Đặc điểm ngôn ngữ trên quảng cáo thương mại ngoài trời - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------

NGUYỄN THANH TÙNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRÊN QUẢNG CÁO
THƯƠNG MẠI NGOÀI TRỜI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kì một công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn

NGUYỄN THANH TÙNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

3.2. Các kiểu hành vi ngôn ngữ theo đích ở lời trong quảng cáo
thƣơng mại ngoài trời 63
3.3. Các kiểu hành vi ngôn ngữ trong quảng cáo thƣơng mại ngoài
trời xét theo chức năng 77
3.4. Nghĩa tƣờng minh, nghĩa hàm ẩn trong quảng cáo thƣơng mại
ngoài trời 82
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3

MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quảng cáo là một trong những hình thức giao tiếp quan trọng góp phần
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bởi lẽ trong xu thế hội nhập ngày nay,
muốn kinh tế phát triển thì trƣớc hết sản phẩm làm ra phải có ngƣời biết đến và
tiêu thụ theo nguyên tắc thị trƣờng. Không một phƣơng thức giới thiệu sản
phẩm nào đến với ngƣời tiêu dùng nhanh và hữu hiệu hơn quảng cáo.
Các phƣơng thức và phƣơng tiện quảng cáo rất đa dạng. Đến nay đã có
khá nhiều công trình nghiên cứu về quảng cáo (xin nói kĩ ở phần lịch sử vấn
đề), nhƣng chƣa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu đặc điểm ngôn

khác. Trên báo và tạp chí đều đăng tải các quảng cáo, ít thì xen kẽ giữa các phần
bài, nhiều thì có mục riêng. Có một số tờ báo có từ 8 đến 32 trang dành cho
quảng cáo (báo Thanh Niên, báo Sài Gòn tiếp thị, báo Hà Nội mới, báo Tiền
Phong…), ngoài ra còn có tờ Mua và bán chỉ chuyên về quảng cáo. Cùng với sự
lớn mạnh của quảng cáo, hàng trăm công ti, doanh nghiệp lớn nhỏ chuyên về
quảng cáo trên toàn quốc đã ra đời và hoạt động ngày càng tích cực. Ngoài ra,
còn có nhiều công ti quảng cáo có tới 100% vốn nƣớc ngoài tầm cỡ thế giới
khác đã và đang nhập cuộc cạnh tranh trong việc làm quảng cáo ở Việt Nam.
Sự ra đời của quảng cáo cũng kéo theo sự chú ý nghiên cứu về các mặt
trong quảng cáo. Trên thế giới, ở các nƣớc công nghiệp phát triển có đến hàng
trăm công trình viết về ngôn ngữ quảng cáo.
Ở Việt Nam, do quảng cáo xuất hiện muộn và gần đây mới thực sự phát
triển nên nghiên cứu về quảng cáo chƣa nhiều, nhất là về ngôn ngữ quảng cáo.
Các công trình ở Việt Nam từ trƣớc đến nay chỉ chủ yếu viết về kĩ nghệ quảng
cáo, một số giáo trình và luận văn tốt nghiệp của sinh viên ngành Marketing của
các trƣờng kinh tế, trong đó chủ yếu nhấn mạnh mặt thực hành của quảng cáo,
coi quảng cáo nhƣ là một công cụ đắc lực của Marketing. Tiêu biểu là cuốn
Quảng cáo - lý thuyết và thực hành của bộ môn Marketing trƣờng Đại học Kinh
tế Quốc dân, xuất bản năm 1991, do một tập thể viết. Công trình đáng chú ý thứ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5

hai là của Lê Hoàng Quân với tựa đề Nghiệp vụ quảng cáo và tiếp thị, Nxb
Khoa học kĩ thuật, Hà Nội, xuất bản năm 1999. Cuốn sách có giá trị nhƣ một
giáo trình chuyên ngành Quảng cáo học, có thể coi là tƣơng đối đầy đủ về kĩ
nghệ quảng cáo ở nƣớc ta hiện nay. Một công trình cũng rất đáng đƣợc quan
tâm là tập bài viết về quảng cáo có nhan đề Quảng cáo và ngôn ngữ quảng cáo,
Nxb KHXH, xuất bản năm 2004, do tiến sĩ Nguyễn Kiên Trƣờng chủ biên.

kiểu giao tiếp trong một văn bản quảng cáo, đặc điểm cú pháp, đặc điểm lời…”;
Tác giả còn nhấn mạnh: “… Các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ là
“những nhận xét ban đầu”… khó có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về ngôn ngữ
quảng cáo”. Riêng luận án Tiến sĩ của tác giả Mai Xuân Huy đƣợc Tống Thị
Hƣờng đánh giá là “Công trình nghiên cứu lớn nhất đầu tiên ở nƣớc ta về ngôn
ngữ quảng cáo”, nhƣng dẫu sao công trình này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
quảng cáo trên bình diện ngữ dụng [22, tr.4].
Chƣa thấy một công trình nghiên cứu quảng cáo nào nghiên cứu toàn diện
về quảng cáo ở cả bình diện cấu tạo ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Đặc biệt,
các công trình nghiên cứu đã dẫn mới chỉ tập trung tìm hiểu phƣơng tiện giao
tiếp dùng để quảng cáo là tiếng Việt, còn các phƣơng tiện khác nhƣ quảng cáo
bằng tiếng nƣớc ngoài, quảng cáo bằng âm thanh, hình ảnh,… vẫn chƣa đƣợc
giới nghiên cứu quan tâm đúng mức.
Luận văn này tìm hiểu một số vấn đề còn bỏ ngỏ cũng nhƣ những phƣơng
diện khác của quảng cáo đã đƣợc các tác giả nhắc đến sơ lƣợc trong các công
trình đã dẫn (xin đƣợc nói rõ trong mục Phạm vi nghiên cứu).
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Việc quảng cáo thƣơng mại có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều phƣơng tiÖn
thông tin khác nhau: trên báo chí (báo viết, báo hình, báo nói) qua các phƣơng
tiện khác (phim quảng cáo, quảng cáo trực tiếp); và trên các phƣơng tiện quảng
cáo ngoài trời (băng rôn, áp phích, các biển quảng cáo bên đƣờng, quảng cáo
trên các phƣơng tiện giao thông và tại các điểm bán hàng, quảng cáo trên bao bì
sản phẩm…). Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7

cứu loại quảng cáo thƣơng mại ngoài trời. Đây là một loại quảng cáo có một số

- Phƣơng pháp ngôn ngữ học điền dã.
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thu thập các mẫu quảng cáo thƣơng
mại ngoài trời.
- Phƣơng pháp thống kê- phân loại.
Phƣơng pháp này nhằm thống kê, phân loại các yếu tố trong quảng cáo
thƣơng mại ngoài trời để phục vụ cho luận văn. Sự thống kê, phân loại này giúp
có đƣợc những số liệu chính xác, làm tăng tính thuyết phục của luận văn.
- Phƣơng pháp miêu tả (phân tích; tổng hợp)
Phƣơng pháp này đƣợc dùng khi phân tích chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ
của quảng cáo thƣơng mại ngoài trời, rồi tổng hợp các đặc điểm đó, chỉ ra các
quy luật chung của chúng.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Trên cơ sở nguồn tƣ liệu về quảng cáo thƣơng mại ngoài trời tƣơng đối
phong phú, có tham khảo các kết quả trƣớc đây, luận văn hƣớng tới sự miêu tả
đầy đủ và sâu sắc hơn đặc điểm ngôn ngữ trên quảng cáo thƣơng mại ngoài trời.
Ở một chừng mực nhất định, từ các kết quả nghiên cứu của luận văn, ngƣời
đọc có thể có sự liên hệ, so sánh giữa đặc điểm ngôn ngữ trên quảng cáo thƣơng
mại ngoài trời với các đặc điểm ngôn ngữ trên các phƣơng tiện quảng cáo khác.
Từ đó, luận văn hƣớng tới cái nhìn khái quát về những đặc điểm chung và nét
riêng (ở khía cạnh đặc điểm ngôn ngữ) của quảng cáo thƣơng mại ngoài trời so
với quảng cáo trên các phƣơng tiện quảng cáo còn lại. Quan điểm nhƣ vậy có thể
làm phong phú thêm cho lí luận về quảng cáo
- Về mặt thực tế, những nhận xét của luận văn có thể giúp ít nhiều cho
những ngƣời làm quảng cáo, cũng nhƣ những cán bộ quản lí văn hóa và dịch vụ
thƣơng mại có liên quan đến quảng cáo, đồng thời giúp cho việc định hƣớng chỉ
đạo hoạt động quảng cáo thƣơng mại ngoài trời sao cho hiệu quả hơn, phù hợp
hơn với văn hóa của ngƣời Việt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
lập quan hệ với thị trƣờng với mục tiêu bán sản phẩm (thị trƣờng này đƣợc tìm
hiểu kĩ càng). Con đƣờng tốt nhất để có đƣợc một thị trƣờng rộng lớn là giới
thiệu về sản phẩm mới này qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng cho ngƣời
tiêu dùng biết về sản phẩm, dịch vụ của mình. Quảng cáo ra đời thực sự là chiếc
cầu nối giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng.
Vậy quảng cáo là gì?
Có nhiều định nghĩa về quảng cáo. Trong một số từ điển giải thích và các
tài liệu hiện có, quảng cáo là một động từ đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
a, Hoạt động nhằm mục đích làm cho ngƣời ta biết đến một nhãn hiệu,
nhằm kích thích công chúng mua một sản phẩm, dùng một dịch vụ…
(Theo Petit, Larouse, Illustre, 1993)
b, Hoạt động để :
- Làm cho cái gì đó đƣợc biết đến rộng rãi và công khai.
- Ca ngợi cái gì đó một cách công khai nhằm khuyến khích mọi ngƣời
mua hoặc sử dụng nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11

- Cho biết rằng mình đang cần gì (mua, bán, thuê…).
(Theo Oxford Advanced Learner Dictionary; Oxford University Press)
c, Trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều ngƣời biết nhằm tranh thủ
đƣợc nhiều khách hàng.
(Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, 2008)
d, Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của
hàng hóa, dịch vụ hay tƣ tƣởng, hành động mà ngƣời ta phải trả tiền để nhận
biết ngƣời quảng cáo.
(Theo Hiệp hội Maketing Mỹ (AMA))
e, Quảng cáo là sự truyền đạt thông tin phi cá nhân, thƣờng phải trả tiền

phẩm quảng cáo. Nhìn tổng thể trên quan điểm giao tiếp, quảng cáo là một hành
động bằng ngôn từ”.
1.1.2. Một số đặc điểm của quảng cáo
a, Về nội dung
Quảng cáo là một loại thông tin phát đi phải trả tiền, có tính chất đơn
phƣơng không dành riêng cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và phƣơng tiện
thông tin đại chúng, nhằm hỗ trợ cho một sản phẩm, một nhãn hiệu, một xí
nghiệp, một mục đích, một ứng cử viên, một tổ chức nào đó… đƣợc nêu danh
trong quảng cáo.
Quảng cáo là một thông tin có hiệu lực, quảng cáo khuếch trƣơng việc
bán hàng hóa, dịch vụ, uy tín và cả tƣ tƣởng thông qua thông tin và thuyết phục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13

Quảng cáo là thể loại truyền đạt thông tin, đề cao những phẩm chất tốt
đẹp của hàng hóa (vật chất và tinh thần) làm ra, tác động vào nhu cầu thị hiếu
của mọi ngƣời để nhiều ngƣời mua hoặc tham gia, hƣởng ứng.
Nhƣ vậy, quảng cáo có chức năng chình là thông báo về hàng hóa, dịch
vụ; song chủ yếu là kích thích việc mua, bởi đây là chức năng quan trọng nhất
của nó.
Quảng cáo không kết thúc với những thông tin từ ngƣời muốn bán sang
ngƣời định mua, mà còn đi xa hơn và gây ảnh hƣởng, thuyết phục ngƣời ta hành
động hoặc tin tƣởng.
b, Về hình thức
- Hình thức trình bày:
Quảng cáo không đơn giản là các thông tin về hàng hóa và cũng không
đơn giản là những mệnh lệnh để đề nghị hay thúc giục ngƣời mua hàng, ngƣời
sử dụng dịch vụ. Trên thực tế quảng cáo thƣờng tiếp cận và chinh phục ngƣời

chất, chức năng và công dụng của hàng hóa và dịch vụ quảng cáo. Đây chính là
mục đích thông tin của quảng cáo (còn gọi là đích nhận thức).
Thứ hai: Để tranh thủ đƣợc nhiều khách hàng, mục đích cuối cùng của
quảng cáo là tăng lƣợng hàng hóa bán ra và từ đó tăng lợi nhuận. Đây chính là
mục đích khêu gợi hành vi (còn gọi là đích tác động) của quảng cáo, tức là làm
cho ngƣời nhận phải có những biến đổi nhất định trong trạng thái tâm lí, tình
cảm và có hành động phù hợp với mong muốn của chủ quảng cáo. Đây là mục
đích riêng, đặc thù của quảng cáo.
Có thể nói ngắn gọn mục đích của quảng cáo là tác động đồng thời dần
dần lên nhận thức, tình cảm và ứng xử của ngƣời tiếp nhận quảng cáo, để cuối
cùng dẫn dụ khiến họ hành động là thử, mua và dùng sản phẩm, dịch vụ quảng
cáo. Nhƣ vậy, tất cả những động cơ, mục đích nói trên đã chi phối sự xuất hiện
và cách tổ chức các yếu tố ngôn ngữ trong quảng cáo. Về mặt ngôn ngữ học,
quảng cáo có đạt đƣợc đích hay không phụ thuộc không nhỏ vào việc lựa chọn
từ ngữ và cách tổ chức, sắp xếp chúng trong quảng cáo.
1.1.3.Phân loại quảng cáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15

1.1.3.1. Cách phân loại quảng cáo trên thế giới
Tác giả Mai Xuân Huy, trong luận án của mình, đã tìm hiểu, xem xét một
số cách phân loại quảng cáo đƣợc cho là tƣơng đối hợp lý (trong khá nhiều cách
phân loại) của các nhà Kinh tế học, Quảng cáo học hàng đầu ở các nƣớc Âu -
Mỹ có nền công nghiệp quảng cáo phát triển cao. Theo tác giả, quảng cáo có thể
đƣợc phân loại theo các tiêu chí sau:
a, Theo tiêu chí đối tƣợng khuếch trƣơng trong quảng cáo, có thể chia
quảng cáo thành hai loại:
- Quảng cáo sản phẩm (Product Advertising) nhằm khuếch trƣơng các

đọc, đƣợc dàn dựng công phu và đƣợc trình bày theo một hình thức nào đó nhƣ
kịch nói, kịch hát, cuộc thi…
- Quảng cáo rao vặt (Classified Advertising):
Loại quảng cáo này chỉ có ở phƣơng tiện quảng cáo báo chí, đƣợc đặt ở
vài trang riêng và đƣợc xếp theo nhóm hàng. Ví dụ, ở Việt Nam có tờ “Mua và
bán" (chuyên về quảng cáo), tiêu biểu cho loại quảng cáo rao vặt này. Đây là
loại quảng cáo do các công ti, doanh nghiệp loại nhỏ hoặc cá nhân ít vốn tự thảo
ra, gửi đăng và tự chi phí quảng cáo. Vớ loại quảng cáo này ngƣời đọc thƣờng
chỉ quan tâm và tìm hiểu đến những mặt hàng và dịch vụ mà họ quan tâm.
Căn cứ vào các đặc điểm trên thì quảng cáo rao vặt khác với quảng cáo
trình bày ở hai điểm: thiếu các thành phần thuyết phục và hầu nhƣ không có các
yếu tố để bắt buộc hay mời gọi độc giả - những khách hàng tƣơng lai đọc quảng
cáo. Nhƣ vậy, quảng cáo rao vặt về thực chất chỉ gần nhƣ một bản thông báo
cho một bộ phận công chúng quan tâm về một cái gì đó, chẳng hạn là hàng hóa
hay dịch vụ đang có bán với một giá nhất định. Theo cách nhìn nhận quảng cáo
nhƣ vậy, quảng cáo lại có thêm một loại nữa là quảng cáo thông báo.
- Quảng cáo thông báo (Notice Advertising)
Loại quảng cáo này thƣờng xuất hiện trên báo chí, ti vi và ra đi ô. Đó là
các thông điệp mà nội dung của chúng chỉ là các thông tin về một vấn đề nào
đó. Thông báo có thể vì mục đích kinh tế trƣớc mắt hoặc lâu dài (mời dự lễ hội,
biểu diễn nghệ thuật, ca nhạc, chiếu phim, tuyển sinh, tuyển nhân viên, du học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17

bố cáo thành lập công ti, khai trƣơng cửa hàng, tìm bạn hàng, tìm đại lí…), có
thể không vì mục đích kinh tế (thông báo về việc tìm ngƣời nhà, chuyển địa
điểm, thay đổi số điện thoại, các cuộc thi viết/ vẽ/ hát, rơi giấy tờ, giải thể công
ti, giải phóng mặt bằng,…).

1.1.3.3. Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu cách phân loại quảng cáo trên thế giới
và ở Việt Nam, chúng tôi thấy sự phân loại quảng cáo ở Việt Nam hiện thời đã
có thể chấp nhận đƣợc. Tuy nhiên, đối với việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trên
quảng cáo thƣơng mại ngoài trời không thể không đề cập đến sự phân loại
quảng cáo dựa vào cách thức quảng cáo, tức là dựa trên các phƣơng tiện thông
tin. Đây chính là căn cứ, là cơ sở cho việc tìm hiểu và nghiên cứu vừa nói.
Trong quảng cáo, mỗi phƣơng tiện thông tin là một kênh thông tin. Nó là
phƣơng tiện để đăng tải các thông điệp bán hàng của nhà quảng cáo cho các
khách hàng tiềm năng. Đó chính là phƣơng tiện mà nhà quảng cáo sử dụng để
truyền các thông điệp của họ tới một nhóm lớn khách hàng tiềm năng và bằng
cách đó, làm cho khoảng cách giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng rút ngắn
lại.
Mỗi phƣơng tiện thông tin dung để quảng cáo hƣớng tới những ngƣời tiếp
nhận thông tin riêng, có phƣơng thức khác nhau để nâng cao số lƣợng nƣời tiếp
nhận của mình và bán sản phẩm của mình. Ngoài việc bán sản phẩm dƣới dạng
các chƣơng trình, các phƣơng tiện thông tin còn bán khoảng thời gian và không
gian, qua đó nâng cao lợi nhuận. Khoảng thời gian và không gian nhƣ vậy chính
là "đất"của quảng cáo. Và nhƣ vậy, quảng cáo là một công cụ góp phần làm cho
phƣơng tiện thông tin phát triển nhanh chóng. Các phƣơng tiện thông tin tăng số
lƣợng ngƣời nhận, tăng lợi nhuận và nâng cao uy tín ảnh hƣởng của mình, đồng
thời qua đó, các nhà quảng cáo cũng đến với khách hàng tƣơng lai của mình một
cách hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20

đƣờng, quảng cáo tại các điểm bán hàng, hội chợ và triển lãm thƣơng mại, nên
đƣợc xếp gộp vào phƣơng tiện quảng cáo ngoài trời, bởi chúng đều là phƣơng
tiện quảng cáo bổ sung, có đặc điểm ngắn gọn nên có ít thông tin về sản phẩm,
dịch vụ. Lời quảng cáo trên các loại phƣơng tiện này là sự chắt lọc từ ngữ, lựa
chọn chỉ một hoặc hai điểm nổi trội nhất trong hàng loạt tính chất, công dụng,
chức năng của sản phẩm hay dịch vụ quảng cáo. Với cách nhìn nhƣ vậy, quảng
cáo trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng có thể đƣợc phân thành các loại
chủ yếu nhƣ sau:
● Quảng cáo trên ti vi (truyền hình).
● Quảng cáo trên ra đi ô (đài phát thanh).
● Quảng cáo báo chí.
● Quảng cáo ngoài trời.
● Các phƣơng tiện quảng cáo khác, phim quảng cáo, quảng cáo trực tiếp.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trên quảng cáo
thƣơng mại, chúng tôi chỉ tìm hiểu, trên cơ sở tập hợp tƣ liệu ở loại phƣơng tiện
thứ tƣ - quảng cáo ngoài trời. Tùy theo nội dung và mục đích nghiên cứu, chúng
tôi có thể so sánh, đối chiếu với một số loại phƣơng tiện quảng cáo đã đƣợc liệt
kê ở trên.
1.1.4. Quảng cáo thƣơng mại
a, Khái niệm
Để làm rõ thế nào là quảng cáo thƣơng mại, chúng tôi sẽ đối chiếu với
quảng cáo phi thƣơng mại.
Quảng cáo phi thƣơng mại (Noncommercial Advertising): là quảng cáo
không nhằm kiếm đƣợc lợi nhuận. Quảng cáo loại này đƣợc một số tổ chức từ
thiện, một nhóm công dân, một tổ chức tôn giáo hoặc chính trị, các cơ quan

rộng vào nền kinh tế thế giới thì nhu cầu quảng cáo thƣơng mại ở Việt Nam
càng phát triển.
Các phƣơng thức và phƣơng tiện quảng cáo thƣơng mại ở Việt Nam ngày
một đa dạng hơn. Đây là cơ sở tốt để thúc đẩy ngành công nghiệpquảng cáo này
phát triển mạnh trong thời gian tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22

1.1.5. Quảng cáo thƣơng mại ngoài trời
Quảng cáo thƣơng mại ngoài trời là hình thức quảng cáo lâu đời, cổ xƣa
nhất. Phƣơng tiện quảng cáo ngoài trời hiện đại có nhiều loại nhƣ áp phích,
bảng yết thị, băng rôn, các biển quảng cáo bên đƣờng, quảng cáo trên các
phƣơng tiện giao thông và tại các điểm bán hàng, quảng cáo trên bao bì sản
phẩm…
Quảng cáo ngoài trời có những đặc điểm khác với những phƣơng tiện
quảng cáo khác. Đây không phải là phƣơng tiện truyền phát các thông điệp.
Quảng cáo ngoài trời không mang lại đƣợc thông tin cho ngƣời nhận mà chính
ngƣời nhận đến với quảng cáo, mặc dù họ xem xét khi đang tiến hành các hoạt
động khác. Ngƣời tiếp nhận quảng cáo hầu nhƣ không phải nỗ lực gì khi tiếp
nhận quảng cáo ngoài trời.
Quảng cáo ngoài trời mang tính lặp lại và có sự lựa chọn địa lí thích hợp
ở nơi dễ nhìn, dễ thấy. Quảng cáo ngoài trời có nhiều kiểu cách và kích cỡ khác
nhau, có thời gian tồn tại dài, đồng thời lại có khả năng gây ấn tƣợng mạnh mẽ.
Chúng dễ đƣợc thể hiện trên các biển cỡ lớn, màu sắc đẹp và có nội dung ngắn
gọn, gây đƣợc sự chú ý, dễ nhớ, dễ thuộc. Quảng cáo ngoài trời có thể có hoặc
không có hình ảnh minh họa.
Nếu nhƣ quảng cáo trên ti vi, trên ra đi ô, trên báo chí thƣờng có lời nhận
xét của ngƣời tiêu dùng về đặc điểm, chất lƣợng, công dụng của sản phẩm, dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status