1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ THỊ CHINH
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
BÁU VẬT CỦA ĐỜI (MẠC NGÔN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
BÁU VẬT CỦA ĐỜI (MẠC NGÔN)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Khánh Thành
Hà Nội-2013
2.3. Nghệ thuật phóng đại 54
2.3.1 Phóng đại cái chết 54
2.3.2. Phóng đại hình ảnh Bầu vú 57
Chương 3: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 60
3.1. Không gian nghệ thuật 60
3.1.1. Khái niệm không gian nghệ thuật 60
3.1.2. Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết “Báu vật của đời” 60
3.2. Thời gian nghệ thuật 72
3.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 72
3.2.2. Nghệ thuật thời gian trong “Báu vật của đời” 73
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Văn học đương đại Trung Quốc cùng với sự đa dạng về thể loại độc đáo về
phong cách đã góp phần tạo nên diện mạo đa sắc màu của văn chương Trung Quốc.
Những thành tựu rực rỡ của văn học Trung Quốc đương đại đạt được nhờ sự góp
mặt của thế hệ các nhà văn Vương Mông, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Phùng
Ký Tài, Lục Văn Phu, Trương Tử Long, Cao Hiểu Thanh, Hàn Thiếu Công… và
thật thiếu sót khi không nhắc đến Mạc Ngôn.
Mạc Ngôn được xem là nhà văn có bút lực mạnh nhất Trung Quốc hiện nay,
là “nhân vật khai phá của thế kỉ XXI” ở châu Á, và trở thành một “hiện tượng” của
văn học Trung Quốc và thế giới. Năm 2012, Mạc Ngôn trở thành nhà văn mang
quốc tịch Trung Quốc đầu tiên đoạt giải Nobel. Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ với
hơn 200 tác phẩm, tiểu thuyết là lĩnh vực gây tiếng vang nhất và gặt hái nhiều thành
tựu nhất.“Báu vật của đời” được coi là "viên đá nặng nhất trong lâu đài văn học"
thuật của tiểu thuyết “Báu vật của đời” sẽ góp phần đánh giá và hiểu đúng tư
tưởng, giá trị của tác phẩm.
Cùng với so sánh văn học, tiếp nhận văn học, nghiên cứu hình thức nghệ
thuật tác phẩm theo hướng thi pháp học, tự sự học đang trở thành xu hướng chính
của lý luận văn học hiện đại. Hướng nghiên cứu này đã trả lại bản chất tự thân cho
văn học “văn học là nghệ thuật sáng tạo ngôn từ”. Do vậy, trong luận văn này,
chúng tôi đã lựa chọn thi pháp học, tự sự học là hạt nhân lý luận để nghiên cứu tiểu
thuyết “Báu vật của đời”.
Tiểu thuyết của Mạc Ngôn là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Mạc
Ngôn đã kế thừa tinh hoa nghệ thuật kể chuyện dân tộc kết hợp với những cách tân
về nghệ thuật viết tiểu thuyết hiện đại tạo ra một phong cách riêng độc đáo. Nghiên
cứu hình thức nghệ thuật “Báu vật của đời” để chỉ ra được yếu tố truyền thống,
hiện đại và đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm góp phần khẳng định vị trí của Mạc
Ngôn trong dòng chảy của văn học Trung Quốc và văn học thế giới.
7
Thành tựu tiểu thuyết của Việt Nam hiện đại có sự hạn chế về mặt nghệ thuật
cũng như số lượng tác phẩm. Các nhà văn Việt Nam như Nguyễn Khắc Phê, Trần
Đăng Khoa coi Mạc Ngôn là tấm gương về sự sáng tạo và tinh thần dũng cảm
khẳng định bản lĩnh của nhà văn. Tiếp cận đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết “Báu vật
của đời” theo hướng thi pháp học, tự sự học đã mở ra một hướng tiếp cận mới trong
các sáng tác của Mạc Ngôn nói riêng, trong các tác phẩm văn học phương Đông nói
chung. Vì vậy, nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong “Báu vật của đời” có ý nghĩa
khoa học và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Nghiên cứu về tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói chung
Trong “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn” (Tạp chí Văn
học Nước ngoài, số 4, năm 2003), bằng hướng nghiên cứu tự sự học và thi pháp
học, Lê Huy Tiêu đã phát hiện ra cái “lạ” trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. “Tiểu
thuyết của Mạc Ngôn không còn là cốt truyện hoàn chỉnh như tiểu thuyết truyền
Giấc mơ là nơi ẩn giấu những điều phi thực, kì lạ, những khát khao, ham muốn của
nhân vật. Qua giấc mơ, nhân vật tự giác hơn, tìm lại nhân tính và phục thiện. Qua
giấc mộng, ta thấy xã hội Trung Quốc thu nhỏ và sống động.
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê đào sâu vào thủ pháp lạ hoá của Mạc Ngôn bằng
cái nhìn tổng quát toàn bộ những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt qua bài Tài
“phù phép” của Mạc Ngôn đăng trên Báo Tiền Phong online. Theo Nguyễn Khắc
Phê, cách “phù phép” của Mạc Ngôn chính là thi pháp, là phép “lạ hóa”, “huyền
thoại hóa” hiện thực.
Một công trình khoa học có giá trị mới được công bố vào tháng 8/2011 là
luận án Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Tịnh Thy.
Tác giả đã khảo sát 11 tác phẩm trường thiên tiểu thuyết của Mạc Ngôn qua những
phương diện chủ yếu như: người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu, ngôn
ngữ, giọng điệu,… với những phương pháp nghiên cứu đặc thù như: phương pháp
loại hình, cấu trúc - hệ thống, thống kê – phân loại, so sánh (đồng đại, lịch đại).
Công trình đã góp thêm một vài nhận định vào lĩnh vực nghiên cứu tự sự học nói
chung và tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói riêng.
9
2.2. Nghiên cứu về “Báu vật của đời”
Dịch giả Trần Đình Hiến - một dịch giả hàng đầu về văn học Trung Quốc đã
nhận định “Báu vật của đời” là một cuốn sách có chứa đựng những trải nghiệm
nhân sinh, nó thoát khỏi khuôn phép của “lễ trị” xưa và gần gũi với những giá trị
nhân bản. “Báu vật của đời” đã trở thành đối tượng của nhiều công trình nghiên
cứu.
Trong bài “Sự sinh, sự chết, sự sống: Đọc “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn”
đăng trên trang tanviet.net ngày 04/08/2005, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã
tóm lược những điểm chính trong “Báu vật của đời” và đưa ra những nhận định về
tác giả, tác phẩm.
Lê Vũ Phương Thuỷ với khoá luận tốt nghiệp mang tên “Huyền thoại hoá
trong tiểu thuyết “Báu vật của đời”. Khoá luận bước đầu đã tiếp cận tác phẩm thông
ngoài đến Mạc Ngôn. Các đánh giá trên đúng nhưng chưa thật đầy đủ về tác phẩm.
Vì vậy, dẫn đến những ý kiến trái chiều khi đánh giá tác phẩm này.
Đứng trước tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi kế thừa thành tựu của người
đi trước kết hợp với việc ứng dụng lý thuyết tự sự học, thi pháp học vào việc nghiên
cứu tiểu thuyết “Báu vật của đời” tìm hiểu cấu trúc văn bản và những vấn đề có
liên quan. Trên cơ sở đó sẽ đánh giá đúng giá trị tác phẩm và văn tài Mạc Ngôn qua
“viên gạch nặng nhất” trong lâu đài sáng tác của nhà văn.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Sử dụng lý thuyết tự sự học, thi pháp học để lí giải hiện tượng Mạc Ngôn
và khẳng định được giá trị của “Báu vật của đời” trong văn nghiệp Mạc Ngôn. Qua
đó đánh giá vị trí của tác giả trong lĩnh vực tiểu thuyết Trung Quốc hiện đại
- Đưa tác phẩm của Mạc Ngôn gần gũi với bạn đọc Việt Nam. Đồng thời khu
biệt được những nét đặc sắc nghệ thuật của ông với nhà văn khác.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
11
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết “Báu vật của đời” của Mạc
Ngôn do dịch giả Trần Đình Hiến dịch, Nhà xuất bản Văn học ấn hành, 2009; có độ
dài 815 trang.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hình thức nghệ thuật tác phẩm có nghĩa là tìm hiểu về các biện
pháp, cách thức người kể chuyện dựng lên câu chuyện. Trong đề tài này, chúng tôi
tập trung vào các phương diện sau: Hình tượng người kể chuyện, nghệ thuật xây
dựng nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp cấu trúc
Hình tượng người kể chuyện đóng vai trò trung gian giữa chủ thể sáng tạo và
tác phẩm. Là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định, đồng thời người kể
chuyện vừa là một trong những hình thức thể hiện quan điểm tác giả trong tác
phẩm, vừa mang trong mình cả một phần nội dung khách quan của thế giới được
phán ánh vào tác phẩm. Hình tượng người kể chuyện là một hình tượng nghệ thuật
khá phức tạp. Trong tác phẩm, người kể chuyện có thể là tác giả hoặc có thể là một
nhân vật do nhà văn sáng tạo ra, có thể là người biết tuốt một câu chuyện nào đó.
Người kể chuyện có thể xuất hiện lộ diện hay ẩn tàng. Nhìn một cách tổng thể,
người kể chuyện thường được thể hiện dưới 3 hình thức sau: Người kể chuyện ngôi
thứ nhất, người kể chuyện ngôi thứ hai và người kể chuyện ngôi thứ ba. Một tác
phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện.
Người kể chuyện có chức năng kể chuyện, trần thuật, truyền đạt, đóng vai trò
tổ chức tự sự, chỉ dẫn trần thuật và bình luận, đồng thời thực hiện chức năng nhân
vật hóa. Người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ
sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn của tác giả, làm
cho sự tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú và nhiều phối
cảnh. 13
1.1.2. Người kể chuyện trong tiểu thuyết “Báu vật của đời”
Không có bất cứ một nguyên tắc nào trong việc lựa chọn ngôi kể. Lựa chọn
như thế nào là do dụng ý của nhà văn nhằm nổi bật tư tưởng, chủ đề tác phẩm và tái
tạo hiện thực đời sống chân thực và khách quan nhất. “Báu vật của đời”- cuốn tiểu
thuyết mà Mạc Ngôn cho là nặng nề nhất của mình sử dụng hai kiểu người kể
chuyện chính là người kể chuyện từ ngôi thứ ba và người kể chuyện từ ngôi thứ
nhất. Với Mạc Ngôn- một hiện tượng của văn học Trung Quốc đương đại đang “làm
cho các nhà phê bình phát hoảng” thì sử dụng ngôi kể truyền thống nhưng vẫn phô
diễn được nét độc đáo trong kĩ thuật viết tân kỳ của mình thông qua hình tượng
người kể chuyện.
của Thượng Quan Lỗ Thị và điểm nhìn của Lai Đệ để kể. Do sử dụng các điểm nhìn
khác nhau, mức độ chiếm lĩnh hiện thực và giọng điệu khác biệt đã tổ chức nên
những mảng khác nhau cho bức tranh hiện thực ở chương 1.
Người kể chuyện hàm ẩn sử dụng điểm nhìn của chính mình để tái hiện lại
hiện thực. Người kể chuyện này đóng vai trò là người quan sát, đứng ở bên ngoài
thế giới hiện thực trong truyện, kể lại những gì mà mình quan sát và cảm nhận được
bằng giọng điệu khách quan, trung tính. Người kể chuyện này đã kể lại sự kiện chị
Lỗ sinh con và quân Nhật tràn vào thôn.
Chị Lỗ sinh con trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: quân Nhật sắp tràn vào
thôn. Cùng ngày chị Lỗ trở dạ, con lừa nhà Thượng Quan cũng sắp đẻ con so. Cả
hai đều trong trường hợp đẻ khó. Nhưng thái độ của gia đình Thượng Quan thì lại
trái ngược nhau. Chị Lỗ phải một mình vật lộn trong lần vượt cạn. Chiếc giường đất
do mẹ chồng chuẩn bị đã trở thành bùn nhão trộn bằng máu. Những cơn đau xé ruột
khiến chị có lúc phải thét lên kinh hoàng, có lúc lại ngất đi tưởng đã chạm ngõ thần
chết. Trong khi đó, cả nhà Thượng Quan: mẹ chồng, bố chồng, chồng lại dành hết
sự quan tâm săn sóc cho con lừa sắp đẻ con so. Hai cha con Thượng Quan xoa bóp,
nắn bụng cho con lừa. Bà Lã vuốt ve, an ủi nó. Và khi thấy tình hình nguy cấp, bà
Lã quyết định đi mời Ba Phàn- thú y kiêm bà mụ của súc vật về đỡ đẻ cho con lừa.
Người kể chuyện đặt hai sự việc song song nhau thuật lại khách quan, lạnh lùng như
nó vốn có. Từ hiện thực được tái tạo, người đọc tự cảm nhận về thân phận rẻ rúng
15
của người phụ nữ Trung Quốc đặc biệt là khi họ không sinh được con trai để nối dõi
tông đường, sự lạnh lùng trong tình cảm giữa người với người.
Việc quân Nhật tràn vào thôn đánh dấu bằng sự việc bất thường đầu tiên là
nhà Phúc Sinh Đường chạy giặc, Tư Mã Đình đứng trên đài quan sát không ngừng
thông báo tình hình về bước tiến của quân Nhật, kêu gọi người dân trong thôn chạy
giặc. Tâm trạng lo sợ bao trùm trong thôn, gia đình Thượng Quan mắc kẹp giữa một
bên là sức ép của không khí khẩn trương thúc ép của buổi chạy giặc, một bên là cô
con dâu và con lừa đang cùng trở dạ. Cha con Thượng Quan sợ hãi, còn bà Lã bình
cuộc đã bổ khuyết để khắc sâu ấn tượng chủ quan vào trong điểm nhìn khách quan
của câu chuyện. Rất nhiều động từ “cảm thấy”, “nghe thấy”, “nhìn thấy”, “trông
thấy”, “nhớ lại”, “ngửi thấy”… của chủ thể Lỗ Thị đã được sử dụng nhằm khu biệt
cảm nhận của chị với đối tượng khác. Tâm trạng của người phụ nữ khi trở dạ với
phức hợp những niềm vui, nỗi buồn, đau đớn, hi vọng, tuyệt vọng đã lần lượt hiện
lên trong tâm trí người đọc.
Để độc giả trực tiếp cảm nhận hơi thở lạnh giá của chiến tranh, nhà văn sử
dụng điểm nhìn của Lai Đệ. Lai Đệ là cô con gái của nhà Thượng Quan, 18 tuổi.
Cuộc sống của cô diễn ra khá bình lặng trong khuôn khổ của gia đình Thượng
Quan, chưa trải qua những sóng gió, va vấp. Lai Đệ đưa các em ra ngoài đê sông
Thuồng Luồng bắt tôm, chứng kiến trận đánh giữa quân Nhật với đội Hỏa Mai Lừa
Đen của Sa Nguyệt Lượng. Không gian rợn ngợp với cảnh tượng hãi hùng đượm
mùi chết chóc đã rót vào tâm hồn cô gái trẻ Lai Đệ ấn tượng ghê rợn. Cô “trông
thấy một nắm cỏ nước nhão nhoét như ợ ra từ miệng trâu bám trên người Niệm Đệ”
[34;38], “trông thấy một vật đen sì từ trên trời rơi xuống”[34;39], “trông thấy những
cẳng ngựa chín tái, đầu người lăn lông lốc”[34;46], “ngửi thấy mùi thuốc súng
nồng nặc”, “cảm giác đau rát từ trong tai chui ra”, “cảm thấy lồng ngực như sắp nổ
tung bất cứ lúc nào”[34;46]. Đó là hàng loạt những cảm nhận của Lai Đệ về chiến
tranh.
Trong các đoạn thuộc chương 5, 6, 7 và phần viết thêm, người kể chuyện
hàm ẩn đã sử dụng điểm nhìn của Kim Đồng để kể. Những mối quan hệ: mẹ, chị cả,
chị Tư, chị Bảy, chị Năm, Tư Mã Lương… là được nhìn từ Kim Đồng, trong mối
17
quan hệ với Kim Đồng. Kim Đồng có những suy nghĩ, cảm nhận, hành động, quan
sát trước hiện thực cuộc sống trong “Báu vật của đời”. Anh là nhân vật hành động,
là chủ thể của hành động được kể lại, là chủ ngữ trong câu, thuộc về hiện thực được
nói đến. Người kể chuyện đã ẩn đi, đứng đằng sau nhân vật và các sự kiện để kể
bằng cách đẩy nhân vật ra trước độc giả. Vì thế trước mắt độc giả không thấy người
nói, chỉ thấy hiện thực được trình bày. Có một người nào đó nữa đang quan sát Kim
của mối quan hệ Lai Đệ- Hàn Chim.
Cuộc sống làm công nhân nông trường đặc biệt là trong mối quan hệ với trại
trưởng Long đã để lại trong Kim Đồng những ấn tượng chủ quan sâu sắc. Ở bên
cạnh Long Thanh Bình, Kim Đồng chỉ nhận thấy chất anh hùng mà không nhận ra
vẻ đẹp nữ tính ở chị. Thậm chí, anh còn “trông thấy mặt chị ta dài ra, từ giữa cặp
mông mọc ra một cái đuôi dài như chiếc chổi” [34;516]. Do vậy, Long Thanh Bình
có cầu xin, đe dọa vẫn không thể đánh thức người đàn ông trong Kim Đồng. Nhưng
chính vào giây phút Long Thanh Bình tuyệt vọng tự sát, Kim Đồng mới nhận ra tư
thế hấp dẫn của người đàn bà. Anh đã thỏa mãn khát khao làm phụ nữ của chị trước
khi cơ thể chị mất hết cảm giác. Do kích động nhất thời anh đã giao hợp với cái xác
Long Thanh Bình, sau đó anh rơi vào trạng thái hối hận sâu sắc. Hình ảnh lõa thể
Long Thanh Bình trở thành ác mộng ám ảnh Kim Đồng. Kim Đồng gặp rắc rối
trong vụ điều tra về cái chết của trại trưởng Long. Anh đã trải qua những cảm giác
lo âu, hối hận, sợ hãi của người mang mặc cảm có tội nhưng cuối cùng may mắn
thoát tội nhờ trận lũ đã xóa sạch dấu vết.
Và cũng như bao người khác trong thời bấy giờ, Kim Đồng cũng phải chịu
sự hành hạ của cái đói trong những năm 60. Kim Đồng cũng chứng kiến cái đói đã
hành hạ thể xác và hủy hoại nhân cách những người xung quanh đặc biệt là những
người thân yêu nhất. Cô giáo Hoắc Lệ Na xuất thân quyền quý, từng du học nước
ngoài hay Kiều Kỳ Sa- hoa khôi của Học viện Y khoa vì miếng ăn mà phải thất thân
trước tên cấp dưỡng Trương Rỗ. Ban đầu cậu kiên quyết không tin nhưng khi Kim
Đồng đã mục kích câu chuyện Kiều Kỳ Sa đuổi theo chiếc bánh với bản năng của
động vật mặc cho Trương Rỗ muốn làm gì ở phần dưới cơ thể mình thì làm thì Kim
Đồng buộc phải chấp nhận sự thật cay đắng. Trong khi đó ở nhà Kim Đồng, để cứu
19
cả gia đình khỏi cái đói, mẹ anh đã trở thành kẻ trộm lương thực- một kẻ trộm siêu
hạng. Mẹ nuốt lương thực vào bụng về nhà nôn ra. Nhờ những hạt lương thực quý
báu trộn lẫn dịch vị dạ dày, máu của mẹ mà cả gia đình Thượng Quan đã vượt qua
những năm đói khát ấy. Hôm đầu tiên trở về nhà, Kim Đồng đã tận mắt thấy rõ cách
trở nên hết sức lạ lẫm dưới cái nhìn của Kim Đồng. Và để lại những cảm giác bàng
hoàng trong anh. Đó là cảm giác của người bị tụt hậu, một kẻ cô đơn lạc lõng và
mang tâm lý tự ti về ngoại hình khác biệt.
Trong con mắt của mọi người, Kim Đồng là người đàn ông của “Vua phế
liệu”- Kim Một Vú nhưng có ai biết rằng khi đến tìm mụ Kim trước ánh mắt đổ dồn
của mọi người “Kim Đồng cảm thấy ngứa ran như bị rắc trấu”[34;590], bối rối
không biết nên chọn dáng đi như thế nào? Và cũng chỉ anh mới biết niềm si mê bầu
vú duy nhất của mụ Kim đã thôi thúc anh đi tìm Kim Một Vú và buộc anh vào bên
mụ.
Được Cảnh Liên Liên mời về làm giám đốc Maketting “Trung tâm nuôi chim
phương Đông” được đối xử tốt, Kim Đồng cũng băn khoăn tự hỏi “không biết cô
gái thông minh và năng động này sẽ dùng anh vào việc gì”[34;613]. Không lợi dụng
được mối quan hệ thầy trò giữa Kim Đồng và Kỷ Quỳnh Chi, Kim Đồng bị Cảnh
Liên Liên đuổi việc. Nhưng anh đã tự xỉ vả, tự trách mình bất tài và nuôi ý nghĩ xin
lỗi Cảnh Liên Liên.
Sai lầm tiếp theo của Kim Đồng bắt đầu từ sự mủi lòng, từ niềm cảm thông
với người đàn bà góa đứng dầm mưa trong đêm tối đã khiến anh “cảm thấy không
còn lý do để mình không mở cửa”[34;670]. Anh hoài nghi về cái bẫy cha con Uông
Ngân Chi đã sắp đặt để dụ anh vào. Việc kinh doanh cửa hiệu nịt vú được giao cho
Uông Ngân Chi, Kim Đồng trở thành người thừa, sống trong tâm trạng bức bối. Và
cũng chỉ đơn giản nghĩ rằng “khóc có thể không bị đánh” nên anh đã quỳ trước mặt
người nhà Uông Ngân Chi. Bị đuổi ra khỏi nhà, Kim Đồng lang thang trong đêm
dưới trời mưa. Anh miên man nghĩ về Uông Ngân Chi, nghĩ về sự đổi thay của lòng
người và hối hận khi đã nổi giận với vợ.
21
Nhà văn cũng đã sử dụng điểm nhìn Kim Đồng kể về một số thành viên nhà
Thượng Quan. Sa Tảo Hoa vì không nhận được tình cảm của Tư Mã Lương đã nhảy
lầu tự sát. Tư Mã Lương phá sản, bỏ đi không rõ tung tích. Lỗ Thắng Lợi bị tử hình
vì nhận hối lộ. Bà Lỗ qua đời. Kim Đồng chôn mẹ ở một vạt đầm lầy. Đêm nằm
thuần kể diễn tiến của chuyện mà còn đẩy nhân vật ra trước mắt độc giả với những
suy nghĩ, cảm nhận riêng của chính nhân vật. Người kể chuyện dễ thâm nhập vào
đời sống nội tâm nhân vật, hòa vào các mối quan hệ gia đình, hòa vào lịch sử Đông
Bắc Cao Mật.
1.1.2.2. Người kể chuyện hiển ngôn
M. Jahn cho rằng: Trần thuật ngôi thứ nhất được kể bởi một người kể chuyện
hiện diện trong tác phẩm với tư cách là một nhân vật; đó là một câu chuyện về
những sự kiện mà bản thân nhân vật ấy trải nghiệm, một câu chuyện về sự trải
nghiệm của cá nhân. Cá nhân hành động như là một người kể chuyện (cái “tôi” kể
chuyện), hoặc là một nhân vật (cái “tôi” trải nghiệm) ở cấp độ hành động. Trong
trần thuật ngôi thứ nhất, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vừa chỉ người kể chuyện
(cái “tôi” kể chuyện hoặc người tự kể chuyện) hoặc một nhân vật trong câu chuyện
(cái “tôi” trong câu chuyện). Nếu người kể chuyện là nhân vật chính thì đó là cái
“tôi”- chứng nhân.
Xét về điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ nhất thì câu chuyện được kể xuất phát
từ nhận thức về cái “tôi” kể chuyện (quan điểm diễn ngôn điển hình: Tôi từng biết
khi đó tôi biết gì) hoặc từ cấp độ giản đơn và giới hạn trong sự hiểu biết của cái
“tôi” trải nghiệm (người quan sát bên trong). Về mặt nhận thức luận, những người
kể chuyện ngôi thứ nhất bị giới hạn bởi những giới hạn con người: họ không thể ở
hai nơi cùng một lúc, không biết điều gì trong tương lai sẽ xảy ra, trong hoàn cảnh
bình thường họ không thể kể về cái chết của chính mình và họ có thể không bao giờ
biết chắc chắn những nhân vật khác nghĩ hoặc tưởng tượng những gì.
Người kể chuyện hiển ngôn lộ diện trực tiếp với đại từ nhân xưng “tôi” dưới
hai dạng: Người kể câu chuyện với tư cách là người quan sát, người làm chứng;
Nhân vật ở trong hành động kể lại câu chuyện của mình.
23
Người kể chuyện hiển ngôn trong tiểu thuyết “Báu vật của đời” là Thượng
Quan Kim Đồng. Khi mới lọt lòng mẹ vừa cất tiếng khóc chào đời, xuất hiện trực
tiếp ở đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, Kim Đồng đã được trao trọng trách kể
sức mạnh làm đổi thay những cung bậc cảm xúc, làm thay đổi số phận, suốt đời anh
treo tư tưởng trên bầu vú mà lênh phênh đây đó. Ngay khi mới lọt lòng, anh đã độc
chiếm bầu vú mẹ với người chị song sinh. Kim Đồng căm giận Tư Mã Lương, Sa
Tảo Hoa khi chúng ăn chia sữa mẹ với anh. Anh phản đối mẹ cải giá với Tư Mã
Đình vì sợ Tư Mã Đình cướp mất bầu vú mẹ. Khi phải cai sữa, phải xa rời bầu vú
mẹ, Kim Đồng tuyệt vọng tìm đến cái chết. Trong trận ốm thập tử nhất sinh, chiếc
vú duy nhất của Kim Một Vú đã trở thành phương thuốc thần diệu đưa Kim Đồng
từ cõi chết trở về. Nỗi ám ảnh, niềm si mê bầu vú độc nhất ấy đã trở thành động lực
đưa Kim Đồng đi tìm Kim Một Vú. Bầu vú đã đưa thành công đến với Kim Đồng,
đưa anh trở thành chuyên gia nịt vú, xây dựng thương hiệu nịt vú nổi tiếng “Thú
một sừng”. Có thể nói, bầu vú là nguồn sống của Kim Đồng. Vì thế anh yêu thương,
nâng niu và tôn thờ bầu vú. Nhưng Kim Đồng cũng phải trả giá vì niềm si mê bầu
vú quá mức. Vì nó mà anh phải bó buộc với người đàn bà toan tính Uông Ngân Chi
và từ đây bắt đầu cuộc sống bi thảm và cuối cùng anh phải quay trở về với con số
không.
Người kể chuyện Thượng Quan Kim Đồng cũng là người thấu suốt cuộc đời,
tình cảm của các thành viên trong gia đình. Các chị gái xinh đẹp và mạnh mẽ của
Kim Đồng có người lấy được những người chồng thuộc hàng kỳ lân phượng hoàng,
vua biết mặt chúa biết tên, có người bán thân làm điếm để cứu gia đình, người bị
bán làm con nuôi, người thay tên đổi họ để thăng quan tiến chức. Cùng với số phận
ba chìm bảy nổi của họ là sự lên voi xuống chó của nhà Thượng Quan. Kết cuộc,
các chị đều chết một cách thê thảm. Đặc biệt đối với người mẹ, bằng tình cảm
thiêng liêng của tình mẫu tử, Kim Đồng luôn hiểu hết những gì thẳm sâu trong lòng
mẹ: “Bề ngoài mẹ tỏ ra bình tĩnh nhưng qua mùi vị của sữa, tôi biết trong lòng mẹ
đang nổi gió” [34;118]. “Chúng tôi chạy về nhà, dọc đường tim mẹ giật thót vô
cùng lo lắng” [34;9].
25
Bằng điểm nhìn toàn tri, Kim Đồng không bị giới hạn bởi những giới hạn
của con người. Anh kể về những sự việc mình trải qua, mình chứng kiến mà còn kể
thực của tác phẩm. Theo Manfred Jahn, các vai được lồng ghép vào các tầng bậc kể
chuyện sẽ thể hiện nhiều chức năng khác nhau: thống hợp hành động, trình bày, sao
nhãng, loại suy.
Trong “Báu vật của đời”, Thượng Quan Lỗ Thị, Hàn Chim, Bà Quách là
những người kể chuyện bậc hai nằm trong nghệ thuật kể chuyện của Mạc Ngôn với
các chức năng: thống nhất hành động, trình bày, loại suy.
Thượng Quan Lỗ Thị kể về lịch sử hình thành Đông Bắc Cao Mật từ thời
Hàm Phong nhà Thanh, người đầu tiên đến khai hoang là Tư Mã Răng To, cụ tổ của
Tư Mã Khố và Tư Mã Đình; kể về lịch sử di dân đến quê hương Đông Bắc Cao
Mật, kể về ông thợ rèn- cụ tổ nhà Thượng Quan, kể về lịch sử Nghĩa Hòa Quyền
khuấy đảo miền đông bắc, kể về trận ác chiến cười nôn ruột ở Bãi Cát Dài ở phía
tây thôn giữa một bên là Tư Mã Răng To và Thượng Quan Đẩu với một bên là
người Đức. Thượng Quan Lỗ Thị trở thành người kể chuyện bậc hai trong nghệ
thuật kể chuyện của Mạc Ngôn có chức năng trình bày. Thượng Quan Lỗ Thị đã
cung cấp thông tin về những sự kiện nằm ngoài tuyến hành động chủ yếu của truyện
mà đặc biệt là những sự kiện xảy ra trong quá khứ.
Hàn Chim là người kể chuyện có chức năng “thống hợp hành động”. Hàn
Chim cung cấp một thành phần quan trọng của cốt truyện của trần thuật ma trận.
Anh mở rộng biên độ không gian tác phẩm bằng câu chuyện anh lưu lạc trong rừng
rậm Hockaido của Nhật Bản. Trong suốt mười lăm năm trời, Hàn Chim từng trải
qua những tháng năm đằng đẵng cô độc, lẻ loi một mình chống chịu với cái đói, cái
rét, sự khủng hoảng tinh thần, nỗi thèm khát được nhìn thấy con người, được nghe
tiếng người và mong ước trở lại quê hương. Việc lồng ghép Hàn Chim vào trong
nghệ thuật kể chuyện là một cách tối ưu để tăng thêm độ xác thực cho câu chuyện.
Bà Quách trong “Báu vật của đời” là người kể chuyện bậc hai thực hiện
chức năng loại suy. Câu chuyện của bà có tác dụng chứng thực lại, phủ nhận thông
tin ban đầu mà người kể chuyện bậc trên đưa ra. Bà Quách kể về Hoàn Hương Đoàn
chôn sống người dân. Câu chuyện của bà đã phủ nhận thông tin ban đầu về Tư Mã