1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
*****
T
T
R
R
Ầ
Ầ
N
NT
T
H
H
Ị
Ị
Á
Á
T
TÂ
Â
M
MP
P
H
H
Ụ
ỤÂ
Â
M
MT
T
I
I
S
S
I
I
N
N
H
HV
V
I
I
Ệ
Ệ
T
TN
N
A
A
M
M
H
H
Ạ
Ạ
C
CS
S
Ĩ
ĨN
N
G
G
Ô
Ô
N
NN
N
G
G
Ữ
Ữ
Hà Nội - 9/2003
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
**** T
T
R
R
Ầ
L
L
Ỗ
Ỗ
I
IP
P
H
H
Á
Á
T
TÂ
Â
M
MP
P
H
C
C
Ủ
Ủ
A
AH
H
Ọ
Ọ
C
CS
S
I
I
N
N
H
HV
V
I
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
C
CS
S
Ĩ
ĨN
N
G
G
Ô
Ô
N
Hà Nội - 9/2003
3
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
2. Đối tƣợng, nhiệm vụ, giới hạn của luận văn 6
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 6
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
2.3. Giới hạn của đề tài 7
3. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 8
3.1. Tƣ liệu nghiên cứu 8
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
4. Những đóng góp của luận văn 9
5. Bố cục của luận văn 10
6. Ký hiệu phiên âm quốc tế 10
7. Giải thích những từ đƣợc viết tắt trong luận văn 12
Chương 1: Cơ sở lý luận 13
1.1. Giới thiệu hệ thống âm vị PA tiếng Anh 13
1.1.1. Tiếng Anh RP và các biến thể địa phƣơng 13
1.1.2. Hệ thống âm vị PA tiếng Anh 13
1.1.2.1. Định nghĩa và danh sách PA 13
1.1.2.2. Các nét khu biệt của PA tiếng Anh 15
2.2.2. Tiêu chí phân loại 57
2.2.3. Mô tả các dạng lỗi phát âm PA 58
2.2.3.1. Lỗi biến thể âm vị PA tiếng Anh 58
2.2.3.2. Lỗi chân dung âm vị PA tiếng Anh 60
Tiểu kết 76
Chương 3: Thử bàn về các tác nhân gây lỗi phát âm PA tiếng Anh
và đề nghị các biện pháp khắc phục 79
3.1. Các tác nhân gây lỗi 79
3.1.1. Quá trình dạy và học ngôn ngữ thứ hai 79
3.1.2. Tiếp xúc ngôn ngữ 83
3.1.2.1. Những chuyển di tích cực 84
3.1.2.2. Những chuyển di tiêu cực 84
3.1.3. Các tác nhân gây lỗi khác 97
3.1.3.1. Từ phía HS 97
5
3.1.3.2. Từ phía chơng trình và SGK 98
3.1.3.3. Từ phía môi trờng dạy và học ngoại ngữ 99
3.2. Các giải pháp đề nghị đối với việc khắc phục các lỗi phát âm PA
tiếng Anh cho HS THCS. 100
3.2.1. Tổng quan 100
3.2.1.1. Truyền đạt kiến thức ngữ âm 101
3.2.1.2. Thái độ đối với lỗi phát âm 103
3.2.1.3. Tạo môi trờng tiếng 104
3.2.2. Giải pháp đề nghị đối với việc khắc phục lỗi phát âm 106
3.2.2.1. Các PA đơn 107
3.2.2.2. Các PA trong cụm 110
Tiểu kết 114
Kết luận 116
Tài liệu tham khảo 120
lỗi của ngƣời học là hai bộ phận cấu thành của quá trình dạy-học .
Thật vậy, quá trình dạy-học và chữa lỗi có quan hệ mật thiết và hữu cơ
với nhau và luôn luôn đƣợc tiến hành song song. Nhƣng việc chữa lỗi nhƣ từ
trƣớc đến nay thƣờng đƣợc tiến hành chủ yếu mang tính chữa bệnh. Điều đó,
chúng tôi nghĩ, là do những vấn đề liên quan đến chữa lỗi và loại bỏ lỗi ở
ngƣời học ngoại ngữ còn chƣa đƣợc nghiên cứu một cách hệ thống và toàn
diện.Vì thế, việc cảm thấy lúng túng khi phân định lỗi của ngƣời học, ví dụ lỗi
này thuộc bình diện nào, lỗi này thuộc loại lỗi nặng hay nhẹ, nguyên nhân
mắc lỗi là gì cũng là dễ hiểu. Ngoài ra, theo chúng tôi, một trong những mục
đích của việc chữa lỗi của ngƣời học và cho ngƣời học chính là ngăn ngừa tái
phạm và loại bỏ lỗi. Điều đó có nghĩa là, việc chữa lỗi của ngƣời học và cho
ngƣời học phải mang tính phòng bệnh nhiều hơn. Phòng bệnh càng tốt bao
nhiêu thì nguy cơ mắc bệnh càng ít đi bấy nhiêu. Rõ ràng là kết quả nghiên
cứu vấn đề này sẽ có ảnh hƣởng nhất định đến việc thay đổi, điều chỉnh ở một
7
mức độ nào đó nội dung và thủ thuật dạy học, đến nâng cao chất lƣợng đào
tạo ngoại ngữ.
Liên quan chặt chẽ đến vấn đề nâng cao chất lƣợng đào tạo ngoại ngữ
chúng tôi thấy cần thiết phải nói đến việc phát triển tính năng động, sáng tạo,
tích cực của ngƣời học nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho
họ trong quá trình học tập. Trong dạy học ngoại ngữ luận điểm này càng đúng
vì không ai có thể thay thế ngƣời học trong việc nắm vững các phƣơng tiện
ngoại ngữ và sử dụng ngoại ngữ trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng
lực giao tiếp của mình. Thực hành giao tiếp là nội dung chủ yếu, là mục tiêu
chiếm lĩnh hàng đầu của cả ngƣời dạy và ngƣời học trong dạy học ngoại ngữ.
Sẽ không bao giờ đạt đƣợc mục tiêu của môn học ngoại ngữ nếu nhƣ hoạt
động chủ đạo lại không phải là rèn luyện thành thạo các kỹ năng thực hành
giao tiếp.
Muốn dạy học đạt đƣợc mục tiêu nhƣ đã đề ra buộc phải thay đổi cách
vựng, ngữ pháp, của tiếng mẹ đẻ của ngƣời học tiếng Anh thuộc các dân tộc
khác nhau nhƣ: Hà Lan, Đức, Pháp, Ý, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, và so
sánh đối chiếu với tiếng Anh. Với kết quả nghiên cứu đó cộng với số liệu thu
thập đƣợc qua thực tế giảng dạy tiếng Anh cho ngƣời nƣớc ngoài, các tác giả
đã thống kê, phân loại, dự báo lỗi và nêu lên một số nguyên nhân mắc lỗi của
ngƣời học tiếng Anh của các dân tộc đã kể trên, đồng thời đề xuất những giải
pháp dạy tiếng Anh cho ngƣời nƣớc ngoài và chữa lỗi cho họ. Kết quả nghiên
cứu của các tác giả kể trên là rất quan trọng, giúp cho những ngƣời nghiên
cứu vấn đề này đối với các ngoại ngữ khác nhau một số cơ sở lý luận, phƣơng
pháp và cách thức tiến hành nghiên cứu.
Có thể nói không sai rằng, ngƣời học ngoại ngữ mắc lỗi trong giao tiếp
bằng ngoại ngữ là điều có thật và hiển nhiên. Song, ở Việt Nam cho đến nay
chƣa có những chuyên gia thuộc lĩnh vực này và, vì thế, chƣa thấy xuất hiện
các công trình đáng kể, có giá trị lý thuyết và thực tiễn giúp cho việc nghiên
9
cứu lỗi của ngƣời Việt Nam học ngoại ngữ nói chung hoặc một ngoại ngữ cụ
thể nói riêng.
Trong giảng dạy tiếng Anh, vấn đề lỗi và nghiên cứu lỗi của ngƣời Việt
Nam khi học tiếng Anh chƣa đƣợc quan tâm đúng mực. Quan tâm đến vấn đề
phân tích lỗi và tầm quan trọng của nó trong giảng dạy ngoại ngữ nói chung
phải kể đến tác giả Lê Thị Hải Hà với luận văn “Phân tích lỗi và ý nghĩa của
phân tích lỗi trong dạy tiếng”[29,2001]. Lỗi ở từng kỹ năng cụ thể (viết và
phát âm) cũng đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu nhƣ tác giả Nguyễn Văn
Lợi với luận văn “Nguyên nhân các lỗi trong văn viết tiếng Anh của sinh viên
chính qui tiếng Anh ở trình độ trung cấp”[39,1999]; Lê Tuyết Ngọc với “Phân
tích lỗi trong văn viết của sinh viên trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội” [42,
1999]; Phan Thị Nhất với “Phân tích lỗi trong giảng dạy môn viết tiếng Anh ở
trình độ sơ cấp và tiền trung cấp của sinh viên trƣờng Đại Học Kiến trúc Hà
Nội” [43,1991]. Bên cạnh đó, một số tác giả lại quan tâm đến vấn đề lỗi phát
(chuyển di tiêu cực) cũng nhƣ đề xuất những biện pháp chung để khắc phục
lỗi Cách tiếp cận lỗi chƣa phát huy đƣợc ƣu điểm của ngôn ngữ học hiện đại.
Một số tác giả khác cũng thấy đƣợc yêu cầu cần phải có một chƣơng trình dạy
phát âm cho sinh viên với đầy đủ yêu cầu về nội dung, thời lƣợng, thủ
thuật Các chƣơng trình đƣợc thiết kế đều dựa trên các giáo trình ngữ âm tốt
do ngƣời nƣớc ngoài biên soạn cho những ngƣời học tiếng Anh nhƣ một
ngoại ngữ. Nếu nhƣ các tác giả này sáng tạo hơn trong thiết kế một giáo trình
ngữ âm tiếng Anh cho ngƣời Việt (nói tiếng Việt), học tiếng Anh ở Việt Nam,
phần lớn do ngƣời Việt dạy , tập trung luyện tập các vƣớng mắc trong phát
âm tiếng Anh của ngƣời Việt thì chắc hẳn kết quả còn cao hơn nữa.
4.Các tác giả đã quan tâm đến lỗi trong văn viết và phát âm của các đối
tƣợng chủ yếu là sinh viên các trƣờng cao đẳng, đại học mà chƣa có tác giả
nào quan tâm đến đến đối tƣợng ngƣời học tiếng Anh đông đảo không kém đó
là HS THCS, THPT. Số đối tƣợng này cần phải đƣợc quan tâm trƣớc tiên và
11
nghiêm túc vì khả năng sử dụng tiếng Anh của các em ở giai đoạn này sẽ có
ảnh hƣởng lớn đến quá trình học tập ngoại ngữ của chính các em sau này.
5.Những vấn đề nhƣ nguyên nhân mắc lỗi, cách khắc phục các loại lỗi
khác nhau còn cần phải đƣợc đầu tƣ nhiều thời gian nghiên cứu hơn nữa;
nguyên nhân mắc lỗi cần phải đƣợc xem xét từ nhiều khía cạnh nhƣ: tâm lý
ngƣời học, khả năng của ngƣời học, yếu tố môi trƣờng Nhƣng quan trọng
hơn cả là nguyên nhân do chuyển di tiêu cực mà có. Khắc phục lỗi phải đƣợc
áp dụng đúng với thực tế giảng dạy của từng trƣờng hợp cụ thể, phải có ý
thức ngăn ngừa lỗi chứ không phải chỉ là sửa lỗi khi nguy cơ mắc lỗi đã quá
cao, thói quen sử dụng ngôn ngữ sai do lỗi đã ăn sâu vào suy nghĩ của ngƣời
học và trở thành mãn tính.
Dù sao cũng không thể phủ nhận một điều là những đóng góp của các
công trình vừa nêu rất quý giá và đáng đƣợc trân trọng. Kết quả của các
nghiên cứu này giúp cho việc giảng dạy của GV đạt hiệu quả cao hơn đồng
sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt và chính từ đó xảy ra hiện tƣợng
giao thoa (cả hƣớng tích và tiêu cực). Vì vậy, chúng tôi đặt ra cho luận văn
nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:
- Xác định một số các dạng lỗi mà các em thƣờng mắc phải trên cơ sở
khảo sát cách phát âm PA tiếng Anh (trong từ đơn) của HS THCS.
- Lý giải các nguyên nhân gây lỗi từ những đặc điểm của hệ thống PA
tiếng Anh và tiếng Việt, từ phía chƣơng trình và SGK, từ phía môi trƣờng dạy
và học tiếng, từ phía HS
-Đề nghị giải pháp khắc phục lỗi phát âm PA tiếng Anh cho HS THCS.
Các giải pháp này có tính đến đặc điểm của HS, môi trƣờng dạy và học tiếng,
thái độ đối với lỗi Bài tập phát âm nhằm khắc phục từng loại lỗi HS THCS
thƣờng mắc phải.
2.3. Giới hạn của đề tài
13
Thực tế cho thấy rằng, để cho việc đối chiếu ngôn ngữ có hiệu quả phải
thực hiện so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ trên từng bình diện nhỏ, từng cấp độ
tƣơng đƣơng một cách có ý thức. Nếu việc đối chiếu ngôn ngữ thực hiện trên
phạm vi quá rộng trong toàn bộ hệ thống cấu trúc của hai ngôn ngữ thì đó
hình nhƣ chỉ là một việc làm mang ý nghĩa hình thức, kết quả thu đƣợc hạn
chế ở một số nét khái quát cơ bản, đôi khi không tránh khỏi sơ sài hoặc suy
diễn chủ quan.Vì lẽ đó, luận văn này giới hạn ở việc đối chiếu ngôn ngữ, cụ
thể là tiếng Anh và tiếng Việt ở phạm vi ngữ âm để phát hiện lỗi trong từ
đơn, cụ thể là lỗi phát âm PA. Những vấn đề còn lại nhƣ: lỗi phát âm NA và
lỗi ngôn điệu nhƣ lỗi về trọng âm và ngữ điệu cũng là những địa hạt khá quan
trọng hứa hẹn nhiều điều lý thú nhƣng chƣa đƣợc chúng tôi tập trung nghiên
cứu trong luận văn này vì phạm vi, giới hạn cho phép của luận văn.
Các lỗi phát âm PA của HS đƣợc chúng tôi thu thập chủ yếu trong môi
trƣờng dạy và học tiếng Anh tại lớp học trong phạm vi nhà trƣờng. Chúng
đƣợc phân loại và phân tích trên cơ sở những nguyên nhân ngôn ngữ học nào
4. Những đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu lỗi của HS THCS, một
đối tƣợng có số lƣợng đông đảo không kém số lƣợng sinh viên đại học và cao
đẳng ở Việt Nam.
Luận văn tập trung khảo sát trực tiếp lỗi phát âm PA tiếng Anh ở từng vị
trí cụ thể dựa trên kết quả ghi âm cách phát âm PA tiếng Anh của HS THCS.
Kết quả ghi âm thể hiện đƣợc sự đầy đủ và chính xác các vị trí của PA tiếng
Anh trong từ đơn nhờ các bảng từ đƣợc xây dựng rất công phu và khoa học.
Nguyên nhân mắc lỗi đƣợc lý giải từ bao quát đến cụ thể dựa trên các
đặc điểm ngôn ngữ học, đặc điểm của chƣơng trình và SGK tiếng Anh,
phƣơng pháp dạy và học của GV và HS
15
Các giải pháp khắc phục lỗi có tính đến đặc điểm của đối tƣợng mắc lỗi
là HS THCS nhằm phát huy tính tích cực, vai trò chủ động của HS trong học
tập, đồng thời khẳng định vai trò không thể thay thế đƣợc của GV trong các
buổi luyện ngữ âm tại lớp. 5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn đƣợc tập trung
trong ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận
1.1.Giới thiệu hệ thống âm vị PA tiếng Anh
1.2.Sự hiện thực hoá hệ thống PA tiếng Anh
1.3.Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt
1.4.Chƣơng trình tiếng Anh ở trƣờng THCS
1.5.Tình hình dạy phát âm tiếng Anh ở trƣờng THCS
Chƣơng 2: Khảo sát các dạng lỗi phát âm PA
2
I
I
sit
3
e
e
ten
4
ổ
ổ
hat
5
arm
6
got
7
saw
8
put
9
u:
17
now
17
18
I∂
I∂
near
19
e∂
e∂
hair
20
∂
∂
pure
Để tiện theo dõi và sử dụng chúng tôi chọn hệ thống ký hiệu phiên âm
quốc tế đƣợc sử dụng trong quyển từ điển The Oxford Advanced Learner‟s
Dictionary of Current English của A.S.Hornby [33,1980] vì tính phổ biến và
hiệu quả của nó; và cũng vì cách phiên âm này đại diện cho cách phát âm
chuẩn RP của miền Nam nƣớc Anh.
7. Giải thích về những từ được viết tắt trong luận văn
1. PA: phụ âm
2. NA: nguyên âm
3. GV: giáo viên
4. HS: học sinh
5. THCS: trung học cơ sở
diễn không tuần hoàn. Nhiều PA có thanh xen lẫn và chiếm một tỷ lệ cao, tuy
nhiên vẫn là PA chính vì sự có mặt của tiếng động.
19
Về mặt cấu âm, PA đƣợc tạo nên do sự cản trở không khí (vốn cần thiết
để gây nên tiếng động) trên lối thoát của nó. Có nhiều cách cản trở, đƣợc gọi
là phƣơng thức cấu âm, khác nhau. Cùng một cách cản trở nhƣng đƣợc thực
hiện ở những chỗ khác nhau, gọi là vị trí cấu âm, sẽ cho ta những PA khác
nhau. Miêu tả một PA chính là xác định âm đó theo hai tiêu chuẩn:
- Phƣơng thức cấu âm
- Vị trí cấu âm
1.1.2.1.2. Theo quan điểm âm vị học
PA là những đơn vị của hệ thống âm thanh đứng đầu và cuối âm tiết:
“dogs”/ dgs/ và “glad”/ glổd/. PA cũng có thể xuất hiện trong một chùm
những PA(/-gs/ và /gl-/) nhƣ trong hai ví dụ vừa nêu. Trên thực tế, ở đầu âm
tiết có thể có đến 3 PA đứng liền nhau tạo nên cụm PA đầu (ví dụ: string) và
ở cuối âm tiết có thể có đến 4 PA đứng liền nhau tạo nên cụm PA cuối mặc dù
số này không nhiều (ví dụ: twelfths /twelfs/, glimpsed /glimpst/).
Dựa vào đặc điểm tính thanh (voicing) có thể chia PA làm hai loại:
Khi phát âm, luồng khí không bị chặn lại ở ngay thanh quản mà thoát ra
ngoài miệng một cách tự do. Những PA đƣợc tạo theo kiểu này gọi là PA vô
thanh (voiceless consonant).
Khi phát âm, luồng khí bị chặn ở ngay thanh quản, không thoát ra ngoài
đƣợc (nếu có thì rất yếu) và làm cho dây thanh rung lên tạo nên tiếng thanh
Những PA đƣợc tạo ra theo kiểu này gọi là PA hữu thanh (voiced consonant).
Sự phân biệt PA vô thanh và PA hữu thanh dựa vào sự rung dây thanh là
không hoàn toàn tuyệt đối: nó phụ thuộc vào vị trí xuất hiện của PA trong một
từ, lúc này tạo ra mức độ của tính thanh (degree of voicing). Ở cuối từ, PA
hữu thanh mất đi phần lớn sự rung của dây thanh (vô thanh hoá/devoiced).
Âm /z/ đứng đầu từ “zoo” /zu:/ dây thanh lúc phát âm rung mạnh hơn khi /z/ ở
Họng
Tắc
Mũi
m n ŋ
Miệng
p b t d k g
?
Xát
f v
ố ð
s z
∫
Theo P.Ladefoged [37,1982].
1.1.2.2 Các nét khu biệt của phụ âm tiếng Anh
1.1.2.2.1. Các PA tắc
Đối với các PA tắc luồng hơi bị tắc lại hoàn toàn tại một vị trí nào đó
trong khoang miệng, do hai môi, đầu lƣỡi hoặc gốc lƣỡi và sau đó luồng hơi
21
đƣợc xả ra với tiếng bật nổ nhẹ. Có ba cặp PA tắc, mỗi cặp đều gồm một PA
mạnh và một PA yếu.
1. / p - b/.
- Hai môi mím chặt lại, ngạc mềm đƣợc nâng lên để cho luồng hơi không
thể thoát ra ngoài qua đƣờng mũi hoặc đƣờng miệng nhƣng luồng hơi đƣợc
giữ lại trong khoang miệng một khoảng thời gian ngắn.
- Khi hai môi mở ra ngay lập tức luồng hơi đƣợc thoát ra ngoài với một
tiếng bật nổ nhẹ.
- Trƣớc khi hai môi mở ra, các cơ quan phát âm còn lại trong khoang
miệng chuẩn bị cấu âm cho âm kế tiếp, NA (pool) hoặc một PA (play)
/p/ là một âm mạnh, nhƣng ngoài ra nó còn có một nét đặc biệt nữa đó là
khả năng làm mất đi một phần tính thanh của âm đứng ngay sau nó. Ví dụ:
trong pool /pu:l/ phần đầu của NA /u:/ không có tính thanh, nó chỉ gồm luồng
hơi đi qua miệng ở vị trí cấu âm /u:/. Đó là sự bật hơi. Sự bật hơi này là nét
chính phân biệt giữa /p/ và /b/.
/b/ là một âm yếu và không bao giờ bật hơi.
2. /t - d/
- Đầu lƣỡi (chứ không phải mặt lƣỡi) ép chặt vào giữa lợi, nhƣng không
quá gần với răng cũng không quá gần với ngạc cứng.
- Ngạc mềm đƣợc nâng lên, vì thế luồng hơi không thể đƣợc thoát ra
Sự khác nhau giữa /f/ và /v/ chủ yếu là ở luồng hơi mạnh hay yếu khi
phát âm.
/f/ là một âm mạnh
/v/ là một âm yếu. Và theo cách hiểu nhƣ vậy, /f/ không bao giờ hữu
thanh, và /v/ lại là một âm hữu thanh. Âm /f/ đƣợc phát âm dài hơn /v/.
Vậy, /f/ là âm mạnh, vô thanh và đƣợc phát âm dài.
/v/ là âm yếu, hữu thanh và đƣợc phát âm ngắn. 23
2. / - ð/
-Ngạc mềm đƣợc nâng lên không cho luồng hơi thoát ra qua đƣờng mũi,
mà đi qua đƣờng miệng.
-Đầu lƣỡi ép sát vào răng trên, tạo ra một khe hẹp, gây ra sự cọ xát khi
luồng hơi thoát ra ngoài.
-Tiếng động do sự cọ xát gây ra trong trƣờng hợp và ð không lớn lắm,
không bằng s và z.
3. /s - z/
-Ngạc mềm đƣợc nâng lên để luồng hơi thoát qua đƣờng miệng.
-Đầu lƣỡi và mặt lƣỡi ép xát vào lợi. Vị trí gây ra sự cọ xát không ở gần
răng mà ở gần ngạc cứng.
-Hai hàm răng xít chặt vào nhau.
-Sự cọ xát của hai âm này, đặc biệt là /s/ mạnh hơn rất nhiều so với /f, v,
và ð/
4. /∫ -
/
-Ngạc mềm đƣợc nâng lên để luồng hơi đi qua miệng
-Có sự chẽn hẹp ở giữa đầu lƣỡi và chân lợi (back of the alvelor ridge).
-Phía trƣớc lƣỡi cao hơn khi phát âm s và z.
không
dài nhƣ khi phát âm ∫và
.
1.1.2.2.4.Các âm mũi
Khi cấu âm ba âm mũi, ngạc mềm đƣợc hạ thấp xuống và cùng lúc đó
luồng hơi bị giữ lại trong khoang miệng để sau đó đƣợc thoát ra ngoài qua
đƣờng mũi.
1. / m- n/
-Ngạc mềm đƣợc hạ thấp xuống đối với cả /m/ và /n/
-Đối với /m/, hai môi mím chặt vào nhau; đối với /n/ đầu lƣỡi ép chặt với
lợi và hai bên lƣỡi cùng ép chặt vào hai bên của ngạc.
-Cả hai âm đều hữu thanh và luồng hơi đƣợc thoát qua đƣờng mũi.
2. //
-Ngạc mềm đƣợc hạ thấp xuống và luồng hơi đƣợc thoát ra ngoài qua
đƣờng mũi.
25
-Gốc lƣỡi ép xát vào ngạc mềm
- là âm hữu thanh.
1.1.2.2.5. Các bán âm
1./l/
Thay vì luồng hơi đƣợc thoát qua đƣờng miệng thì nó đƣợc thoát ra
ngoài theo đƣờng vòng vì sự cản trở đƣợc tạo ra ở giữa miệng.
-Ngạc mềm đƣợc nâng lên
-Đầu lƣỡi (và hai bên thân lƣỡi) tiếp giáp với lợi, sự cản trở đƣợc tạo ra ở
giữa miệng.
-Hai bên lƣỡi không tiếp giáp với hai bên ngạc, vì vậy luồng hơi có thể
đi qua hai bên lƣỡi và ngạc, vòng qua chỗ bị cản trở ở giữa. Sự cản trở này