LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU TIỂU THUYẾT “BÁU VẬT
CỦA ĐỜI” CỦA MẠC NGÔN
NGUYỄN TRUNG NAM
LỚP ĐH6C2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU TIỂU THUYẾT “BÁU VẬT CỦA ĐỜI” CỦA MẠC NGÔN Giảng viên hướng dẫn
Ths. PHÙNG HOÀI
NGỌC
LONG XUYÊN, 05/2009
tài………………………………………………………………………………
…… 3
6. Phương pháp nghiên
cứu……………………………………………………………………………
…. 3
7. Dàn ý của khoá
luận……………………………………………………………………………
……… 4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Nhân vật trong tác phẩm văn
học…………………………………………………………………… 6
2. Quan niệm nghệ thuật về con người – phạm trù trung tâm của
thi pháp học hiện
đại……………………………………………………………………………
………. 7
CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC
VÀ NHÀ VĂN MẠC NGÔN
1. Tiểu thuyết Trung
Quốc……………………………………………………………………………
… 8
1.1. Tiểu thuyết Trung Quốc cổ
điển……………………………………………………………. 8
1.2. Tiểu thuyết trung Quốc thời kì đổi
mới…………………………………………………. 8
1. 2. Nhà văn Mạc Ngôn
…………………………………………………………………………………
……. 12
CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU TIỂU THUYẾT “BÁU VẬT CỦA ĐỜI”
1………………………………………………………………………………
………………………… 59
PHỤ LỤC
2………………………………………………………………………………
………………………… 63
PHỤ LỤC
3………………………………………………………………………………
………………………… 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO………………………………………………………………… 75
PHẦN MỞ ĐẦU
ó
1. Lý do chọn đề tài
Nền văn học Trung Quốc đương đại có những thành tựu rực rỡ với sự xuất
hiện của một loạt tác giả nổi tiếng: Giả Bình Ao, Vệ Tuệ, Mạc Ngôn, Tào
Đình, Lưu Quốc Phương, Ngô Huyền,… Với nhận thức mới về thời đại,
những tác giả Trung Quốc đương đại đã đưa hiện thực. Cuộc sống xã hội vào
trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên và chân thật, họ đã đưa văn học
về đúng với chức năng cơ bản của nó, tức là phản ánh số phận con người.
Tiểu thuyết “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn là một tác phẩm thể
hiện rõ nét quan điểm sáng tác ấy.
“Báu vật của đời” đã khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi tráng
của đất nước Trung Hoa thông qua các thế hệ trong gia đình Thượng Quan.
Gia đình Thượng Quan là một hình ảnh thu nhỏ của đất nước Trung Quốc
qua các thời kì lịch sử. (Phạm Xuân Nguyên, tanvien.net)
Đọc “Báu vật của đời” chúng ta thấy được một xã hội trần trụi được Mạc
sáng tỏ tư tưởng của nhà văn.
- Tìm hiểu một kết cấu độc đáo vừa hiện đại vừa
truyền thống.
- Phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu văn học
Trung Quốc, đặc biệt là văn học Trung Quốc đương đại trong nhà trường và
công tác giảng dạy sau này.
3. Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn là một bộ tiểu thuyết đương
đại đang tạo được sức hút mạnh mẽ đối với độc giả và giới nghiên cứu bởi
tính hiện thực và những nét nghệ thuật đặc sắc của nó. Nhưng vì là một tác
phẩm đương đại nên số lượng những bài nghiên cứu về “Báu vật của đời”
tương đối ít ỏi. Đồng thời những bài nghiên cứu ấy cũng chỉ tiếp cận sơ lược
tác phẩm dưới góc độ xã hội hoặc xoay quanh các yếu tố lịch sử, chính trị…
mà chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng
nhân vật và tìm hiểu kết cấu trong “Báu vật của đời”.
3.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nhật và Đức đã đứng dưới góc độ xã hội
hoặc dựa trên các yếu tố chính trị, lịch sử… để đánh giá về nội dung và nghệ
thuật của “Báu vật của đời”. Từ quan điểm xuất phát đó, họ chỉ ra những
điểm tiến bộ và hạn chế của nhà văn. Có thể chia thành hai nhóm quan điểm
như sau:
Thứ nhất, nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc đứng trên phương diện
chính trị đã lên tiếng bài trừ “Báu vật của đời” ngay khi tác phẩm này được
xuất bản tại Trung Quốc (Tác gia xuất bản xã, 9/1995) với lí do tác phẩm đã
vi phạm vào “vùng cấm” của văn học (Mạc Ngôn và những lời tự bạch,
2004). Thứ hai, nhóm các nhà văn nghiên cứu dưới góc độ xã hội để tìm ra
những nét độc đáo trong “Báu vật của đời”. Trong các bài viết này, họ đã chỉ
ra những sự sáng tạo trong việc tạo ra một thủ pháp “lạ hoá” độc đáo, sáng
tạo những huyền thoại mới bên cạnh những huyền thoại cổ xưa (Trương
Thành, Chu Ân, Ta-chi-gang). Có người lại tìm sự ảnh hưởng của văn học
Đối tượng nghiên cứu chính là bộ tiểu thuyết “Báu vật của đời” của nhà văn
Mạc Ngôn, trong đó đi sâu vào các hình tượng nhân vật nổi bật và kết cấu
của tiểu thuyết.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chưa có điều kiện nghiên
cứu toàn bộ những đặc điểm của một tiểu thuyết. Cũng như chưa có điều kiện
tìm hiểu nguyên tác do hạn chế về mặt ngôn ngữ. Đề tài của chúng tôi chủ
yếu dựa trên bản dịch của dịch giả Trần Đình Hiến do Nhà xuất bản Văn
nghệ Hà Nội ấn hành năm 2001 có độ dài 860 trang.
5. Đóng góp của đề tài
Đến với đề tài này, chúng tôi muốn bước đầu nghiên cứu các hình tượng
nhân vật và tìm hiểu nét đặc sắc của kết cấu, từ đó thấy được tài năng độc
đáo của nhà văn Mạc Ngôn.
Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho người đọc nói chung và người làm khóa
luận nói riêng có được cái nhìn đúng đắn, sâu sắc và toàn diện hơn về nội
dung tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Mạc Ngôn.
Ở một phạm vi nhất định, đề tài hi vọng sẽ cung cấp một số tài liệu tham
khảo cho những ai yêu thích tác phẩm này, phục vụ cho việc học tập, giảng
dạy và nghiên cứu “Báu vật của đời” nói riêng, văn học Trung Quốc đương
đại nói chung.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp hệ thống
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tuyển chọn các loại hình tượng nhân vật
người trong tác phẩm và đồng thời tìm hiểu kết cấu cực hiện đại của “Báu vật
của đời”. Do đó, để việc nghiên cứu được thuận lợi, chúng tôi đã chọn
phương pháp hệ thống. Phương pháp này giúp chúng tôi hiểu bao quát tác
phẩm để thấy được sự gắn kết của các hình tượng, đồng thời thấy được đặc
điểm nổi bật và mối liên hệ của các nhân vật và kết cấu của tiểu thuyết.
6.2. Phương pháp liệt kê
Chúng tôi tiến hành liệt kê, ghi lại những dẫn chứng cần thiết trong các bản
đau thương
1. Hình tượng những cô gái biết mơ ước, khao khát sống và hành động
2. Hình tượng đám con rể gia đình Thượng Quan – những quyền lực chi phối
vùng Cao Mật
3.1. Kháng chiến chống Nhật, nội chiến và những lực lượng chính trị
trong buổi bình minh thời đại
3.1.1. Sa Nguyệt Lượng, từ du kích đến Hán gian
3.1.2. Tư Mã Khố và Lỗ Lập Nhân, hai thế lực đại diện cho cuộc nội chiến
3.2. Đất nước trong thời đại mới, những thế lực mới và sự thác loạn
1. Một kết cấu độc đáo được xây dựng thông qua đôi mắt của Kim Đồng
TỔNG KẾT PHẦN NỘI DUNG
ó
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
“Nhân vật văn học” là một thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người,
một trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người trong nghệ thuật ngôn
từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài
cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con
người.
Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không
thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật
với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật… Nhân vật văn học là sự thể
hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây
dựng chỉ dựa trên quan niệm ấy. Ý nghĩa của nhân vật văn học chủ có được
trong hệ thống một tác phẩm cụ thể.
TRÙ TRUNG TÂM CỦA THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI
Con người trong tác phẩm văn học là con người được thể hiện trong tác phẩm
bằng phương tiện văn học. Một nhà văn không thể miêu tả hiện thực nếu
không thông qua hình tượng nghệ thuật và không có quan niệm nghệ thuật
của mình về con người. Theo GS. Trần Đình Sử trong giáo trình “Dẫn luận
thi pháp học” (NXB Giáo dục 1998) thì “Quan niệm nghệ thuật về con người
là nguyên tắc lí giải, cảm thụ và miêu tả con người trong nghệ thuật”. Quan
niệm nghệ thuật là cách cắt nghĩa, lí giải về con người trên cơ sở hấp thu các
yếu tố thế giới quan nhất định của thời đại, tạo ra một quan niệm của mình về
thế giới và con người.
Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Con
người là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, miêu
tả đồ vật, hoặc giản đơn là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con
người. Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người nếu như không
hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định. Mặt thứ hai
này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn
học.
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy
con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể
hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các
hình tượng nhân vật trong đó.
Quan niệm nghệ thuật về con người hướng cho người ta cách cảm thụ
và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và
miêu tả con người trong văn học và các nguyên tắc đó có cơ sở sâu xa trong
thực tế lịch sử, nó là một sản phẩm của lịch sử và cũng đồng thời là sản phẩm
của văn hóa, tư tưởng và quan niệm nghệ thuật về con người, cũng mang dấu
ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ.
Trong các thể loại văn học khác nhau, do chức năng và hệ thống
phương tiện biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật cũng có sự khác
nhau.
CHƯƠNG 2
VÀI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC
VÀ NHÀ VĂN MẠC NGÔN
1. 1. TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC
1.1. TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC CỔ ĐIỂN
Mầm mống tiểu thuyết ở Trung Quốc xuất hiện rất sớm, vào đời Ngụy Tấn
(thế kỉ thứ III – IV) dưới dạng “chí quái” – chuyện ghi chép lại những việc
quái dị hoặc những việc thuộc sinh hoạt cá nhân của các danh sĩ, ở ngoài giới
hạn kinh sử. Đến đời Đường, giai cấp phân hóa, đối lập sâu sắc, lại thêm
thành thị phát triển, tạo cơ sở cho loại văn học ngoài kinh sử phát triển. Cũng
như ở phương Tây, tiểu thuyết “truyền kì” đời Đường thể hiện những nhu cầu
của đời sống cá nhân, phê phán các thói tục xấu xa hoặc sự bất bình đẳng xã
hội, khẳng định các phẩm chất tính cách cá nhân cao đẹp. Tiểu thuyết “thoại
bản” đời Tống (thế kỉ X – XIII) tiếp tục thể hiện vấn đề số phận và phẩm chất
cá nhân trong đời sống.
Những truyện “giảng sử”, “giảng kinh” đời Tống, Nguyên – tức truyện kể
từng đêm theo sự tích lịch sử hoặc kinh truyện – đến đời Minh được liên kết,
xâu chuỗi thành các tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc chí diễn
nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa
Ân. Nhu cầu khẳng định nhà Hán chính thống trong Tam quốc chí diễn
nghĩa, đề cao lí tưởng “thay trời hành đạo”, diệt trừ yêu ma trong Thủy
hử, Tây du kí làm cho các tiểu thuyết đậm chất sử thi anh hùng. Sang đời
Thanh, xã hội trở nên thối nát, xuất hiện những tiểu thuyết xuất sắc kể về đời
tư và đạo đức thế sự như Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, Chuyện làng
Nho của Ngô Kính Tử.
Tiểu thuyết Minh – Thanh là thành tựu rực rỡ nhất của tiểu thuyết cổ điển
Trung Quốc, nó góp phần tạo một nền móng vững chắc về cả hình thức lẫn
nghệ thuật cho lớp hậu bối sau này đạt được nhiều kết quả to lớn lớn góp
phần vào kho văn học đồ sộ của Trung Quốc.
1.2. TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC THỜI KÌ ĐỔI MỚI
mạng thì coi trọng việc bộc lộ hoàn cảnh, phản ánh sự thay đổi, cuộc sống
rộng lớn, đặc trưng bàn chất của thời đại và sự phát triển lịch sử. Thể hiện sự
phát triển và bộ mặt thời đại của thời kì cách mạng dân chủ cũ Trung Quốc từ
cách mạng Tân Hợi đến trước cuộc chiến tranh Bắc phạt, miêu tả sinh hoạt xã
hội rộng lớn của thời đại đó: cuộc chiến tranh quân phiệt gay gắt; sự gian khổ
của phần tử nhân sĩ trí thức; sự tha hóa của con người trong thời đại mới;
những góc khuất của lịch sử cùng với sự chìm nổi của thân phận nhỏ bé.
- Sự xuất hiện tác phẩm văn học có tính “sử truyện” tương đối nhiều:
Tiểu thuyết có tính “sử truyện” là một thành tựu quan trọng của sáng tác tiểu
thuyết thời cổ đại. Trong tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm”, loại tác
phẩm này rất ít. Trong thời kì mới, sự “đứt đoạn” của “dòng chảy” này lại
được tiếp tục và càng “chảy” mạnh hơn. Chỉ mấy năm ngắn ngủi, tác phẩm
mang tính “sử truyện” xuất hiện không ít. Những tác phẩm này không những
tái hiện lại bộ mặt tinh thần của một số nhân vật mà còn lưu lại rất nhiều sử
liệu có liên quan đến những mặt chính trị, quân sự và văn hóa của thời đại
đó.Sự đột phá của tiểu thuyết lịch sử đã dành được thu hoạch to lớn mà văn
học thời kì mới đã đem đến cho độc giả.
Trong tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm” ngay cả thời “Ngũ tứ”, tiểu
thuyết lịch sử của Trung Quốc là vùng trống vắng trong sáng tác văn học
Trung Quốc. Nguyên nhân này chủ yếu là do sự can thiệp của tư trào “tả”
làm cho đề tài lịch sử trở thành “vùng cấm” không có ai dám vi phạm. Trong
văn học thời kì mới tình hình này có sự đổi khác. “Vùng cấm” được xóa bỏ,
không còn ranh giới, không còn cấm kị, phân biệt. Tiểu thuyết lịch sử đã dám
đột phá vào thể loại này, viết nên nhiều tác phẩm mang nhiều tính sử thi, “sử
truyện” được độc giả đón nhận nồng nhiệt.
Tiểu thuyết mang tính sử truyện trong thời kì mới có mấy đặc điểm sau đây:
+ Phản ánh đời sống lịch sử rộng lớn mà sâu sắc.
Có thể nói, những tác phẩm này đã phản ánh lịch sử lâu dài cuộc sống xã hội
phức tạp và phong phú của xã hội phong kiến Trung Quốc, đến cuộc cách
mạng Tân Hợi và kéo dài đến cả những năm Trung Quốc bước vào cải cách
đề mới và quan trọng hơn là sự lí giải, nắm vững, đề xuất và biểu hiện của tác
giả đối với cuộc sống cũng là mới. loại tác phẩm này mang đến dòng máu
mới để mọi người đi vào thời kì mới.
Qua sự trình bày có thể rút ra những thành tích đáng chú ý của tiểu thuyết
thời kì mới:
- Trước hết, nhiều tác phẩm đã duy trì, ủng hộ và phát huy một số truyền
thống ưu tú của sáng tác tiểu thuyết truyền thống. Từ trong dòng chảy mạnh
mẻ của đời sống, các tác giả đã chọn lựa chủ đề và đề tài có liên quan mật
thiết đến vận mệnh của nhân dân và tình hình của đất nước. Về mặt nghệ
thuật, nhiều tác giả đã thể hiện nhiều hình thức thể hiện mới, tỏ rõ phong
cách, phong thái của người sáng tác văn học, làm cho mọi người phấn khởi
sáng tạo ra cái mới, nhất là việc sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật mới. Nhân
vật anh hùng mới được xây dựng đep đẽ, sáng tạo và có sức thuyết phục cao.
Đề tài của tiểu thuyết thời kì mới tương đối rộng lớn, bao quát có tính khái
quát cao. Trong thời kì mới, tầm nhìn của các nhà văn được mở rộng và được
giải phóng. Họ một mặt vẫn không từ bỏ việc miêu tả cuộc đấu tranh của giai
đoạn cách mạng, mặt khác họ đem tầm nhìn đó đặt vào đời sống với giá trị
thẩm mĩ mới.
Tiểu thuyết của thời kì mới về mặt phương pháp nghệ thuật cũng dần dần
có sự cách tân sáng tạo. Tiết tấu trần thuật, kể chuyện được tăng nhanh; phê
phán, trần thuật cũng dần dần đa dạng hóa. Về mặt kết cấu, các nhà văn sử
dụng phương pháp “từ đầu, nối đầu, nối tới”, đồng thời xuất hiện phương
pháp kết cấu nhiều kiểu, nhiều dạng độc đáo. Về khắc họa tính cách nhân vật,
các tác giả đã sử dụng đặc trưng tính cách từ hành động đặc trưng đơn nhất
dần dần đi sâu vào miêu tả thế giới nhân vật làm cho thủ pháp miêu tả phong
phú, mới mẻ, gây sự hấp dẫn cho người đọc. (PSG.TS Hồ Sĩ Hiệp, 2003)
1. 2. NHÀ VĂN MẠC NGÔN
Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, người vùng Cao Mật, tỉnh Sơn
Đông, Trung Quốc. Ông sinh ngày 17 tháng 02 năm 1955, xuất thân trong
một gia đình nông dân. Do “Cách mạng Văn hóa”, ông phải nghỉ học khi
truyện là vùng Cao Mật, Trung Quốc.
Có nhiều con đường để cảm thụ tác phẩm văn chương, vì vậy trước một
“hiện tượng văn học” xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau cũng là điều bình
thường làm phong phú thêm đời sống văn học. Báu vật của đời của Mạc
Ngôn, một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của văn học
Trung Quốc hiện đại.
Trong nền văn học đương đại Trung Quốc, Mạc Ngôn cùng với Vương
Mông, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Phùng Ký Tài, Lục Văn Phu,
Trương Tử Long, Cao Hiểu Thanh, Hàn Thiếu Công… đã trở thành nhà văn
có tên tuổi được bạn đọc trong và ngoài nước biết đến.
Đề tài truyện của ông rất rộng. Phản ánh sinh hoạt của quân đội thời hiện đại
có Bãi cát đen, Đoạn Thủ,…; miêu tả phong tục tập quán nông thôn cóVết
hõm trong dép cỏ, Âm nhạc dân gian…; “phản tư lịch sử”, suy ngẫm nhân
sinh có Dòng sông khô cạn, Củ cà rốt trong suốt, Thu thủy, Làm đường…;
phản ánh hiện thực nông thôn, miêu tả sự xung đột giữa ý thức cũ và mới
trong công cuộc cải cách có Ánh chớp hình cầu, Bùng nổ, Cây đu chó
trắng…; phản ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược có Gia tộc Cao
lương đỏ (gồm Cao Lương đỏ, Rượu Cao Lương, Nhà quàn Cao Lương, Cẩu
đạo, Da chó), Báu vật của đời (Mông to vú nở), Đàn hương hình…
Nhiều người gọi những tác phẩm của Mạc Ngôn là tiểu thuyết “cảm giác
mới”. Cảm giác mới bắt nguồn từ nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện và
phương pháp biểu hiện tư tưởng của chủ nghĩa đa đa. Tiểu thuyết cảm giác
mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực truyền thống, nó không đơn thuần miêu
tả hiện thực bề ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ
quan vào trong khách thể đặng sáng tạo ra một hiện thực mới mẻ. Tiểu thuyết
của Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng của trường phái cảm giác mới của chủ nghĩa
hiện đại phương Tây và của Nhật Bản những năm 20 – 30. Mạc Ngôn cho
rằng trạng thái sáng tác nhẹ nhàng thoải mái, tự do, muốn nói gì thì nói là
trạng thái tốt nhất đối với nhà văn. Khi cánh cửa hồi ức được mở ra, ông
thường dùng cảm tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống chứ không dùng lí
nhạc dân gian nói nhiều đến bản năng sinh tồn, thể nghiệm nhân sinh mô tả
cảnh vật nông thôn cổ xưa qua lăng kính của tuổi thơ. (Lê Huy Tiêu, 2003)
Chủ đề trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thường biểu hiện về những vấn đề
sinh tồn của nhân loại: cái đói, cái rét, tính dục, thù oán, tôn giáo, cái sống cái
chết, mê tín dị đoan, chiến tranh…
Trong một bài báo viết về ảnh hưởng của Marquez và Faulkner đối với mình,
Mạc Ngôn viết: “Trong vũ trụ bao la, vị trí của con người là vô cùng bé
nhỏ,Lịch sử quá khứ và thế giới hiện tại liên quan mật thiết với nhau, máu