Đặc điểm trường ca Nguyễn Quang Thiều - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA NGUYỄN QUANG
THIỀU Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: TS. Diêu Lan Phương

2.2.3. Ám ảnh cái chết 50
2.2.4. Khát vọng sống, tình yêu và hạnh phúc 55
2.3. Suy ngẫm về nhân sinh 60 2
2.3.1. Thế giới vỏ bọc, cô đơn 60
2.3.2. Những mê lộ cuộc sống 64
2.4. Biểu tƣợng trong trƣờng ca 69
2.4.1. Biểu tƣợng “chiếc áo” 71
2.4.2. Biểu tƣợng “con đƣờng” 74
2.4.3. Biểu tƣợng “bóng tối” và “ánh sáng” 78
* Tiểu kết 83
Chƣơng 3: PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG TRƢỜNG CA NGUYỄN
QUANG THIỀU 84
3.1. Kết cấu trƣờng ca 84
3.1.1. Kết cấu theo chủ đề tƣ tƣởng 85
3.1.2. Kết cấu theo dòng ý thức 92
3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật 100
3.3.1. Ngôn ngữ đậm chất văn xuôi 101
3.3.2. Sự đa giọng điệu trong trƣờng ca 109
* Tiểu kết 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

đó. Nó đi vào khai thác những trải nghiệm, những cảm thức cá nhân về cuộc đời.
Nó bị cuốn vào dòng xoáy của hiện thực hỗn độn với những trắc ẩn, khắc khoải,
với những góc khuất rất riêng, rất nhỏ trong tâm thức con ngƣời. Những trƣờng ca
sáng tác trong giai đoạn này mang màu sắc của văn học hậu hiện đại, thể hiện đƣợc
những mâu thuẫn của nhân sinh, sự bất lực của con ngƣời trƣớc những câu hỏi lớn
của thời đại. Một trong những tác giả tiêu biểu đó là Nguyễn Quang Thiều. Ông
đƣợc biết đến với tƣ cách là một nhà thơ, một nhà văn. Những năm gần đây, ông
đã dành rất nhiều tâm huyết cho thể loại trƣờng ca. Ông đã mang đến cho trƣờng
ca Việt Nam một hƣớng phát triển mới cả về nội dung và hình thức. Đó là sự đa
dạng hóa hay cũng chính là quá trình vận động cần thiết để trƣờng ca Việt Nam
với tƣ cách là một thể loại độc lập thể hiện sự thích ứng của mình với những thay
đổi của thời đại. Nguyễn Quang Thiều luôn là một cái tên khiến giới nghiên cứu
chú ý. Ngoài văn xuôi, thơ trữ tình, trƣờng ca cũng là thể loại mà Nguyễn Quang
Thiều dày công đeo đuổi; và đó là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài Đặc điểm
trường ca Nguyễn Quang Thiều. Đề tài nghiên cứu hệ thống tác phẩm, từ đó rút ra
những nhận xét về cảm hứng và phƣơng thức biểu hiện trong trƣờng ca của tác giả.
Chúng tôi hi vọng những kết quả của đề tài có thể góp phần làm căn cứ đánh giá vị
trí, vai trò, những đóng góp của ông với thể loại trƣờng ca đƣơng đại.
2. Lịch sử vấn đề
Sau năm 1975, trƣờng ca vẫn tiếp tục hành trình của mình. Ngoài những tác
giả vẫn gắn bó với trƣờng ca từ trƣớc nhƣ Thu Bồn, Thanh Thảo, chúng ta còn
thấy nhiều tác giả mới cũng chọn trƣờng ca làm nơi chuyển tải thông điệp của
mình. Đó là Trần Anh Thái, Nguyễn Thụy Kha, Mai Văn Phấn, Lê Minh Quốc,
Nguyễn Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Linh Khiếu. Tác giả Dũng Văn đã
viết: “Cách đây hai mƣơi hoặc hơn hai mƣơi năm, nhiều nhà thơ (mà tôi đã nêu ở
trên) đã viết trƣờng ca để đối diện với thời thế nhận diện Núi Sông vạch mặt Chiến
Tranh nhận mặt Con Ngƣời? Thơ của họ đã theo chân các danh nhân, lãnh tụ, đi
trên mặt đƣờng khát vọng, tới các sƣ đoàn, tới mặt trời trong lòng đất, đi tới thành
phố, đi tới biển… Giờ đây nhiều thi nhân lại viết trƣờng ca chỉ để đi vào chính cái
bản ngã của mình mong nhận diện Chính Mình dù có khủng khiếp đến đâu”[100]

nhận định về các mặt thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu cũng nhƣ nhìn trong sự tƣơng
quan với nhiều xu hƣớng. Ông nhấn mạnh: “Rất nhiều tác giả (hậu) hiện đại cùng 6
và sau Nguyễn Quang Thiều đã mở rộng khuynh hƣớng trƣờng ca ra ngoài cảm
hứng và giọng điệu hùng ca của trƣờng ca cách mạng và chiến tranh, bằng sự ca
tụng cái Chân - Thiện - Mỹ của con ngƣời, bằng sự xác quyết cái tồn tại của quê
hƣơng và dân tộc mà không thông qua các sự kiện xã hội, các đề tài nóng bỏng.
Đây chính là vật bảo đảm cho sáng tác trƣờng ca trong bất kỳ nội dung và hình
thức nào.” [88]
Năm 2011, Nguyễn Quang Thiều cho ra mắt tuyển Châu thổ, tổng hợp
những sáng tác thơ và trƣờng ca tiêu biểu của ông. Tuyển tập này đã nhận đƣợc
nhiều nhận xét, đánh giá của giới phê bình. Nhận định chung đều cho rằng, Châu
thổ là một diện mạo khá hoàn chỉnh của cả tiến trình thơ Nguyễn Quang Thiều.
Trong đó, ông tập hợp lại những trƣờng ca tiêu biểu nhƣ: Nhịp điệu châu thổ mới
(1995), Nhân chứng của một cái chết (1998), Cây ánh sáng (2009) và rất nhiều
bài thơ giá trị trích từ tập Ngôi nhà 17 tuổi (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992).
Nhận xét về Châu thổ, Lê Vũ viết: “Với tôi, “Châu Thổ” lạ lẫm còn NQT thì lạ
lùng. Cái lạ thứ nhất là ở nội dung truyền tải: một bầu khí hƣ thực thực hƣ, một
không gian trùng trùng của bến bờ thế gian không có những cột mốc biên giới, một
thời gian không có các thì hiện tại tƣơng lai quá khứ, ngày và đêm xô vào nhau
liên miên bất tuyệt, rồi những góa phụ, đàn ông, đàn bà phi lý lịch, lũ sinh vật có
linh hồn và ý nghĩ, rồi thiện & ác, hy vọng và tuyệt vọng, tội lỗi và thánh thiện, vẻ
đẹp và niềm kinh sợ, hoặc nghi và phẫn nộ, đau buồn và âu lo… cứ chen chúc
nhau mà đi về những nẻo đƣờng vô định…” [101]
Trong một bài viết về Châu thổ, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Loan cũng
nhận xét : “Chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều là hành trình đi tìm
vẻ đẹp của cuộc sống, là hành trình hƣớng tìm một đức tin đối lập với thế giới trần
tục đầy mƣu mô, dục vọng và tội lỗi, là hành trình hƣớng về nguồn với ký ức tuổi

rút ra đặc điểm về nội dung và phƣơng thức biểu hiện.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích các tác phẩm trƣờng ca của
Nguyễn Quang thiều đƣợc tập hợp trong tập Châu thổ (nxb Hội nhà Văn, 2011),
cụ thể gồm: Nhịp điệu châu thổ mới , Nhân chứng của một cái chết, Lò mổ, Cây
ánh sáng, Mười một khúc cảm (thơ dài ). 8
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi so sánh với các trƣờng ca
trong giai đoạn khác, các tác phẩm trong giai đoạn đổi mới cũng nhƣ thơ của
Nguyễn Quang Thiều. Từ đó chúng ta có thể nhận thấy đƣợc những nét riêng biệt,
sáng tạo đổi mới trong sáng tác trƣờng ca của Nguyễn Quang Thiều và khẳng định
đƣợc những đóng góp của ông với thể loại này và với văn học nói chung.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc những yêu cầu nhƣ đã nói ở trên, ngoài việc vận dụng
tổng hợp những kiến thức mang tính phƣơng pháp luận nhƣ thi pháp học, chủ
nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng tôi chủ yếu sử dụng xen kẽ một số
phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống nhƣ:
- Phƣơng pháp hệ thống
- Phƣơng pháp loại hình
- Phƣơng pháp lịch sử-xã hội
- Phƣơng pháp so sánh
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
5. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Thể loại trường ca và trường ca Nguyễn Quang Thiều
Chương 2:Cảm hứng chủ đạo trong trường ca Nguyễn Quang Thiều
Chương 3: Phương thức biểu hiện trong trường ca Nguyễn Quang Thiều


Nhƣ vậy, chúng ta nhận thấy rằng việc nghiên cứu về thể loại trƣờng ca
trong văn học thế giới đã có một thời gian khá dài. Tuy có nhiều quan niệm, nhƣng 10
nhìn chung, họ đã đƣa ra đƣợc những ý kiến, những quan niệm sâu sắc, đứng đắn
về thể loại trƣờng ca.
Văn học Việt Nam vận động, phát triển theo quy luật của văn học thế giới.
Trong quá trình đó, có sự kể thừa những thành tựu của các nền văn học lớn hơn.
Chúng ta nhận thấy vấn đề này trong cách gọi và quan niệm về thể loại trƣờng ca.
Điều này đã lí giải nguyên nhân vì sao trong một thời kỳ nhiều nhà nghiên cứu của
chúng ta vẫn xem những tác phẩm văn học dân gian ra đời từ rất sớm nhƣ trƣờng
ca Đam San, trƣờng ca Xinh Nhã là những tác phẩm đặc sắc mang đậm màu sắc
quá khứ xa xƣa và tràn đầy âm hƣởng anh hùng ca. Thậm chí, Trần Mạnh Hảo còn
xem Chinh Phụ Ngâm, Cung oán ngâm khúc là hai bản trƣờng ca đầu tiên của văn
học cổ. GS.Hà Minh Đức thì cho rằng: Hình thức trƣờng ca dân gian thƣờng có hai
loại: Loại anh hùng và loại tạm gọi là tình ca. Trƣờng ca thiên về miêu tả tự nhiên,
những cuộc tình duyên éo le “đẫm máu và nƣớc mắt” trong những hoàn cảnh éo le
(nhƣ Xống chụ xon xao, Út lót vi điêu ). Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy những
trƣờng ca này có dáng dấp truyện thơ hơn. GS Hà Minh Đức có quan niệm: “hình
thức trƣờng ca cũng đặc biệt phát triển với những chủ đề về đề tài cánh
mạng trƣờng ca là một hình thức truyện thơ, nhƣng không phải bất kỳ một truyện
thơ nào cũng là một trƣờng ca hoặc có màu sắc trƣờng ca”. “Nội dung của trƣờng
ca thƣờng gắn liền với các phạm trù thẩm mĩ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả”
[39,tr.328]
Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với âm hƣởng
hào hùng của thời đại, chính là mảnh đất màu mỡ để các thể loại văn học phát triển
trong đó có trƣờng ca. Đặc biệt là, ngay trong những năm ác liệt của cuộc chiến
chống Mỹ, sự ra đời hàng loạt các tác phẩm trƣờng ca nhƣ Bài ca chim Chơ rao
(1963) của Thu Bồn, Theo chân Bác(1970) của Tố Hữu, Sức bền của đất (1975)

tác giả” [19, tr.376]
Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu, nhà thơ của chúng ta gọi tên trƣờng ca là xuất
phát từ tên gọi một thể loại văn học của phƣơng Tây. Rõ ràng, họ đã đƣa ra hai
cách hiểu cơ bản về trƣờng ca: Một cách hiểu là dùng để chỉ những tác phẩm có
dung lƣợng lớn, một cách khác là những tác phẩm có độ lớn cả về nội dung và
hình thức
Trong luận văn này, chúng tôi xin đƣa ra khái niệm trƣờng ca từ kết quả
tổng hợp, nghiên cứu của TS Diêu Lan Phƣơng trong luận án “Thể loại trường ca 12
trong văn học hiện đại Việt Nam”: Trường ca là những tác phẩm được viết bằng
văn vần có kết cấu chặt chẽ, có nội dung cảm hứng lớn thường là những chiêm
nghiệm gắn với các sự kiện thuộc về cái chung, của quê hương, đất nước, dân
tộc, con người. [43,tr.20]
Trên cơ sở khái niệm trên, chúng tôi sẽ đi sâu vào việc khảo sát và phân tích
trƣờng ca của Nguyễn Quang Thiều một cách hệ thống và khoa học nhằm tìm ra
gƣơng mặt thơ của tác giả với những nét độc đáo, cá biệt trong phong cách viết
trƣờng ca của ông. Tất nhiên, trong dòng vận động chung của văn học, có nhiều
yếu tố mới phát sinh mà khái niệm trên có thể chƣa bao hàm hết, nhất là về trƣờng
ca của Nguyễn Quang Thiều (đã chạm đến những đặc trƣng mang tính hậu hiện đại
trong sáng tác). Vì vậy, khi xem xét đặc trƣng của trƣờng ca, chúng tôi sẽ cố gắng
thể hiện sự vận động của chính khái niệm.
1.2. Trƣờng ca Việt Nam và ảnh hƣởng của chủ nghĩa hậu hiện đại
Bối cảnh hiện đại mở ra một cuộc sống tiện nghi. Các phƣơng tiện thông tin
liên lạc, giao thông, những phát minh mới từng ngày, từng giờ, tất cả những điều
đó nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Đối với hậu hiện đại, mọi sự thật vĩnh hằng
có nguy cơ biến mất, thay vào đó là những biểu hiện phức tạp, đối lập của cuộc
sống. Thời hậu hiện đại là thời của sự lựa chọn không ngừng, nó là hệ quả của sự
bùng nổ thông tin. Đó là một thời không phải chỉ thuộc về những ngƣời giàu có mà

bản. Chủ nghĩa Hậu hiện đại cũng nhƣ mọi trào lƣu đã xuất hiện khác đều có phần
có lý. Tƣ tƣởng chống giáo điều, chống khuôn mẫu xơ cứng, áp đặt; đấu tranh cho
bình đẳng, dân chủ, vai trò cá nhân; phá vỡ những quy phạm nghệ thuật mòn cũ…
là những mặt tốt.
Văn học Việt Nam nằm trong vùng của văn học phƣơng Đông, chịu sự ảnh
hƣởng của văn học Trung Quốc. Trƣớc thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển
trên những đặc điểm, quy luật vận động chung của văn học vùng. Từ thế kỷ XX,
cùng với trào lƣu Âu hóa, văn học phƣơng Đông vận động chung cùng với những
quy luật của văn học phƣơng Tây. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Xu hƣớng này thể hiện rõ nhất trong sáng tác của nhiều cây bút trƣởng
thành sau 1975 nhƣ Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phƣơng, Phan Huyền
Thƣ, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh…Một số cây bút vốn trƣớc đây còn
ít nhiều nặng tình nặng nghĩa với cảm hứng lãng mạn hoặc đổi mới một cách rụt rè 14
cũng bắt đầu nhập vào dòng thơ hiện đại. Những tác phẩm mang tính hiện đại và
hậu hiện đại thể hiện đƣợc chân dung tinh thần của thời đại công nghiệp cũng nhƣ
tâm thức của con ngƣời trong xã hội hiện nay. Chính điều đó mới là nhân tố quyết
định, nó đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức diễn ngôn mới, cách tạo âm và tạo
nghĩa mới. Đến lƣợt mình, cách tổ chức diễn ngôn ấy chính là những tín hiệu cho
phép ngƣời đọc nhận thấy một trật tự tinh thần mới nằm sâu trong hệ thống ký hiệu
đƣợc gọi là văn bản ngôn từ. Vì thế, việc thúc đẩy tính hiện đại trong thơ không
phải là chạy theo những thời thƣợng nghệ thuật mà quan trọng hơn, nhà thơ phải
thể hiện đƣợc tinh thần hiện đại trong tác phẩm của mình. Nói nhƣ nhà văn Lê Anh
Hoài : “Chủ nghĩa tân cổ điển tuyên bố: Cái đẹp đã trở lại! Nhƣng đâu phải sáng
tác hậu hiện đại thì toàn hƣớng về/ khai thác cái xấu xa và kinh dị. Với sáng tác
hậu hiện đại, nhà văn và nghệ sĩ cố gắng đƣa ra một cái nhìn khác về cái đẹp, mở
rộng biên độ và chiều kích của cái đẹp. Ở rất nhiều sáng tác của cả hai loại, ngƣời
ta thấy điểm chung, đó là sự pha trộn, đa tạp, lƣỡng phân. Nhƣng khi hậu hiện đại

vấn đề mà còn là ở tƣ duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết… Nếu trƣớc đây Lê
Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng. Nếu Ma Văn
Kháng trƣớc đây là Xa phủ thì bây giờ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới
không có giấy giá thú. Nếu Nguyễn Quang Sáng trƣớc đây là Chiếc lược ngà, Mùa
gió chướng…. thì bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ ràng trƣớc một hiện
thực mới, một công chúng mới không cho phép tác giả viết nhƣ cũ. Sự đổi mới của
các tác giả do đó gần nhƣ là một tất yếu sống còn của chính họ.
Trên lĩnh vực thơ, xu hƣớng đổi mới cũng đƣợc hƣởng ứng sôi nổi. Thơ
Việt Nam đã có một hành trình mới với nhiều tìm tòi đột biến cả về nội dung và
hình thức. Thơ của họ gần gũi với cuộc đời, với thiên nhiên, với tâm sự buồn vui
của con ngƣời hơn. Thơ của họ nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói thân
phận. Có một thực tế cần xác định là thơ mới khó đọc hơn thơ cũ, không chỉ vì
năng lƣợng tƣ tƣởng của thơ có nhiều dạng thức mới, mà còn bởi sự chối bỏ vần
điệu của thơ tự do khiến cho nhiều độc giả quen thƣởng thức thơ có vần điệu thấy
khó vào, khó hiểu. Có thể nói, ngòi-bút-thơ của các nhà thơ sau 1975, đặc biệt là
sau 1986 đã chủ động tìm tòi hơn để vƣơn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn
khuất của đời sống tâm trạng và tinh thần con ngƣời để khai thác và hƣớng tới
những hiệu quả nghệ thuật mới. Cũng viết về cuộc chiến tranh đã đi qua, nhƣng 16
các nhà thơ đã hƣớng tới những số phận, khắc hoạ đƣợc những nỗi đau mất mát,
nó thấm thía và lay động lòng ngƣời hơn trƣớc. Nỗi buồn đƣợc cảm thông và chia
sẻ trong thơ họ rất thật, nó mệt mỏi, nhức đau nhƣ chính cuộc đời. Đọc thơ họ,
chúng ta có cảm giác vừa đi qua một cánh rừng rậm đặc, trong bóng đêm ẩm ƣớt
của những câu thơ đang tuôn trào nhƣ một sự hối thúc ám ảnh. Thơ của họ nhƣ bản
giao hƣởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, suy ngẫm và ý tƣởng-cùng tấu lên
tràn đầy sức tƣởng tƣợng lạ lẫm. Những day dứt của đời thƣờng để lại không ít vết
thƣơng trong trái tim nhà thơ. Sự thật khắc nghiệt mà họ phải nếm trải đã dội đập
vào thơ họ đến tức ngực-làm thơ họ bừng tỉnh. Đọc thơ họ, ta nhƣ đƣợc tham dự

của nó mà còn là những vấn đề của cuộc sống đời thƣờng, của những cảm xúc,
trăn trở rất riêng mà nhức nhối.
Đây cũng là giai đoạn nở rộ thể loại trƣờng ca. Xét về mặt thể loại, trƣờng
ca xuất hiện từ lâu qua những áng sử thi đồ sộ. Trong văn học Việt Nam hiện đại,
trƣờng ca cũng đƣợc Xuân Diệu sử dụng ngay khi Cách mạng tháng Tám thành
công qua hai tác phẩm Ngọn Quốc kỳ và Hội nghị non sông (mặc dù sau này chính
Xuân Diệu không mấy thiện cảm với thể loại này). Tuy nhiên, khi nói về trƣờng
ca, các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến sự xuất hiện của trƣờng ca thời chống
Mỹ mà một trong những cây bút tiên phong và nổi bật là Thu Bồn (Bài ca chim
Chơ rao). Tuy hoàn cảnh lịch sử đã có phần thay đổi, nhƣng sự xuất hiện của rất
nhiều tác phẩm trƣờng ca vào những năm cuối thể kỷ XX cho thấy thể loại này vẫn
còn tiềm năng phong phú mặc dù đã có dấu hiệu lặp lại ngƣời đi trƣớc ở một số
cây bút.
Nguyễn Quang Thiều là một tác giả sáng tác chủ yếu trong giai đoạn đổi
mới. Sau tập thơ đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi (1990), năm 1992, Nguyễn Quang Thiều
xuất bản tập thơ Sự mất ngủ của lửa. Đây là tập thơ khẳng định sự cách tân của
Nguyễn Quang thiều cả về mặt cảm hứng và thi pháp. Sau năm 1975, giữa lúc đội
ngũ đông đảo các nhà thơ trong nƣớc còn mơ hồ, ngờ hoặc về yêu cầu cách tân
thơ, thì tập thơ Sự mất ngủ của lửa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Nxb. Lao
động, 1992) đã cất tiếng nói khẳng định, đặt dấu mốc quan trọng khai mở dòng
chảy thi ca cách tân trở về sau. Tập thơ đoạt Giải thƣởng Hội Nhà văn Việt Nam
năm 1993, và, nhanh chóng làm xáo trộn tƣ duy đời sống thơ ca đƣơng đại. Ánh
sáng của tập thơ đã lan tỏa, tác động tích cực, sâu rộng trong đời sống thơ ca Việt,
gây hiệu ứng dây chuyền. Từ đây, bắt đầu xuất hiện nhiều tác giả trẻ với những 18
cách viết mới lạ, nhiều khuynh hƣớng mới đƣợc hình thành. Sự mất ngủ của lửa là
cột mốc cho dòng chảy cách tân. Buổi đầu nó đã làm dấy lên những ý kiến tranh
luận nhiều chiều, đa dạng. Hai mƣơi năm trôi qua cho phép chúng ta nhìn nhận

Nguyễn Quang Thiều đến với trƣờng ca Việt Nam khi giai đoạn nở rộ của
trƣờng ca mang cảm hứng sử thi đã lắng xuống. Ông mang đến những sáng tác
mới mẻ cả về cảm hứng, thi pháp. Trong các sáng tác nhƣ Nhân chứng của một cái
chết, Cây ánh sáng, Nhịp điệu châu thổ mới, Lò mổ …ta vẫn bắt gặp những cảm
xúc lớn nhƣng nó không còn mang tính sử thi hào hùng mà lại là những trắc ẩn về
cuộc đời, thân phận đôi khi cả sự khắc khoải về cái chết. Nguyễn Quang Thiều
khai thác trạng thái khó có thể thấu hiểu, thổ lộ của con ngƣời hiện đại, và hơn ai
hết, ông nói đƣợc sự cô đơn, cô độc về tinh thần của con ngƣời. Về cơ bản, có thể
coi ông là một trong những ngƣời mở đầu cho một giai đoạn văn học mới trong đó
cũng mở đầu cho một giai đoạn trƣờng ca mới.
Nói đến thành tựu của trƣờng ca Việt Nam sau năm 1975, chúng ta không
thể không nhắc đến những cái tên tuổi gắn liền với thể loại này nhƣ Thu Bồn,
Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Anh Ngọc Nhƣng nếu chúng ta bỏ qua
Nguyễn Quang Thiều thì sẽ không thể thấy đƣợc một diện mạo đầy đủ của trƣờng
ca đổi mới.
Tuyển thơ Châu thổ của ông vừa đƣợc nhà xuất bản Hội nhà văn ra mắt
năm 2011. Ở một mức độ nhất định, tuyển thơ cho ta thấy một phong cách, một tài
năng Nguyễn Quang Thiều qua một chặng đƣờng sáng tác của ông. Tuyển thơ là
sự tổng hợp 114 tác phẩm từ thuở đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi (1990) đến nay. Nhà
thơ Mai Văn Phấn viết trong lời tựa cuốn Châu thổ: “Thế hệ sau 1975, Nguyễn
Quang Thiều là nhà thơ cách tân toàn triệt sớm nhất, anh hướng đến các nhà thơ
trẻ mạnh mẽ nhất, tạo dư luận đa chiều sôi nổi nhất nhiều bạn trẻ say ông như
điểu đổ. Cũng không ít những nhà thơ thế hệ trước chửi ông như hát hay, từng gắn
mác “thơ dịch” cho những bài thơ mới lạ của ông. Nhưng sau cơn bốc đồng chê
như hắt nước đổ đi, họ cũng lặng lẽ nhận ra: Từ nay họ không thể viết như cũ”
[58,tr.4] . Tuyển thơ Châu thổ cũng là tổng hợp những trƣờng ca ông đã sáng tác.
Bản thân sự tổng hợp đó đã cho ta một cái nhìn đánh giá tổng quát những thành
tƣụ về nội dung, nghệ thuật trong một quá trình dài.
hạn không gian, thời gian, sự việc. Nó thoắt ở quá khứ, rồi hiện tại. Có khi cuộc 21
đời dằng dặc với bao lo toan, thăng trầm chỉ hiện lên qua một khoảng khắc kí ức
của ngƣời phụ nữ sắp sinh con Không nhân vật chính, không mạch sự kiện chính,
Nhân chứng của một cái chết chỉ đề cập đến tình huống cuộc đời, một ngày mà ai
cũng có, ngày giã từ cuộc sống. Đó cũng là một hƣớng quen trong sáng tác của
Nguyễn Quang Thiều nhƣ Chu Văn Sơn nhận xét: “Thơ Thiều, bắt đầu từ Sự mất
ngủ của lửa, cứ nhạt dần phần dƣơng để ngả sang phần âm của đời sống. Thiều sẽ
miệt mài nắm bắt những chuyển động, những sinh nở và biến ảo trong thế giới của
bóng đêm, cơn mơ và chốn siêu sinh. Thời gian đêm lấn át. Không gian âm vây
phủ”[93]. Nhƣng, hơn tất cả, Nguyễn Quang Thiều không nói để bi quan mà nói để
thức tỉnh. Một khát vọng đƣợc làm “nhân chứng”, làm một nhân chứng để khẳng
định với tất cả loài ngƣời rằng: Ai cũng phải chết, dù khổ đau, dù cô đơn hay giàu
sang, hạnh phúc. Nhƣng nhân sinh u mê. Kẻ khổ thì than vì nghĩ mình khổ mãi, kẻ
giàu sang thì kiêu hãnh vì nghĩ mình giàu sang mãi. Tất cả đều là sự nhầm lẫn, con
ngƣời đang bị lạc lối trong chính những mê lộ của chính mình, không ý thức đƣợc
mê lộ ấy, càng không thoát đƣợc mê lộ ấy. Và nhân chứng chứng kiến tất cả là
dòng sông, là con đƣờng, là cơn mƣa, “Chúng” nhìn loài ngƣời nhƣ ta nhìn lũ
kiến đang hỗn loạn khi bị dội nƣớc. Ông đã nói lên một hiện thực của tất cả chúng
ta rằng cuộc đời đang bị phung phí không gì quay lại đƣợc. Một câu chuyện về cơn
mƣa thị xã, một chân lý thức tỉnh đọng lại cuối cùng, đến đây ta lại thấy tất cả
những ngôn từ, những hình ảnh xô bồ tƣởng đau đầu kia đã trở nên đơn giản hơn
bao giờ hết. Thì ra, Nguyễn Quang Thiều không phải là một nhà truyền giáo, ông
vẫn đời thƣờng lắm vì trong cái câu chuyện về cơn mƣa thị xã kia, ông không phải
là một nhân chứng mà cũng là một kiếp nhân sinh bé nhỏ đang đau đớn trƣớc
những thác lũ của tạo hóa. Đó cũng là lí do ngƣời ta nói, Nguyễn Quang Thiều lạ
đấy mà cũng quen đấy.
Trƣờng ca Lò mổ (2008) đã thực sự gây đƣợc ấn tƣợng cả về nội dung lẫn

nhân vật hoàn toàn bị đảo lộn, phi trật tự không gian, thời gian. Những ám ảnh
cũng chồng chéo, lời thoại không đầu không cuối. Đặc biệt là cảm giác cô đơn,
quẩn quanh, lạc lối của con ngƣời trong chính hành trình cuộc sống của mình. Lò
mổ đã thể hiện những ám ảnh nhân sinh lớn.
Với trƣờng ca Cây ánh sáng (2009), Nguyễn Quang Thiều đã hƣớng thơ
hiện đại sang một làn đƣờng mới. Nếu ánh sáng trong tập thơ Sự mất ngủ của
lửa là ngọn đuốc, đèn pha, thì ánh sáng trong tập thơ Cây ánh sáng đƣợc hắt lên từ 23
đƣờng chân trời rạng đông, cho ta nhìn thấy hết vẻ đẹp trinh nguyên, bất tận của
một sớm mai tuyệt đẹp. Cho ta biết đƣợc một ngày mới đang đến với bao khác
biệt, nhiều bí ẩn, bất ngờ Bằng những chuyển động tất yếu tuân theo quy luật tự
nhiên, tập thơ Cây ánh sáng cho chúng ta đƣợc quyền tin yêu và hy vọng vào
những điều tốt đẹp trên thế gian này. Tập thơ, trong đó có trƣờng ca Cây ánh sáng
đã đƣợc ngƣời đọc chờ đợi sau một thời gian dài và qủa thật nó đã không khiến
ngƣời đọc thất vọng. Lại một lần nữa Nguyễn Quang Thiều đƣa vào trong trƣờng
ca thế giới huyền ảo, cảm xúc mơ hồ khó nắm bắt. Ngƣời ta cứ phải tập trung tối
đa giác quan để mong có thể không bị bỏ rơi khỏi trang sách. Có gì đó nhƣ cơn lốc
mà chúng ta mới chỉ phát hiện mà chƣa thể nắm bắt. Thế giới ánh sáng nhƣng lại
không thiếu bóng tối. Tất cả làm nên sự huyền ảo của không gian, thời gian. Với
trƣờng ca này, Nguyễn Quang Thiều đã mang đến những câu chuyện thần tiên
nhƣng ngay cả chúng cũng không có logic, tƣởng nhƣ là phi lí. Chất hậu hiện đại
thể hiện rất rõ trong sáng tác này. Những trạng thái không tƣởng của cảm xúc, sự
đứt mạch, sự hỗn loạn tất cả đã làm nên một cú huých với văn học nói chung và
trƣờng ca nói riêng. Cơn lốc hậu hiện đại của thế giới từ thế kỷ XX giờ đã cuốn
đến Việt Nam, và trƣờng ca Nguyễn Quang Thiều không nằm ngoài cơn lốc ấy.
Chu Văn Sơn nhận xét : “Trong Cây ánh sáng, một trƣờng ca ngắn về mối băn
khoăn truy tìm bản thể mình, Thiều có hình dung thi sĩ nhƣ một hỗn thân với bao
đối cực kiểu cái tôi đa ngã: con côn trùng, con lạc đà, con đại bàng, con sói, con

đồng hóa nhau với đủ mọi sắc thái. Nhƣ đã trình bày, tập thơ Sự mất ngủ của
lửa là bƣớc khởi động nhƣng lại chính là cột mốc quan trọng cho lộ trình cách tân
thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Những tập thơ khác tiếp nối là các chi tiết
tiếp theo để hoàn chỉnh từng phần các hạng mục giàn giáo, cột kèo, trang trí cho
lâu đài thơ của riêng Nguyễn Quang Thiều. Nhịp điệu châu thổ mới (Hội Văn học
nghệ thuật Hà Tây xuất bản, 1997), Bài ca những con chim đêm (Nxb. Hội Nhà
văn, 1999), Cây ánh sáng (Nxb. Hội Nhà văn, 2009) thực sự mở tiếp con đƣờng
đã khai phá từ thập niên 90 với việc bung nở những thi ảnh khác biệt. Bên những
mạch thơ vạm vỡ, sắc lạnh, trƣờng ca Nguyễn Quang Thiều còn thể hiện sự tinh tế,
trữ tình khi viết về thiên nhiên, con ngƣời và những đồ vật giản dị. Đọc trƣờng ca
của ông, có khi chúng ta ngỡ mình lạc vào một thế giới đồng dao thần thoại, ở đó
mọi ngƣời sống để yêu nhau và hiến dâng hạnh phúc. Ở đó, từ ánh sáng, bầu trời,
cây cối, súc vật, ngọn đồi đến mọi đồ vật đơn sơ đều có linh hồn, hiển hiện cùng

Trích đoạn Hoài niệm gia đình Ám ảnh thời gian Kết cấu theo dòng ý thức Ngôn ngữ đậm chất văn xuôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status