ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========
NGUYỄN THỊ THẮM QUAN NIỆM VỀ TÍNH GIAI CẤP
TRONG VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1945 - 1985
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học \ Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH K54
5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lí do chọn đề tài 7
2. Đối tượng, phạm vi đề tài và mục đích nghiên cứu 8
3. Lịch sử vấn đề 9
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Cấu trúc Luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI CẤP VÀ TÍNH
GIAI CẤP TRONG VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1945 - 1985 14
1.1. Khái niệm về giai cấp và tính giai cấp trong văn học nghệ thuật 14
1.1.1. Khái niệm về giai cấp 14
1.1.2. Khái niệm tính giai cấp trong văn học 15
1.1.3. Vai trò quan niệm tính giai cấp trong hệ thống lí luận văn học Việt
Nam giai đoạn 1945 - 1985 20
1.2. Quán triệt quan điểm giai cấp trong đường lối văn nghệ của Đảng Cộng
sản Việt Nam 23
1.2.1. Văn học chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng
Cộng sản Việt Nam 23
1.2.2. Văn học phục vụ trực tiếp sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội 32
đoạn 1945 - 1985 89
3.2.1. Hình tượng nhân vật mang tính chất sử thi 89
3.2.2. Các nhân vật luôn xuất hiện trong thế đối kháng 94
3.3. Ngôn ngữ biểu hiện chịu ảnh hưởng của quan niệm về tính giai cấp 105
3.3.1. Ngôn ngữ văn học nghiêng hẳn về lời ăn tiếng nói của quần chúng 106
3.3.2. Ngôn ngữ văn học mang tính chính luận 112
PHẦN KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Để tổng kết và đánh giá một giai đoạn văn học cho thật khách quan bao
giờ cũng phải cần đến một độ lùi thời gian cần thiết. Văn học Việt Nam từ sau
Cách mạng tháng Tám đƣợc coi là “giai đoạn mở đầu cho một thời kỳ văn học
mới chƣa có tiền lệ” [46 ; 10] - một nền văn học đƣợc sinh ra, tồn tại và phát
triển trong hoàn cảnh chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nƣớc và
từng bƣớc xây dựng chủ nghĩa xã hội, một nền văn học có “sự biến đổi toàn
diện từ mối quan hệ văn học với đời sống nhà văn và công chúng, đến quan
niệm nghệ thuật, các thể tài, thể loại và thi pháp” [46 ; 11], đồng thời cũng là
một nền văn học “bƣớc đầu xây dựng theo mô hình mới, chƣa có kinh nghiệm
bao nhiêu, do đó khó tránh khỏi những lệch lạc ấu trĩ” [56 ; 48]. Đã qua gần 30
năm sau công cuộc Đổi mới đất nƣớc (Đại hội Đảng VI năm 1986), tình hình
nƣớc Nga - Xô viết làm mô hình để noi theo… đó là cuộc hội nhập theo ý thức
hệ” [76 ; 10].
2. Đối tượng, phạm vi đề tài và mục đích nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là ảnh hƣởng của hệ tƣ tƣởng
mác xít, cụ thể là sự hình thành, vận động và khẳng định của quan niệm về tính
giai cấp chi phối đến mọi mặt của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945
- 1985 - giai đoạn đƣợc đánh giá là “thời kỳ phát triển độc tôn của lý luận văn
học và mĩ học hiện thực xã hội chủ nghĩa”.
Chúng tôi chọn giai đoạn văn học từ sau cách mạng tháng Tám 1945 cho
đến tận năm trƣớc Đổi mới (1985) vì đây là giai đoạn chịu ảnh hƣởng và có
những biểu hiện sâu sắc nhất trên tổng thể diễn tiến văn học từ quan điểm mĩ
học mác xít, cụ thể ở đây là quan niệm về tính giai cấp. Thông thƣờng các
nghiên cứu trƣớc đều chọn giai đoạn văn học từ 1945 - 1975, nhƣng theo
chúng tôi, để có đƣợc một cái nhìn trọn vẹn hơn thì phải khảo sát đến năm
1985 - 10 năm sau đất nƣớc giải phóng, nhƣng quan niệm về tính giai cấp vẫn
có tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệ thuật.
Quan niệm về tính giai cấp thực ra đã có tác động đến văn học cách mạng
Việt Nam ở cả giai đoạn trƣớc 1945 nhƣng chƣa rõ rệt và cả ở giai đoạn sau
1985 nhƣng không còn đậm đặc, mang tính thuần nhất nữa. Tuy nhiên, chúng
tôi cũng sẽ trình bày một vài nét chung nhất ảnh hƣởng của quan niệm tính giai
cấp đến diễn trình văn học ở hai giai đoạn trƣớc 1945 và sau 1985 với mục
đích để đối chiếu, làm nổi bật rõ ảnh hƣởng độc tôn ở giai đoạn văn học cách Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
9
mạng 1945 - 1985, trong khi đặt đối tƣợng nghiên cứu trong toàn bộ tiến trình
Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
10
đƣợc tìm hiểu của chính những ngƣời làm công tác văn nghệ và sinh viên, đặc
biệt là ở giai đoạn đầu cuộc cách mạng - khi mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo nhân dân ta giành thắng lợi liên tiếp, văn nghệ đƣợc định hƣớng nhất nhất
đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, trong khi nguồn sách về lý luận mác xít hồi đó
còn ít và còn hiếm. Vì vậy, tất cả các cuốn sách trên đã cung cấp một nền tảng
lí luận vững chắc về những phạm trù mĩ học mác xít cơ bản, quan niệm sáng
tạo văn hóa, văn học của của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, trong đó có và
nổi bật là tính giai cấp mà đề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở đây.
Việc áp dụng các quan điểm mĩ học mác xít trên vào lí luận văn nghệ Việt
Nam đã thể hiện trong các văn bản có tính chất chỉ đạo văn nghệ của Đảng
nhƣ: Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 [6], Thƣ của Ban chấp hành trung
ƣơng Đảng Lao động Việt Nam gửi các kỳ đại hội văn nghệ toàn quốc, các báo
cáo chính trị, các lá thƣ, bài phát biểu, bài nói chuyện của các đồng chí lãnh
đạo Đảng: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trƣờng Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, đã đƣợc tập hợp trong cuốn sách Về văn hóa
văn nghệ [58], Tố Hữu có cuốn Về văn học và nghệ thuật [31],…
Bên cạnh các văn bản có tính đƣờng lối văn nghệ của Đảng nhƣ ở trên thì
các cuốn sách lí luận văn học đƣợc coi là các cuốn giáo trình cơ bản giảng dạy
trong các trƣờng đại học một thời gian dài cũng đã trình bày rất cơ bản về
nguyên lý mĩ học Mác - Lênin: Những nguyên lý về lý luận văn học, tập I, của
Hà Minh Đức, đƣợc xếp trong Tủ sách Đại học Tổng hợp [19]; Cơ sở lý luận
văn học, tập I của Tổ bộ môn Lý luận Văn học các trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội, Vinh và Đại học Tổng hợp, năm 1976 [86]; Cơ sở lý luận văn học, tập I,
của nhóm tác giả Nguyễn Lƣơng Ngọc (Chủ biên) - Lê Bá Hán - Phƣơng Lựu -
Bùi Ngọc Trác, năm 1980 [59],… Tuy nhiên, các cuốn sách lý luận văn học
hưởng của nó đối với thơ 1945 - 1985 của Trần Thị Minh Giới [23],… trong
thời gian gần đây đã trở lại với những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
của chúng tôi.
Từ việc khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu nhƣ trên, có thể nhận thấy
rằng đề tài của chúng tôi đã có đƣợc một vốn tƣ liệu rất phong phú. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu chuyên sâu quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách
mạng Việt Nam 1945 - 1985 là chƣa từng có một công trình riêng biệt nào.
4. Phương pháp nghiên cứu
Từ đặc điểm của đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng
tôi thực hiện đề tài theo các phƣơng pháp sau đây: Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
12
Phƣơng pháp lịch sử - xã hội: Việc xác định lại những điều kiện lịch sử -
xã hội - chính trị - kinh tế làm phát sinh, phát triển những vấn đề lý luận sẽ là
một bức “phông” cần thiết hỗ trợ cho đề tài. Cụ thể ở đây là quan niệm về tính
giai cấp - một trong những vấn đề lý luận chủ chốt của mĩ học mác xít đã đƣợc
hình thành, vận động ra sao ở nƣớc ta và những tác động của nó đến đƣờng lối
văn nghệ và thế giới quan của nhà văn trong nền văn học cách mạng giai đoạn
1945 - 1985.
Phƣơng pháp loại hình: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để phân tích tác
phẩm theo đặc trƣng của thể loại văn học. Việc phân kỳ lịch sử từng giai đoạn
văn học cách mạng, các cụm đề tài, chủ đề mà các tác giả chọn lựa để sáng tác,
cách xây dựng hình tƣợng nhân vật, lối kết cấu và ngôn ngữ có những nét khác
biệt của văn học cách mạng,… là một việc làm cần thiết để có thể nêu bật đƣợc
ảnh hƣởng của quan niệm về tính giai cấp trong thực tiễn sáng tác của văn học
Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
14
Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
15
phối. Giai cấp là những tập đoàn ngƣời mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao
động của tập đoàn khác, do địa vị khác nhau mà họ chiếm giữ trong một chế độ
kinh tế xã hội nhất định” [62 ; 359].
Từ khái niệm trên cho thấy: Giai cấp là kết quả của sự phân hóa xã hội do
có sự đối lập giữa họ về địa vị trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định. Trong
xã hội, giai cấp nào nắm đƣợc tƣ liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì đồng thời
có khả năng chiếm đƣợc địa vị làm chủ quyền lực chính trị và quyền lực nhà
nƣớc và trở thành giai cấp thống trị xã hội. Giai cấp không chỉ là khái niệm của
khoa học chính trị mà còn là khái niệm phản ánh mối quan hệ khách quan giữa
lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị của xã hội; phản ánh mối quan hệ kinh tế,
chính trị giữa các tập đoàn ngƣời trong một điều kiện lịch sử nhất định. Đó là
mối quan hệ không chỉ có sự khác biệt mà còn có tính chất đối lập của họ trên
phƣơng diện kinh tế và chính trị. Từ đó cho thấy, việc phân tích các vấn đề về
kết cấu chính trị cần phải gắn liền với việc phân tích kết cấu kinh tế của xã hội
theo quan điểm lịch sử cụ thể. Cần phân biệt khái niệm giai cấp với khái niệm
tầng lớp xã hội. Khái niệm tầng lớp xã hội dùng để chỉ sự phân tầng, phân lớp,
phân nhóm giữa những con ngƣời trong cùng một giai cấp theo địa vị và sự
khác biệt cụ thể của họ trong giai cấp đó hoặc chỉ những nhóm ngƣời ngoài kết
cấu giai cấp trong một xã hội nhất định (công chức, trí thức, tiểu nông).
1.1.2. Khái niệm tính giai cấp trong văn học
Trƣớc C. Mác, các nhà xã hội học không tƣởng cũng nhƣ các nhà Sử học
và các nhà Kinh tế của giai cấp tƣ sản đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai
cấp và những mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp đó. Nhƣng chỉ đến C.
trong các tổ chức lao động xã hội và quyền hƣởng thụ sản phẩm làm ra của xã
hội. Điều đó tạo điều kiện để nhận thức những mối quan hệ xã hội, các hiện
tƣợng vật chất và tinh thần trong xã hội, quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Xét về tính thống nhất giữa bản thể và nhận thức, thì văn học với tƣ cách
là tấm gƣơng của hiện thực, không thể không mang tính giai cấp. Mặt khác,
nhà văn trƣớc hết là con ngƣời xã hội, vậy, cá nhân trong xã hội bao giờ cũng
thuộc về một giai cấp nhất định.
Trong quá trình vận dụng và sáng tạo học thuyết đấu tranh giai cấp, C.
Mác, Ph. Ăngghen đã phân biệt và giải thích về tính giai cấp của nhà văn tiểu
tƣ sản: Tính giai cấp của nhà văn có khi không trực tiếp phản ánh lợi ích thiển
cận của giai cấp họ. Muốn nhìn thấy bản chất giai cấp của họ, chúng ta chỉ cần
khảo sát thái độ của những nhà văn đó trƣớc những xung đột thực tiễn xảy ra
có nguy cơ đe dọa toàn bộ sứ mệnh của giai cấp họ. Trên cơ sở đó, C. Mác, Ph.
Ăngghen đã phân tích rằng: trong giai cấp thống trị cũng có sự phân công giữa
lao động vật chất và lao động tinh thần. Vì vậy, trong tác phẩm Hệ tư tưởng
Đức, C. Mác và Ph. Ăngghen đã nhận xét: “Những tƣ tƣởng của giai cấp thống Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
17
trị là những tƣ tƣởng thống trị trong mỗi thời đại, nói cách khác, giai cấp nào là
lực lƣợng vật chất chiếm địa vị thống trị trong xã hội thì cũng là lực lƣợng tinh
thần chiếm địa vị thống trị. Giai cấp nào chi phối những tƣ liệu sản xuất vật
chất thì đồng thời cũng chi phối luôn cả tƣ liệu sản xuất tinh thần, thành thử tƣ
tƣởng của những ngƣời không có tƣ liệu sản xuất tinh thần nói chung bị giai
cấp thống trị chi phối.” [54 ; 48].
Rõ ràng, văn học đã trở thành vũ khí đấu tranh giai cấp giữa các ý thức hệ
18
sử của ngƣời viết.
Trên cơ sở đó, C. Mác - Ph. Ăngghen cho rằng hoạt động của văn học là
một hoạt động có ý thức, gắn liền với tính xã hội, tính giai cấp. Nhà văn thực
chất là ngƣời phát ngôn cho giai cấp mình, là ngƣời nói lên tâm tƣ nguyện
vọng, ý chí và nghị lực của giai cấp trong cuộc đấu tranh vì lợi ích kinh tế và
địa vị xã hội của giai cấp của nhà văn.
Tính giai cấp mà C. Mác - Ph. Ăngghen nêu ra ở trên sau này đã đƣợc VI.
Lênin phát triển hoàn chỉnh hơn và sâu sắc hơn vào trong công cuộc đấu tranh
về kinh tế, chính trị và cả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Tính giai cấp gắn
bó chặt chẽ với các nguyên lý tính Đảng, tính nhân dân, tính chân thực, đồng
thời nó còn liên quan chặt chẽ đến các vấn đề nội dung, tƣ tƣởng, phƣơng pháp
sáng tác,…
Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong cuốn Từ điển Văn học, tập II, Nxb.
Khoa học xã hội, năm 1984 cho rằng: “Tính giai cấp là thuộc tính tất yếu và cơ
bản nhất của văn học trong xã hội có giai cấp. Bản chất giai cấp thể hiện trong
cách sống, tâm lý, tƣ tƣởng tình cảm, lợi ích kinh tế riêng,… của con ngƣời
thuộc các giai tầng, giai cấp xã hội khác nhau. Đặc tính ấy đƣợc phản ánh qua
chủ đề, tƣ tƣởng chủ đề, ngôn ngữ,… trong văn học là tính giai cấp của văn
học. Cũng nhƣ nhà văn về căn bản phải thuộc một giai cấp nhất định thì bất cứ
một tác phẩm, một trào lƣu, một nền văn học nào cũng có tính giai cấp của
nó.” [63 ; 398].
Nhận rõ bản chất xã hội của văn học là một yêu cầu cơ bản của học thuyết
Mác - Lênin về văn học. Học thuyết ấy bác bỏ luận điệu cho rằng văn học
đứng trên giai cấp, đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị của các giai cấp. Có thể
có nhà văn chƣa ý thức rõ rệt về quyền lợi, về địa vị của giai cấp mình, tác
phẩm của họ vẫn mang tính giai cấp, nhƣ M. Gorki đã nói: “Nhà văn là con
mắt, là tiếng nói, là lỗ tai của một giai cấp. Nhà văn có thể không có ý thức, có
thể phủ nhận điều đó. Nhƣng nhà văn không bao giờ và không thể nào thoát
khỏi bộ máy cảm quan của một giai cấp” [24 ; 271]. Khi nhà văn có ý thức sâu
cũng đều mang một khuynh hƣớng giai cấp có khi rất kín đáo. Những biện
pháp nghệ thuật bản thân nó không mang tính giai cấp, nhƣng việc vận dụng
những biện pháp nghệ thuật đó trong một tác phẩm cụ thể, các giai cấp thƣờng
theo những dụng ý khác nhau, phụ thuộc quan điểm thẩm mỹ của mình.
Do thực tế đấu tranh giai cấp phức tạp, trong giai cấp lại có nhiều giai
tầng khác nhau; các giai cấp lại không ngừng tác động lẫn nhau, nên tính giai
cấp trong ý thức con ngƣời không thuần nhất. Tính giai cấp trong văn học, do
đó cũng thƣờng không thuần nhất. Có lúc chúng ta phải từ ý nghĩa khách quan
của tác phẩm có lợi cho giai cấp nào trong cuộc đấu tranh xã hội mà suy định
bản chất giai cấp của tác phẩm văn học. Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
20
1.1.3. Vai trò quan niệm tính giai cấp trong hệ thống lí luận văn học
Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Ở nƣớc ta, từ Đề cương văn hóa năm 1943, đáng chú ý từ cuộc Tranh
luận văn nghệ Việt Bắc năm 1949 và đặc biệt từ cuối những năm 50 trở đi cho
đến tận những năm 80, lí luận văn học thu về một hƣớng thống nhất và trở
thành một thứ lí luận có tính chất nhà nƣớc, chỉ đạo nhất quán từ trên xuống
dƣới, là trụ cột của cuộc đấu tranh ý thức hệ trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Chƣa bao giờ trong lịch sử nƣớc nhà lí luận văn học đƣợc nâng tầm quan trọng
nhƣ thế, quyền lực nhƣ thế, thống nhất nhƣ thế. Nó trở thành tiêu chí để phê
bình, đánh giá mọi hiện tƣợng văn học trong nƣớc và thế giới. Các khái niệm
nhƣ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính giai cấp, tính Đảng, tính nhân
dân, tính chân thực, thế giới quan mác xít, vốn sống, lập trƣờng,… đƣợc hiểu
một cách đặc biệt, trở thành tiêu chí giá trị chung của những sáng tác đƣợc suy
thuật có vai trò hết sức to lớn trong cuộc đấu tranh giai cấp [90 ; 39]. Qua việc
khảo sát lịch sử nghệ thuật đã “chứng minh rằng hệ tƣ tƣởng giai cấp biểu hiện
dƣới rất nhiều hình thức ở trong tác phẩm nghệ thuật” [90 ; 37].
Quan niệm về tính giai cấp đã trở thành một trong những nguyên lý vô
cùng quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống các bộ giáo trình dùng để
giảng dạy cho sinh viên văn khoa trong các trƣờng đại học. Bộ giáo trình
Những nguyên lý về lý luận văn học, gồm 4 tập do hai tác giả Lê Đình Kỵ và
Hà Minh Đức viết, nhà xuất bản Giáo dục, năm 1962; Bộ giáo trình Cơ sở lý
luận văn học, gồm 4 tập, do tập hợp các tác giả của tổ bộ môn lý luận văn học
các trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Vinh và Đại học Tổng hợp viết, nhà xuất
bản Giáo dục, năm 1976, có ghi rõ rằng đây là “sách bồi dƣỡng giáo viên cấp
II và III”, đều đã trình bày những nguyên lý cơ bản về lý luận văn học dựa theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tính giai cấp cũng đƣợc đề cập rất rõ ở
tập I: Phần nguyên lý chung. Quan niệm về tính giai cấp đƣợc trình bày trong
hai bộ sách này vẫn là theo đƣờng hƣớng khẳng định chắc chắn đúng nhƣ theo
quan điểm của lý luận văn học mác xít: “Trong xã hội có giai cấp, văn học bao
giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định, đều mang tính chất giai cấp rõ rệt.”
[86 ; 82]. Bộ giáo trình Cơ sở lý luận văn học do tập thể các nhà nghiên cứu,
giảng dạy văn học của trƣờng Đại học Sƣ phạm I Hà Nội (Nguyễn Lƣơng
Ngọc, Phƣơng Lựu), Đại học Tổng hợp Hà Nội (Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức,
Bùi Ngọc Trác) và Đại học Sƣ phạm Vinh (Lê Bá Hán) biên soạn, nhà xuất bản
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, năm 1980 đã xếp tính giai cấp của văn
học trở thành một mục riêng, cùng với tính Đảng của văn học, tính nhân dân
của văn học, tính dân tộc của văn học nằm trong phần “Tính khuynh hƣớng của
văn học”. Xuyên suốt toàn bộ bộ giáo trình, các tác giả đã trình bày một cách
hệ thống toàn bộ các quan điểm lý luận văn học mác xít, quán triệt đúng tƣ Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
văn học nhƣ trên, về căn bản, vẫn chƣa có sự thay đổi.
Lý luận, phê bình văn học giai đoạn 1945 - 1985 ở nƣớc ta, trƣớc những
yêu cầu của hiện thực cách mạng và những quy định của phƣơng pháp sáng tác
hiện thực xã hội chủ nghĩa đã có những dấu ấn và tác động quan trọng đối với Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
23
hệ thống tác phẩm văn học nói riêng và toàn bộ nền văn học cách mạng Việt
Nam giai đoạn này nói chung. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ
xin đƣợc đề cập chủ yếu đến cuốn sách Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975) của
hai tác giả Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức, Nxb. Đại học và Trung học chuyên
nghiệp năm 1979. Đây là một cuốn sách lý luận, phê bình văn học vô cùng
quan trọng, có tính chất tổng kết cả nền văn học cách mạng từ 1945 - 1975,
đƣợc sử dụng nhƣ là sách tham khảo cơ bản trong khoa ngữ văn tại các trƣờng
đại học ở nƣớc ta trong một thời gian dài, và đến tận bây giờ vẫn đƣợc coi là
một cuốn sách tham khảo cần thiết cho sinh viên học chuyên ngành văn học.
Có thể khẳng định rằng, những nguyên lý của lý luận văn học mác xít, trong đó
có nguyên lý về tính giai cấp đã đƣợc thể hiện hết sức rõ ràng qua phƣơng
pháp nghiên cứu của các tác giả trong cuốn sách này. Kết cấu của cuốn sách
đƣợc phân chia theo các thể loại: ngoài phần “Lời tựa” của Hoàng Trung
Thông, “Lời nói đầu” của nhóm biên soạn, cuốn sách bao gồm 6 phần chính: 1)
Về một nền văn xuôi cách mạng ba mƣơi năm qua 1945 - 1975 (Phan Cự Đệ
viết); 2) Ba mƣơi năm phát triển của thơ ca cách mạng 1945 - 1975 (Hà Minh
Đức viết); 3) Những chặng đƣờng phát triển của nghệ thuật sân khấu cách
mạng ba mƣơi năm qua 1945 - 1975 (Hà Minh Đức viết); 4) Về một nền lý
luận, phê bình, nghiên cứu văn học theo quan điểm mác xít ba mƣơi năm qua
Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943) ra đời sau khi Mặt trận Việt
Minh đƣợc thành lập, chiến khu Việt Bắc đã trở thành trung tâm đầu não của
cách mạng Việt Nam. Một không khí giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo
đang sôi sục trong lòng đại chúng khắp Bắc, Trung, Nam. Trong tình hình ấy,
đề cƣơng văn hóa đƣợc công bố rất phù hợp với thực tiễn cách mạng, với
nguyện vọng của quần chúng. Đề cƣơng nêu lên 3 nguyên tắc vận động cách
mạng trên mặt trận văn hóa và yêu cầu 3 nguyên tắc này luôn luôn phải thống
nhất với nhau: “Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hƣởng nô dịch và thuộc địa khiến
cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập); Đại chúng hóa (chống mọi chủ
trƣơng hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông
đảo quần chúng); Khoa học hóa (chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa trái
khoa học, phản tiến bộ” [58 ; 140]. Bao trùm lên ba nguyên tắc không thể tách
rời ấy là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng đƣợc nhắc lại nhiều lần trong nội
dung đề cƣơng - đó là sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đứng trên lập trƣờng của
giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm tƣ tƣởng. Rõ ràng, đề
cƣơng văn hóa đã chỉ rõ và khẳng định con đƣờng vận động của văn hóa Việt
Nam nói chung, văn học Việt Nam nói riêng là phải hƣớng tới đông đảo quần
chúng lao động và phải tuân thủ đƣờng lối văn nghệ của Đảng của giai cấp
công nhân. Quan niệm về tính giai cấp trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985
Nguyễn Thị Thắm Lớp CHVH
K54
25
Năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, một phong trào văn hóa
hóa kháng chiến và kháng chiến hóa văn hóa dƣới sự lãnh đạo của Đảng, thực
chất là sự mở rộng Đề cương văn hóa Việt Nam trong hoàn cảnh mới. Trƣớc
tình hình đó, Đảng đã mở hội nghị giáo dục và đặc biệt là hội nghị văn hóa
K54
26
nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đã nhấn mạnh hơn đến tính chính trị, tính tƣ
tƣởng, tính giai cấp của văn nghệ, khẳng định vai trò to lớn của văn hóa văn
nghệ trong công tác vận động quần chúng.
Trong các bức thƣ của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Lao động Việt
Nam gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (20/2/1957), lần thứ ba
(26/11/1962), lần thứ tƣ (22/1/1968) đều có sự phân tích diễn biến tình hình
cách mạng và ảnh hƣởng của nó đối với văn nghệ. Trong đó, việc xác định
đƣờng lối vận động, phát triển của văn nghệ cách mạng luôn đƣợc định hƣớng
theo ngọn cờ dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội: “Nền văn nghệ mới ở miền
Bắc chúng ta trong giai đoạn này phải là một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa về
nội dung và dân tộc về hình thức.”
Xuất phát từ quan điểm quần chúng lao động là ngƣời sáng tạo ra lịch sử,
chúng ta chủ trƣơng “văn nghệ phục vụ nhân dân, chủ yếu là phục vụ công
nông binh.” [58 ; 12]. Do vậy, phƣơng pháp sáng tác “độc quyền” đó chính là
phƣơng pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa; các tác phẩm “có ích” cho sự nghiệp
cách mạng đƣợc xuất bản rộng rãi và tất cả những ngƣời công tác văn nghệ yêu
nƣớc và tiến bộ nên đoàn kết nhất trí trong một mặt trận rộng rãi và chặt chẽ
dƣới sự lãnh đạo của Đảng. Phân tích những thiếu sót còn tồn tại trong nền văn
nghệ cách mạng, trong thƣ của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Lao động
Việt Nam gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba đã khẳng định: “Nhiều tác
phẩm văn nghệ chƣa có tính Đảng rõ rệt” [58 ; 23]. Do đó, nhiệm vụ mà đại
hội đề ra đó là: “Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và
tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc. Nắm vững phƣơng
pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, phấn đấu để có thêm nhiều tác phẩm phản ánh
chân thật cuộc sống mới, con ngƣời mới, góp phần giáo dục và động viên nhân
dân đấu tranh cho cách mạng xã hội chủ nghĩa và cho sự nghiệp thống nhất
nƣớc nhà.” [58 ; 25]. “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là những đề tài cao đẹp
nhất của văn học nghệ thuật nƣớc ta” và đáp ứng đƣợc đòi hỏi của nhân dân về
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.
Rõ ràng, Ngƣời quan niệm thơ ngày nay trƣớc hết phải có chất cách
mạng, có tính chiến đấu, thể hiện tinh thần của ngƣời chiến sĩ cách mạng. Chữ
“thép” chỉ xuất hiện một lần trong tập thơ nhƣng trong Nhật kí trong tù bài nào
cũng có “thép”, câu nào cũng có “thép”. Nhà thơ Quách Mạt Nhƣợc (Trung
Quốc) đã nhận định nhƣ vậy. Trƣờng Chinh cũng nói trong thơ Hồ Chủ tịch
đều mang chất thép, đều toát ra tƣ tƣởng và tình cảm của một chiến sĩ vĩ đại.
Trong tập “nhật ký bằng thơ” này, một mặt ta thấy có những bài trực tiếp nói