Một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN ANH

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thành Hưng Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3
3. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

sâu của khái quát, triết lý và tính nhân văn sâu sắc. Đặc điểm này khiến độc giả khi
đọc xong, sẽ phải suy tư về con người và sự tồn tại của mình trong thế giới này.
M.Kundera sinh năm 1929 tại Brno, Tiệp Khắc. Tuổi trẻ của ông chịu sự tác
động của nhiều biến cố lịch sử trong nước và thế giới, đặc biệt là sự kiện Mùa xuân
Praha 1968 – giai đoạn cải cách chính trị vô cùng ngắn ngủi, do sớm bị đàn áp bởi
sự can thiệp của quân đội Nga Xô Viết vào tháng 8 năm 1968. Sự kiện chính trị này
được tái hiện nhiều lần trong những tác phẩm khác nhau của M.Kundera, với những
nhân vật mà số phận của họ bị sắp đặt, biến động, thay đổi bởi sự kiện này.
Trải qua nhiều biến cố, thậm chí đã có những giai đoạn, một số tác phẩm tiểu
thuyết và thơ của M.Kundera bị thu hồi và bị cấm xuất bản, bản thân ông bị đuổi,
không cho dạy học, không còn kế sinh nhai; và, có những lúc ông hoàn toàn vắng
mặt trên đời sống sáng tác văn học. Tuy vậy, M.Kundera với những sáng tác, đóng
góp của mình vẫn là một cây bút nhận được những đánh giá cao. Năm 1975, ông
định cư tại Pháp, trở thành một trong những gương mặt quan trọng không thể thiếu
của nền văn học Pháp và thế giới.
M.Kundera sáng tác thơ, tiểu luận, kịch và tiểu thuyết. Nhưng chủ yếu ông
để lại dấu ấn trong lĩnh vực tiểu thuyết và một số tiểu luận. Có thể kể tên một số
tiểu thuyết nổi tiếng gắn với tên tuổi của M.Kundera, đó là Những mối tình nực
cười (1969), Điệu Valse giã từ (1972), Đời nhẹ khôn kham (1984), Sự bất tử
(1990), Chậm rãi (1993), Bản nguyên (1998) Cũng không thể không nhắc tới
tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết (1985) mà ở đó, nhà văn đã bộc lộ quan điểm của
mình một cách rõ ràng về sáng tác, về sứ mệnh của tiểu thuyết. 2
M.Kundera đã được trao nhiều giải thưởng văn học khác nhau. Năm 1985
ông được trao giải Jerusalem. Năm 1987 ông được trao Giải tác phẩm văn học châu
Âu của năm). Năm 2000, M.Kundera nhận được Giải thưởng quốc tế Herder - giải
thưởng uy tín dành cho giới trí thức và giới văn nghệ sĩ vùng Đông Nam Á châu
Âu. Năm 2007, ông được tôn vinh với giải thưởng cao quý nhất do Hội nhà văn

không cầu kỳ nhưng vẫn đậm chất ẩn dụ, giàu trí tuệ, khơi gợi sự sáng tạo tưởng
tượng của người đọc.
Với những đặc điểm trên, cùng với chủ trương hội nhập giao lưu văn hóa
của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về
nhà văn M.Kundera qua những tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận của
ông là điều vô cùng cần thiết. Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về M.Kundera
tại Việt Nam chưa nhiều, và cũng chưa xuất hiện một công trình nghiên cứu nào
thật sự có quy mô lớn, đa phần ở mức độ luận văn, luận án và những bài nghiên
cứu nhỏ lẻ. Với mong muốn bước đầu tìm hiểu Một vài đặc điểm nghệ thuật
tiểu thuyết của Milan Kundera, chúng tôi đi vào nghiên cứu một số tác phẩm
của ông, nhằm góp phần vào công tác nghiên cứu nhà văn Milan Kundera tại
Việt Nam, đồng thời qua đó, tìm hiểu về vai trò của nhà văn này trong nền văn
học hiện đại Pháp và thế giới, phần nào đánh giá được tình trạng thực tế của nền
văn học hiện đại nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
M.Kundera được xem như là một “hiện tượng” của văn học hậu hiện đại.
Mặc dù ông tỏ ra không đồng ý với ý kiến rằng mình là đại diện tiêu biểu của nền
văn học hậu hiện đại, nhưng trên thực tế, với những quan niệm riêng và những đóng
góp của mình cho nền tiểu thuyết hiện đại nói riêng và văn học hiện đại nói chung,
ông hoàn toàn xứng đáng là một cây bút tiêu biểu cho dòng văn học này. Tiểu
thuyết và tiểu luận của M.Kundera trở thành “phát ngôn” cho những tư tưởng sáng
tác và quan niệm của ông về tiểu thuyết. 4
Nghiên cứu về tiểu thuyết và tiểu luận của M.Kundera, người ta thường
nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa lý luận và sáng tác. Chuyên luận Tiểu luận phê
bình về Milan Kundera là tập hợp các tiểu luận đã được đăng tải được xuất bản
tại New York. Chuyên luận này đã đi sâu phân tích một số tiểu thuyết tiêu biểu
của nhà văn, qua đó nêu bật lên được quan niệm và cơ sở lý luận của nhà văn.

hơn về ý tưởng và cách xây dựng các ý tưởng của M.Kundera, Anneliese Saulin-
Ryckewaert Đại học Charles de Gaulle Pháp – trong luận văn thạc sĩ của mình –
đã đi sâu vào bốn chủ đề chính: Tư duy, lịch sử, trò chơi và giấc mơ. Từ bốn chủ
đề này, Anneliese đã từng bước khám phá cách M.Kundera kết cấu tiểu thuyết
của mình, khám phá thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú và những tư tưởng
riêng biệt của nhà văn.
Tháng 5 năm 2010, tại trung tâm văn hóa Pháp L’Espace đã diễn ra buổi tọa
đàm với nội dung Milan Kundera – tiểu thuyết và tiểu luận. Đồng thời đó cũng là
buổi giới thiệu tiểu thuyết mới được dịch sang tiếng Việt Vô tri. Buổi tọa đàm có
sự tham dự của nhà văn Nguyên Ngọc, dịch giả Phạm Xuân Nguyên, dịch giả Cao
Việt Dũng và nhiều nhà nghiên cứu cùng những người yêu mến M.Kundera. Buổi
tọa đàm đã khẳng định những thành công và đóng góp của M.Kundera cho nền
văn học Hậu hiện đại, cho lý luận và thực tiễn sáng tác văn học. Đồng thời, các
dịch giả cũng qua đó khẳng định M.Kundera là một nhà văn có vốn tri thức khổng
lồ. Những kiến thức về lịch sử, chính trị, khoa học, triết học, tôn giáo, âm nhạc,
hội họa, nhiếp ảnh… tụ họp trong các tác phẩm của ông với mật độ dày đặc. Ông
đã mang cả diễn biến của thời đại mình, đã mang cả một khối lượng lớn các tri
thức của nhân loại vào trong sáng tác, dùng các tri thức đó để diễn đạt những tư
tưởng của mình, để thông qua đó, nhấn mạnh tới sự “nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh”
– khi mà con người trải qua những thời khắc quan trọng của lịch sử, khi họ sống
trong thế giới hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, thì
dường như họ không còn được sống thật với chính bản thân, mà luôn phải chống 6
đỡ với những “con mắt vô hình” luôn bám riết lấy họ, khiến họ nghẹt thở, vô
phương tẩu thoát.
Chúng ta cũng có thể tìm thấy rất nhiều ý kiến, đánh giá, bài viết, nghiên
cứu khác nhau về vấn đề này qua các trang báo giấy, các tạp chí và báo mạng
trong và ngoài nước. Năm 1997, nhà văn Nguyên Ngọc đã đăng một bài viết trên

tài năng này.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu mà luận văn xác định là: chỉ ra những nét độc đáo, riêng biệt trong
thế giới nghệ thuật và trong quan niệm về sáng tác của nhà văn Milan Kundera.
Luận văn sẽ góp một tiếng nói khẳng định vị trí của nhà văn và những đóng
góp mới mẻ của ông đối với nền văn học thế giới Hậu hiện đại, đặc biệt là trong thể
loại tiểu thuyết.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết,
tiểu luận và truyện ngắn của Milan Kundera, trong đó tiểu thuyết là chủ yếu.
Phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận (đã
được dịch sang tiếng Việt) của nhà văn M.Kundera, trong đó tiểu thuyết chiếm đa
số: phạm vi nghiên cứu chính.
Ngoài ra, chúng tôi còn xem xét một số tác phẩm của các nhà văn khác (cùng
thời hoặc khác thời) để đối chiếu so sánh.
8
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đi sâu tìm hiểu về những đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera,
luận văn của chúng tôi tiếp cận tác phẩm từ nhiều phương pháp khác nhau như: thi
pháp học, thống kê - phân loại, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp và các
phương pháp liên ngành khác để có thể tiếp cận về các hình thức nghệ thuật của nhà
văn này một cách tổng quan, chính xác hơn.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo,
nội dung chính gồm bốn chương:
Chương 1: Kết cấu tiểu thuyết Milan Kundera

một yếu tố vô cùng quan trọng, khi nó đạt được hiệu quả cao nhất trong việc diễn
đạt nội dung tác phẩm. Bởi như chúng ta đã biết, hình thức và nội dung là hai yếu tố
luôn đi kèm, tương hỗ nhau. Khi Radinxki cho rằng kết cấu của tiểu thuyết Anna
Karenina lỏng lẻo, đó là hai cuốn tiểu thuyết với hai tuyến nhân vật (Anna-Vrônxki
và Lêvin-Kitti) đứng cạnh nhau, thì L.Tolstoi đã viết thư trả lời ông: "Tôi tự hào với
kiến trúc - những khung vòm được kết nối, liền với nhau đến mức không thể nhận
ra chỗ nối ở đâu. Về điểm này, tôi hết sức cố gắng. Mối liên hệ của sự cấu trúc được
tạo nên không phải dựa trên cốt truyện và cũng không phải dựa trên mối quan hệ
làm quen giữa các nhân vật mà là ở mối quan hệ bên trong" [19, tr.65]. 10
Khi tác phẩm có kết cấu phù hợp với nội dung, nó sẽ tạo nên một chỉnh thể
thống nhất, góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm. Phân tích kết cấu tác phẩm, có
thể so sánh nó với các hình thức, thủ pháp kết cấu chung nhưng điều quan trọng là
phải xuất phát từ bản thân tác phẩm và xem nó có thể hiện tốt nhất chủ đề tư tưởng
của tác phẩm hay không.
1.1.2. Tiểu thuyết và một số hình thức kết cấu của tiểu thuyết
Từ khi ra đời cho đến hiện tại, tiểu thuyết đã ghi lại dấu ấn của mình trong
kho tàng văn học thế giới. Đạt được những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là vào thế kỷ
XIX, tiểu thuyết để lại cho nền văn học nhân loại những tác phẩm kinh điển đã
được thử thách và sống mãi với thời gian.
Một trong những đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết, đó là khả năng bao chứa
trong mình rất nhiều sự kiện, đề tài, cuộc đời khác nhau. Tiểu thuyết như một thể
loại đắc địa để có thể vừa tái hiện lại những sự kiện vô cùng nhỏ bé của cuộc sống,
lại vừa có thể phản ánh những sự kiện to lớn, vĩ đại nhất của lịch sử. Có thể nói, tiểu
thuyết như một bức tranh khổng lồ, ở đó, nhà văn như một người họa sĩ vẽ nên vô
số hình ảnh cùng những gam màu khác nhau. Đó chính là khả năng “phản ánh một
cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống” [5, tr.189].
Trong quá trình phát triển, tiểu thuyết luôn vận động và tìm ra những hình

động, cử chỉ thì kết cấu tâm lý lại xây dựng tính cách, hình tượng nhân vật chủ yếu
qua những diễn biến, phát triển trong tâm lý. Những vận động bên trong, từ suy
nghĩ, cảm nhận của nhân vật chính, tương tác với sự vận động tâm lý của các nhân
vật khác tạo nên diễn biến cho toàn bộ câu chuyện. Tiểu thuyết Bà Bovary của
Flaubert đã xây dựng nên hình ảnh, cuộc đời, số phận của một người phụ nữ trên
dòng tâm lý của nhân vật chính – Emma. Emma, một phụ nữ lãng mạn, luôn khát
khao tìm được một người đàn ông lý tưởng, được vượt khỏi những điều tầm thường,
tẻ nhạt của cuộc sống, để rồi khi thất vọng sâu sắc với những gì xung quanh mình, 12
nàng tìm đến cái chết. Flaubert đã dùng lời kể gián tiếp để hé lộ dòng tâm tư, những
suy tưởng của nhân vật, từ qua tâm lý, tính cách của nhân vật tự bộc lộ, vận động,
đưa tiểu thuyết đi hết chặng đường của các tình tiết. Nhà văn Mỹ Hemingway cũng
xây dựng cuốn tiểu thuyết Ông già và biển cả của mình với lối kết cấu tâm lý.
Tương tự, Sống mòn của Nam Cao cũng đào sâu vào những băn trở, băn khoăn và
những diễn biến tâm lý của nhân vật chính – Thứ. Như vậy, kết cấu tâm lý đòi hỏi
nhà văn đi sâu vào nội tâm của nhân vật, đôi khi, tâm lý nhân vật cũng phần nào thể
hiện suy nghĩ mang tính trải nghiệm của chính tác giả về cuộc sống, về những vấn
đề của con người, xã hội và lịch sử.
Một loại kết cấu nữa mà chúng ta thường thấy ở tiểu thuyết, đó là kết cấu đơn
tuyến. Kết cấu đơn tuyến chỉ có một tuyến nhân vật – thường đó cũng là nhân vật
chính và là trung tâm của tiểu thuyết. Nhân vật chính này đôi khi là chính tác giả
nhập thân để kể lại những câu chuyện có thật đã xảy ra trong cuộc đời mình, kể lại
những gì mình đã chứng kiến bên ngoài cuộc sống (Những ngày thơ ấu của
Nguyên Hồng là một ví dụ. Đó là cuộc đời của chính tác giả cùng những suy nghĩ,
xúc cảm và tất cả những câu chuyện của thời bé thơ). Hoặc, cũng có khi, tác giả
không hoàn toàn hóa thân vào nhân vật, mà chỉ đơn giản xây dựng nên một nhân
vật chính, để cho nhân vật chính ấy tự kể lại câu chuyện cuộc đời họ, và những tình
tiết trong tiểu thuyết là sự hư cấu, tưởng tượng. Thông qua đó, tác giả nhằm nêu bật

sự kiện, và xây dựng được nên nhiều hình tượng, tư tưởng, chủ đề khác nhau. Tư
tưởng chủ đạo trong Chiến tranh và hòa bình của L.Tolstoi được tập trung thể hiện
qua biến cố lịch sử trọng đại – cuộc chiến tranh Vệ quốc năm 1812; bên cạnh đó
còn là chủ đề về giai cấp quý tộc Nga trong và sau chiến tranh.
Ngoài ra, còn một số hình thức kết cấu khác như kết cấu luận đề, kết cấu theo
trục nằm ngang… Tất cả những hình thức kết cấu này đã tạo nên bức tranh đa dạng,
phong phú về mặt hình thức cho thể loại tiểu thuyết. 14
Nhận xét về kết cấu của một số tiểu thuyết trong thế kỉ XX, Erenbourg cho
rằng: "Tiểu thuyết của thời đại ta có nhiều chỗ khác với tiểu thuyết thế kỉ XIX vốn
xây dựng trên lịch sử một con người hay một gia đình. Trong tiểu thuyết hiện đại
có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan chéo vào nhau, nhà văn thường hay
đưa người đọc từ thành phố này sang thành phố khác, đôi khi đi sang một nước
khác nữa, cách kết cấu khiến ta nghĩ tới sự luân phiên của những đoạn cận cảnh
với những cảnh quần chúng trên màn ảnh" [55]. Như vậy, sự phát triển của tiểu
thuyết, qua các giai đoạn (mà dấu mốc quan trọng là thế kỷ XIX) cho đến hiện tại
đã trải qua nhiều biến đổi. Đôi khi, trong cùng một tác phẩm có sự kết hợp, giao
thoa lẫn nhau giữa các hình thức kết cấu. Đặc điểm này tạo nên bức tranh sinh
động cho tiểu thuyết, giúp người đọc khám phá nhân vật và cốt truyện theo đa
chiều, đa hướng.
1.2. Kết cấu tiểu thuyết Milan Kundera
Như bên trên chúng ta đã tìm hiểu, tiểu thuyết mang trong mình nhiều hình
thức kết cấu khác nhau. Mỗi hình thức kết cấu có một đặc điểm, ưu thế (và thậm chí
cả hạn chế) riêng.
Việc khám phá, tìm hiểu các hình thức kết cấu tiểu thuyết hiện đại không đơn
giản, bởi thực tế bản thân sự sáng tạo văn học là vô cùng phong phú, đôi khi có sự
pha trộn giữa nhiều hình thức kết cấu khác nhau.
Với các tiểu thuyết (và cả truyện ngắn) của M.Kundera, việc tìm ra một kết

Dễ nhận thấy kiểu kết cấu đặc trưng của M.Kundera, đó là kết cấu con số 7 –
con số gắn với bảy nốt nhạc trong âm nhạc. Lý giải hiện tượng này không khó, hãy
nghe chính nhà văn chia sẻ: “Các cuốn tiểu thuyết của tôi là những biến tấu của một
kiến trúc chung cơ sở trên số bảy” [37, p.4]. Theo M.Kundera, ông thật sự không hề
ngạc nhiên nếu như mỗi khi hoàn thành một cuốn sách nào đó, hầu hết chúng đều kết
thúc với 7 chương, 7 phần (đối với tiểu thuyết) và 7 truyện ngắn (đối với tuyển tập
truyện ngắn). Ông liệt kê và lý giải rằng: “Với tôi đấy không phải là lối điệu đà mê 16
tín một con số bùa, càng chẳng phải là tính toán lý trí, mà là đòi hỏi sâu xa, vô thức,
không thể hiểu được, mẫu lý tưởng về hình thức mà tôi không thoát ra được” [37, p.4].
Như một sự bức thiết của cảm giác, số 7 hiện diện trong hầu hết các tác phẩm
của M.Kundera. Nó khiến các tác phẩm mang âm hưởng của một bản nhạc khi duyên
dáng, lúc mạnh mẽ, khi ngẫu hứng, lúc quấn quýt với những nốt nhạc hòa quyện
trong một bản hòa âm không thể tách rời. Mỗi một nốt nhạc lại tự thực hiện những
vai trò riêng, gióng lên những thanh âm của mình để tạo nên một bản nhạc, bản giao
hưởng hoàn chỉnh. Ở đó, không có một nốt nhạc nào thừa thãi hay vô nghĩa.
“Sau khi hoàn thành cuốn Lời đùa cợt, tôi chẳng có lý do gì để ngạc nhiên là nó
có bảy phần. Sau đó, tôi viết Đời nhẹ khôn kham. Cuốn tiểu thuyết gần như đã xong
và gồm có sáu phần. Tôi không thỏa mãn. Tôi thấy câu chuyện có vẻ nhạt nhẽo. Đột
nhiên tôi nảy ra ý nghĩ đưa vào tiểu thuyết một câu chuyện diễn ra ba năm sau cái chết
của nhân vật (tức là nằm ngoài thời gian của tiểu thuyết). Đó là phần gần cuối, phần
thứ sáu (Người tứ tuần). Tức khắc, mọi sự thành hoàn hảo. Về sau, tôi nhận ra cái phần
thứ sáu ấy tương ứng một cách kỳ lạ với phần thứ sáu trong Lời đùa cợt. Ở đó, cũng
như vậy, đưa một nhân vật từ bên ngoài vào tiểu thuyết, mở ra trên bức tường của tiểu
thuyết một khung cửa sổ bí mật. Những mối tình nực cười mới đầu là một tập mười
truyện ngắn. Khi tôi soạn lại bản lần cuối cùng, tôi loại đi; toàn bộ trở nên rất chặt chẽ
đến nỗi nó báo trước cấu trúc Sách cười và lãng quên: vẫn những chủ đề ấy (đặc biệt
chủ đề về sự lừa phỉnh), kết nối thành một tổng thể duy nhất bảy truyện kể trong đó

Trong Nghệ thuật tiểu thuyết (điều đặc biệt, tiểu luận này cũng được chia
làm bảy phần), khi được phỏng vấn về các tiểu thuyết, M.Kundera đã dùng rất
nhiều kiến thức về âm nhạc để diễn giải cho cấu trúc tác phẩm của mình. Ông
nhắc nhiều đến âm nhạc, liên kết, xâu chuỗi các kiến thức âm nhạc (cường độ, cao
độ, nhịp độ) với diễn biến cốt truyện. Rất nhiều tác phẩm của ông có ghi lại dấu ấn
của âm nhạc. Trong Sự bất tử, Rubens đã nhớ đến Agnés không bởi tên riêng của
nàng, mà nhớ đến nàng với cái tên Cô Đàn Luthiste. Bởi trong ấn tượng của anh, 18
những hành động, cử chỉ, hình dáng của nàng đều khiến anh liên tưởng đến cây
đàn luthiste với những âm vang giai điệu nhẹ nhàng mà mê đắm, có sức quyến rũ
bất ngờ. Trong Đời nhẹ khôn kham, thậm chí M.Kundera còn đưa lời đối thoại
của nhân vật Tomas với ông bác sĩ người Thụy Sĩ thành một phần của bản nhạc
như minh họa dưới đây (ta còn bắt gặp trong nhiều tác phẩm của ông sự liên hệ
với âm nhạc Beethoven tương tự như ví dụ này):

Hãy thử xem xét sự phân chia độ dài – ngắn giữa các chương trong một số
tiểu thuyết của M.Kundera với các nốt nhạc. Nếu coi chương có độ dài nhất là cung
trầm nhất (Đồ), thì chương ngắn nhất sẽ là nốt Si (trong bảy nốt nhạc Đồ, Rê, Mi,
Pha, Sol, La, Si). Dựa trên sự tương ứng này, chúng ta sẽ khảo sát thí điểm Sự bất
tử, để qua đó thấy được độ dài, ngắn, nhanh, chậm của mỗi chương trong tiểu
thuyết của ý nghĩa thế nào đối với việc chiếu sáng nhân vật và qua đó, bộc lộ quan
điểm của nhà văn về lối xây dựng kết cấu.
Trong Sự bất tử, bảy phần như bảy nốt nhạc riêng biệt. Mỗi nốt nhạc với
những cung trầm, cung thanh cùng tiết tấu nhanh, chậm và cường độ dữ dội, êm
đềm khác nhau ấy đóng vai trò riêng trong tổng thể “bản giao hưởng”. 19

Phần 6
23
83
3.46
Sol
Phần 7
7
36
5.1
Mi
Bảng 1: Các nốt nhạc trong bảy phần của Sự bất tử
Như vậy, qua bảng 1, chúng ta nhận thấy: Sự phân chia thành từng phần với
độ dài ngắn khác nhau (ứng với mỗi nốt nhạc khác nhau) tạo nên nhịp nhanh, chậm
có-chủ-ý của mỗi phần. Phần 1 Khuôn mặt là khúc dạo đầu, nên nhịp chậm rãi với
nốt Đồ. Những trăn trở của Agnés khi thấy bản thể của mình bị chìm lẫn giữa muôn
vàn “gương mặt bản thể” khác cũng chính là trăn trở của nhà văn về việc làm sao để
tạo được bản sắc, tiếng nói, phong cách riêng của tiểu thuyết hiện đại. Phần 2 Sự bất
tử là những câu chuyện về Goethe, Beethoven, về mối tình giữa Goethe và Bettina,
về cuộc nói chuyện giữa Goethe và Hemingway và cuộc đối đầu giữa Goethe và
Napoleon. Ở phần này, mạch truyện đã bắt đầu có tiết tấu hơi nhanh bởi xuất hiện
nhiều nhân vật với những cuộc đối thoại về những vấn đề nóng bỏng của lịch sử và
văn hóa. Phần 3 Đấu tranh là nốt Rê, trở về nhịp điệu chậm vừa phải. Trong đó, có
các nhân vật thời hiện đại, có Agnés với các mối quan hệ xung quanh như Paul –
chồng, Laura – em gái và Brigitte – con gái. Bên cạnh đó còn là Bernard – bạn của
Paul đồng thời là nhân tình của Laura, Giáo sư Avenarius với mối quan hệ giữa 20
những người đã kể, và một số nhân vật khác. Phần này xoay quanh những câu
chuyện cuộc sống của các nhân vật hiện đại, qua đó đưa ra những chiêm nghiệm, đúc

nhau về độ dài, ngắn. Độ dài, ngắn của từng chương ứng với các nốt nhạc cho thấy
ý đồ của tác giả, là muốn khái quát ý nghĩa chủ đạo như thế nào, và việc “chiếu
sáng” nhân vật nhanh hay chậm ra sao.
Có thể lấy ví dụ phần 6 Mặt số đồng hồ gồm 23 chương. Trong đó:
Chương
Trang
Nốt
Chương
Trang
Nốt
Chương 1
>1
Si
Chương 2
4.5
Mi
Chương 3
6.5
Đồ
Chương 4
3.5
Pha
Chương 5
4.5
Mi
Chương 6
3.5
Pha
Chương 7
>5

Đồ
Chương 18
>2
La
Chương 19
2.5
La
Chương 20
>2
La
Chương 21
>4
Mi
Chương 22
2
La
Chương 23
>3
Sol
Bảng 2: Các nốt nhạc của từng chương 22
Trong bảng 2 này, chúng ta nhận thấy, trong phần 6, mỗi chương có độ dài
ngắn khác nhau, tương ứng với nó là các nốt nhạc khác nhau. Đây là “khúc solo”
chỉ của nhà họa sĩ Rubens. Toàn bộ phần 6 với 23 chương là những suy nghĩ của
Rubens. 23 chương nhắc tới Mặt số đồng hồ của cuộc đời Rubens, nhưng qua đó,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status