn bổ sung tài
liệu” như sau: "Nguồn bổ sung tài liệu là những cơ quan, đơn vị, cá nhân
thuộc diện giao nộp tài liệu vào một lưu trữ nào đó do Nhà nước quy định"
[45/18].
Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia, do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua
ngày 04.04.2001 quy định: Phông lưu trữ Nhà nước Việt Nam là toàn bộ tài
liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang
nhân nhân, các nhân vật lịch sử, tiêu biểu và tài liệu có giá trị về các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa
học và công nghệ (Điều 1, Khoản 3, Điều 2) [35/01,02].
Như vậy, nguồn bổ sung tài liệu chính là từ các cơ quan, đơn vị, cá

mình như: tài liệu của một cơ quan lại có nhiều cơ quan lưu trữ đến thu hoặc
có cơ quan tài liệu lại bị bỏ sót không có có quan lưu trữ nào đến thu nhận.
Khu vực thẩm quyền của một kho, trung tâm lưu trữ là toàn bộ các cơ
quan, đơn vị, tổ chức ở một khu vực địa lý nhất định có tài liệu lưu trữ cần
nộp vào kho hoặc trung tâm lưu trữ đó theo quy định của Nhà nước.
Việc xác định khu vực thẩm quyền của các lưu trữ ở đây hoàn toàn
không phải là áp đặt theo cơ chế quản lý hành chính mà phải xét theo góc độ
chức năng, nhiệm vụ của các kho, trung tâm lưu trữ và ý nghĩa của tài liệu.
Từ những lý luận trên và qua các văn bản quy định của Nhà nước, thì
khu vực thẩm quyền của các Trung tâm lưu trữ tỉnh là các cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang
nhân nhân, các nhân vật lịch sử, tiêu biểu ở cấp tỉnh, như: Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân, các sở, ban, ngành
Như vậy, vấn đề bổ sung hợp lý tài liệu vào các lưu trữ Nhà nước, mà
trước hết là việc xác định phạm vi các cơ quan, đơn vị phải nộp trực tiếp tài
liệu cho lưu trữ Nhà nước có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc,
trên cơ sở khu vực thẩm quyền để xác định nguồn bổ sung tài liệu.
1.1.2. Ý nghĩa của công tác bổ sung tài liệu
Có thể khẳng định rằng, công tác bổ sung tài liệu chính là một trong
những khâu quan trọng của công tác lưu trữ. Khi công tác bổ sung tài liệu vào
các phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu trữ được thực hiện một cách triệt để, có
hiệu quả cao thì không những nó chỉ có ý nghĩa đối với bản thân sự phát triển
của công tác lưu trữ mà nó còn mang đến nhiều ý nghĩa quan trọng khác. Xét
17

khác nhau mà thành phần tài liệu của các phòng, kho lưu trữ, trung tâm lưu
trữ luôn được mở rộng, hoàn thiện và từ đó mở rộng không ngừng khả năng
hoạt động của các kho, trung tâm lưu trữ trên thực tế.
18 Như vậy, để giải quyết tốt được nhiệm vụ bổ sung tài liệu vào các lưu
trữ thì cần phải có một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, các khâu nghiệp vụ khác có
liên quan phải được giải quyết một cách đồng bộ cộng với sự chuẩn bị một
cách vững chắc cơ sở vật chất và nhân lực cho công tác đó. Khi công tác bổ
sung tài liệu được giải quyết tốt sẽ có những tác động tích cực ngược trở lại
tới các khâu nghiệp vụ lưu trữ có liên quan nói riêng và thúc đẩy sự phát triển
của công tác lưu trữ nói chung.
1.2. Khái quát về tổ chức bộ máy Nhà nƣớc cấp tỉnh
1.2.1. Vài nét về cơ quan Nhà nƣớc
Nhà nước là một tổ chức quyền lực văn minh nhất của xã hội loài
người. Hoạt động của nhà nước được thể hiện bằng các hoạt động của các bộ
phận cấu thành. Các bộ phận cấu thành ấy được gọi là các cơ quan nhà nước.
"Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành nhà nước bao gồm nhiều
người, hoặc một người thay mặt nhà nước đảm nhiệm một phần hay một công
việc (nhiệm vụ), hoặc tham gia các chức năng của nhà nước" [11/224].
Trong tổ chức và hoạt động với tư cách là các bộ phận cấu thành nhà
nước, các cơ quan nhà nước có mối quan hệ gắn bó, liên quan chặt chẽ với nhau.
Về mặt tổ chức, việc thành lập ra một cơ quan nhà nước nào đó là kết

Loại thứ nhất gồm các cơ quan nhà nước mà phạm vi hoạt động của
chúng bao trùm lên toàn lãnh thổ Việt Nam. Hoạt động của các cơ quan này
làm cơ sở cho hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. Các cơ quan này
được gọi là các cơ quan nhà nước trung ương. Các cơ quan nhà nước trung
ương gồm có: Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ; các bộ, các
cơ quan ngang bộ
Loại thứ hai gồm các cơ quan nhà nước mà phạm vi hoạt động của
chúng giới hạn trong phạm vi lãnh thổ địa phương được gọi là các cơ quan
nhà nước ở địa phương. Đó là các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các
sở, ban, ngành trực thuộc Uỷ ban nhân dân, các toà án nhân dân địa phương
Ngoài những cơ quan trực thuộc địa phương, trên lãnh thổ địa phương
còn có nhiều cơ quan nhà nước không trực thuộc sự lãnh đạo của Uỷ ban
nhân dân địa phương, nhưng phạm vi hoạt động của chúng chỉ được giới hạn
trong phạm vi lãnh thổ địa phương (Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, huyện; các
Chi cục, phân ban của các bộ, ban ngành trung ương đó ở các địa phương như
Chi cục thuế, kho bạc ). Những cơ quan này cũng thuộc loại thứ hai, là
những cơ quan nhà nước ở địa phương.
1.2.2. Hệ thống các cơ quan nhà nƣớc cấp tỉnh.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về tổ chức bộ máy nhà nước và các cơ quan
nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan nhà nước cấp tỉnh nói riêng cho
chúng ta cái nhìn bao quát về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, qua đó
thấy rõ được vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của từng loại cơ
20


chung của đất nước, của nhân dân địa phương, HĐND:
21 "1. Quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng để phát huy
tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với
cả nước. Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
HĐND ra nghị quyết
2. Giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân
dân, Viện Kiểm sát nhân dân ; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của
công dân ở địa phương" [47/19].
Về nhiệm vụ, quyền hạn: của HĐND tỉnh được quy định rất cụ thể
trong các văn bản luật và được chia ra các lĩnh vực sau:
- Trong lĩnh vực kinh tế, HĐND quyết định những kế hoạch, chủ trương,
biện pháp về phát triển kinh tế - xã hội; dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân
sách của địa phương; phân bổ lao động và dân cư; quản lý sử dụng tài nguyên
thiên nhiên; thực hiện chính sách tiết kiệm, chống tham nhũng, buôn lậu
- Trong lĩnh vực văn hoá, xã hội và đời sống, HĐND quyết định những
chủ trương, biện pháp về giáo dục, y tế, văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể
thao ; giải quyết việc làm, cải thiện đời sống; thực hiện chính sách ưu đãi
- Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và môi trường, HĐND quyết

chức kinh tế, xã hội; bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị
của công dân.
- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới
hành chính, HĐND: bầu và miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, phó chủ tịch
HĐND, Chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Trưởng
ban và các thành viên khác của các ban của của HĐND; Hội thẩm nhân dân
của Toà án nhân dân cùng cấp; bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND
cùng cấp, những nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp; quyết định
giải tán HĐND cấp dưới trực tiếp trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại
nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân (và phải được sự phê chuẩn của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội); thông qua đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới các
đơn vị hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xét.
- Hoạt động giám sát.
Đối với HĐND các thành phố trực thuộc trung ương còn quyết định
một số vấn đề liên quan đến xây dựng và phát triển đô thị.
Về cơ cấu tổ chức: HĐND tỉnh gồm có Chủ tịch, các phó Chủ tịch và
các Ban giúp việc. Mỗi ban có chức năng, nhiệm vụ riêng giúp HĐND tỉnh
trong các mặt công tác cụ thể: Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã
hội, Ban Pháp chế, Ban Dân tộc (đối với những địa phương có nhiều dân tộc)
và Văn phòng HĐND (xem phần Văn phòng HĐND và UBND).
23 Các Ban của HĐND có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:


24 Điều 124 của Hiến pháp 1992 quy định: "Khi quyết định những vấn đề
quan trọng ở địa phương, UBND phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa
số" [16/187].
Chủ tịch UBND là người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND,
cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước
HĐND và với cơ quan nhà nước cấp trên.
Là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Chủ
tịch UBND thực hiện hai nhóm nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau đây: thứ
nhất, những thẩm quyền mà Hiến pháp và luật trao đích danh cho Chủ tịch
UBND; thứ hai, những nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp mình, trừ những
vấn đề mà Luật đòi hỏi UBND phải thảo luận và quyết định theo đa số.
Chủ tịch UBND lãnh đạo công tác của UBND, các thành viên của
UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Các Phó Chủ tịch là người
giúp Chủ tịch chỉ đạo việc thực hiện một số mảng hoạt động của UBND theo
sự phân công của Chủ tịch UBND. Chính vì vậy, các Phó Chủ tịch phải
thường xuyên giữ mối liên hệ và báo cáo với Chủ tịch UBND, chịu trách
nhiệm về phần công việc của mình.
Về thẩm quyền:
Là cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung, kết hợp việc quản lý
ngành và quản lý theo lãnh thổ, UBND cấp tỉnh thực hiện việc quản lý trong
địa bàn tỉnh trên các lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, du lịch, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học - công
nghệ và môi trường, thể dục - thể thao, báo chí, phát thanh, truyền hình và các

tỉnh;
3. Tham mưu cho Thường trực HĐND, Chủ tịch, các Phó chủ tịch
UBND tỉnh trong việc chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp
luật về các lĩnh vực của đời sống xã hội;
4. Quản lý thống nhất việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
của HĐND, UBND tỉnh;
5. Thực hiện chế độ báo cáo của UBND tỉnh với Chính phủ, Tỉnh uỷ,
HĐND tỉnh;
6. Đảm bảo các điều kiện vật chất, phương tiện làm việc cho hoạt động
của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND,
Chủ tịch, các Phó chủ tịch UBND tỉnh và của cán bộ công nhân viên văn phòng;
7. Tổ chức và phục vụ các hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội, các
kỳ họp của HĐND tỉnh, các phiên họp của UBND tỉnh, các cuộc họp, làm
việc, tiếp khách của Thường trực HĐND, Chủ tịch, các Phó chủ tịch UBND
tỉnh theo quy định;
8. Quản lý tổ chức, biên chế cán bộ, tài chính, tài sản được giao; quản
lý công tác bảo mật văn thư, lưu trữ hồ sơ tài liệu của HĐND, UBND tỉnh và

Trích đoạn Những chỉ đạo, hƣớng dẫn trong công tác bổ sung tài liệu của các tỉnh Tổ chức thực hiện và kết quả đạt đƣợc trong công tác bổ sung tài liệu. Đối với UBND tỉnh. Đối với các Trung tâm lƣu trữ tỉnh Đối với các cơ quan là nguồn nộp lƣu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status