Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Hồ Anh Thái - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


PHẠM THỊ NGỌC HÀ
NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG SÁNG TÁC
CỦA HỒ ANH THÁI
LUÂN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
CỦA HỒ ANH THÁI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN BÍCH THU

HÀ NỘI - 2009

3
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7
3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI 13
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 15

3.2. HỢP XƢỚNG GIỌNG ĐIỆU 94
3.2.1 Giọng điệu hài hƣớc 94
3.2.2. Giọng điệu châm biếm 96
3.2.3. Giọng điệu giễu nhại 98
3.2.4. Giọng điệu triết lý 100
3.3. NGÔN NGỮ ĐA THANH, HIỆN ĐẠI 102
3.3.1. Ngôn ngữ thị dân hiện đại 102
3.3.2. Sự phức hợp của các hệ lời 104
3.3.3. Các thủ pháp lạ hóa ngôn ngữ 106
3.3.4. Một số biện pháp tu từ 108
KẾT LUẬN 112
THƢ MỤC THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.

5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Văn học Việt Nam từ sau năm 1975 đặc biệt là từ những năm 1980
trở lại đây đã chứng kiến sự trở lại của tiếng cƣời trào phúng sau một thời gian
vắng bóng. Hiện tƣợng này cho thấy những thay đổi đáng kể trong quan niệm,
tƣ duy nghệ thuật của nhà văn về hiện thực cuộc sống và con ngƣời. Sự “phục
sinh” tiếng cƣời là một sự đổi thay lớn trong nội dung cảm hứng của văn xuôi
giai đoạn này. Nó xuất hiện trong các sáng tác của nhiều nhà văn, từ lớp nhà
văn lão thành nhƣ Vũ Bão, Tô Hoài, Trang Thế Hy, Ma Văn Kháng, Nguyễn

phẩm đƣợc in và dịch ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Mỹ, Anh, Pháp, Ấn Độ
Tác phẩm Hồ Anh Thái không chỉ nhiều về số lƣợng mà còn có giá trị về nội
dung và nghệ thuật, thu hút sự quan tâm của độc giả và giới phê bình.
1.3. Nhìn vào quá trình sáng tác của Hồ Anh Thái, chúng tôi tạm thời
phân chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu là những tác phẩm tràn đầy ƣớc
mơ khát vọng, niềm tin về lớp ngƣời trẻ đầy nhiệt huyết trong sự nghiệp khôi
phục và phát triển đất nƣớc sau chiến tranh; giai đoạn tiếp theo là những sáng
tác về Ấn Độ; và gần đây là những sáng tác về thành thị và đời sống công
chức. Trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái thời gian gần đây, có thể thấy một
phƣơng diện nghệ thuật nổi bật là tiếng cười trào lộng. Cùng với đó là sự thay
đổi về bút pháp nghệ thuật, từ bút pháp lãng mạn, huyền thoại hoá tới bút
pháp hiện thực, trào phúng. Đọc các tập truyện ngắn nhƣ Tự sự 265 ngày, Bốn
lối vào nhà cười, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết gây đƣợc tiếng vang đặc biệt nhƣ
Mười lẻ một đêm, có thể thấy Hồ Anh Thái là một ngƣời thích cƣời, biết cƣời
và có thể làm độc giả cƣời đƣợc. Nghệ thuật trào phúng đã giúp nhà văn
không chỉ tạo đƣợc tiếng cƣời mà còn là phƣơng tiện giúp nhà văn thể hiện

7
cách nhìn về cuộc sống và con ngƣời đƣơng thời hài hƣớc mà không kém
phần sâu sắc. Tác giả một mặt kế thừa truyền thống văn học trào phúng qua
những bậc thầy nhƣ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xƣơng, Nguyễn Công Hoan,
đặc biệt là Vũ Trọng Phụng, mặt khác, luôn có những tìm tòi, sáng tạo nghệ
thuật tạo nên sắc diện mới cho tiếng cƣời trong nhiều tác phẩm của mình.
Xuất phát từ niềm hứng thú với tác phẩm trào phúng nói chung và các tác
phẩm của Hồ Anh Thái nói riêng, chúng tôi nghiên cứu đánh giá nghệ thuật
trào phúng ở một vài tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác gần đây nhất
của Hồ Anh Thái. Tuy đây chỉ là một phần nhỏ trong thành tựu đạt đƣợc của
Hồ Anh Thái, song chúng tôi hy vọng, việc tìm hiểu về nghệ thuật trào phúng
trong sáng tác của Hồ Anh Thái cũng là một trong những cách đánh giá
những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà văn cùng những đóng

truyền thống. Hơn nữa cái này mới thật thích đây: chất trào phúng, giễu nhại
chua cay mà tâm thiện. Chất này văn chương ta thiếu quá” [48, 327]. Bằng
nhận định này, Ma Văn Kháng đã khẳng định vai trò của Hồ Anh Thái khi
góp phần đổi mới văn học theo khuynh hƣớng dân chủ hoá, thông qua việc
sáng tạo tiếng cƣời trào phúng, cái vốn có truyền thống trong văn học dân tộc
nhƣng bị đứt gãy, vắng bóng một thời gian do sự chi phối của điều kiện lịch
sử, chính trị, xã hội Nhà văn Ma Văn Kháng cũng nhận thấy những câu
chuyện của Hồ Anh Thái mở ra một góc nhìn nhân sinh, cho thấy tính đa tầng,
những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những ấn tƣợng đặc sắc thông
qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, của hôm nay
Nhiều bài viết cũng khẳng định sự hiện diện của tiếng cƣời trào phúng
trong nhiều sáng tác của Hồ Anh Thái. Trong bài viết Nói bằng lời của mình,
tác giả Võ Anh Minh nhận xét, Hồ Anh Thái là nhà văn tinh nhạy trong việc
phát hiện những thói xấu đáng cƣời, đáng chê của con ngƣời và vạch nó ra

9
bằng cái nhìn hài hƣớc. Nhƣng cái cƣời trong văn xuôi Hồ Anh Thái thật thâm
sâu, đến mức cƣời xong thì thấy ƣu tƣ, xa xót, thậm chí giật mình chợt nghĩ:
khéo ta vừa mới cƣời chính ta. Các tập truyện Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào
nhà cười, cùng tiểu thuyết Mười lẻ một đêm mới xuất bản đầu năm 2006 và
một số truyện ngắn khác là những nụ cƣời nhƣ vậy của Hồ Anh Thái. Tác giả
Võ Anh Minh cũng phân tích rõ đối tƣợng của tiếng cƣời trong sáng tác của
Hồ Anh Thái. Nếu nhƣ ở tập truyện Tự sự 265 ngày, nhà văn chủ yếu hƣớng
tiếng cƣời vào giới trí thức, công chức thì đến Bốn lối vào nhà cười, cái cƣời
có phạm vi rộng hơn, vƣơn tới bao trùm nhiều hạng ngƣời trong xã hội, nhiều
lĩnh vực khác nhau Nhiều bài viết cũng đánh giá cao tiếng cƣời trong Mười
lẻ một đêm. Tác giả Hoài Nam trong bài “Chất hài hƣớc, nghịch dị trong Mười
lẻ một đêm của Hồ Anh Thái đánh giá sáng tác của Hồ Anh Thái “có thể khiến
ta phải bật cƣời, bởi tính chất hài hƣớc của nó. ( ) kể từ khi Số đỏ của nhà
văn Vũ Trọng Phụng ra đời đến nay, văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nói chung

quệt với môi trƣờng và với các nhân vật khác” [48, 352]. Chính vì vậy mà các
nhân vật trong sáng tác của Hồ Anh Thái chinh phục ngƣời đọc một cách khá
tự nhiên, không gây cảm giác gƣợng. Theo Nguyễn Đăng Điệp: “Dấu vết các
“mối hàn” khi xây dựng nhân vật trong các trƣờng đoạn khác nhau đƣợc ngụy
trang rất khéo khiến cho ngƣời đọc không nhận thấy sự sắp xếp lộ liễu của nhà
văn. Đây là một thành công đáng ghi nhận của Hồ Anh Thái về nghệ thuật
dựng truyện và tạo “lực hấp dẫn” nhằm thu phục ngƣời đọc.”
Tác giả Hoài Nam trong bài viết: Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng
viết đăng trên báo Văn nghệ cho rằng từ năm 1995 cho đến nay, các tập truyện
ngắn Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, Sắp đặt và diễn, và tiểu thuyết
Mười lẻ một đêm “không nhƣ các giai đoạn trƣớc đôn hậu, trong sáng hoặc
tỉnh táo sắc lạnh - giọng điệu văn xuôi Hồ Anh Thái lúc này nghiêng về giễu

11
cợt, trào lộng, mỉa mai sâu cay và không hề nƣơng nhẹ trƣớc đối tƣợng.” Tác
giả nhận thấy: “trong truyện Hồ Anh Thái luôn tạo đƣợc những tình huống
“chẳng giống ai”, những tình huống truyện mang chức năng của những nút
nhấn để từ đó các panorama hiện ra với tất cả đƣờng nét và dáng vẻ xiêu xó
tức cƣời. Nhà văn phát hiện rất nhanh nhạy cái lố bịch trong đời sống, khai
thác đến cùng phƣơng diện gây cƣời của nó để đƣa vào tuyến vận động của
cốt truyện một cách thật nhuần nhuyễn. Tƣơng hợp tối đa với sự phát hiện này
là một kiểu văn phong bất chấp chuẩn mực ngữ pháp tiếng Việt, câu cú xô
lệch thụt thò, khi dài lê thê, khi cụt lủn cộc lốc.” Tác giả bài viết cũng nhận ra;
“nhân vật trong những tác phẩm này chỉ là những con rối trong bàn tay điều
khiển của nhà văn. Chúng xuất hiện và hành động chỉ để thể hiện cho cái cảm
quan của anh về một trần thế ngả nghiêng đầy rẫy sự tức cƣời.”
Nhận xét về cấu trúc truyện của Hồ Anh Thái, nhiều tác giả cho rằng Hồ
Anh Thái nhiều khi không chú trọng xây dựng cốt truyện theo diễn biến trình
tự mà thƣờng phát hiện và kết nối các chi tiết trào phúng. Tác giả Nguyễn
Vĩnh Nguyên trong bài Chợt gặp trong nhà cười nhận xét: “Cái hài đƣợc nảy

(Sinh - Lão - Bệnh - Tử) cũng có tiếng cƣời, nó biến giọng văn của Hồ Anh
Thái thành cái giọng khác: giọng châm chọc, giọng hoạt kê, đả kích, hơi giống
cái giọng của Vũ Trọng Phụng ở đầu thế kỷ trƣớc” [20]. Các tác giả nhƣ
Nguyễn Đăng Điệp, Hoài Nam, Nhị Hà đều khẳng định rằng nhà văn có
giọng điệu phong phú, đa dạng, song nổi bật lên là giọng điệu giễu nhại,
châm biếm, tạo nên tiếng cƣời trào phúng lúc nhẹ nhàng, lúc sâu cay.
Thời gian qua, các sáng tác Hồ Anh Thái cũng trở thành đề tài nghiên
cứu khoa học hoặc luận văn tốt nghiệp nhƣ: Khoá luận tốt nghiệp Tiếng cười
trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của sinh viên Nguyễn Thị Tƣơi, trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội; Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Hồ

13
Anh Thái của Nguyễn Thị Hải Huyền, trƣờng Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn thạc sĩ Cảm hứng trào lộng
trong sáng tác Hồ Anh Thái của Thiều Đức Dũng, trƣờng Đại học Vinh
Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật truyện ngắn của Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị
Vân, trƣờng Đại học Sự phạm Hà Nội
Nhƣ vậy, nhìn một cách khái quát về tình hình nghiên cứu nghệ thuật
trào phúng trong sáng tác Hồ Anh Thái qua các bài phê bình, phỏng vấn,
những công trình nghiên cứu đã tập hợp đƣợc, chúng tôi nhận thấy:
Nhìn chung, giới nghiên cứu phê bình đều nhất trí cho rằng, những sáng
tác gần đây của Hồ Anh Thái mang đậm tiếng cƣời trào lộng. Điều đó cho
thấy nhà văn đã có sự thay đổi trong tƣ duy nghệ thuật mà cụ thể là đang
hƣớng đến bút pháp nghệ thuật trào phúng, để phản ánh thế giới và con ngƣời.
Trong bối cảnh chung đó, chúng tôi nhận thấy, những nghiên cứu về nghệ
thuật trào phúng ở Hồ Anh Thái mới chỉ dừng lại ở những nhận định khái
quát, chƣa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về vấn đề này. Song, những ý
kiến đánh giá, phê bình mang tính khách quan đó thực sự là những gợi ý qúy
báu giúp chúng tôi tiếp cận và triển khai đề tài.
Với việc lựa chọn đề tài Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác Hồ

loại… để làm sáng tỏ các thủ pháp nghệ thuật trào phúng trong tác phẩm
4.2. Phương pháp so sánh
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp so sánh trên phƣơng diện đồng đại và
lịch đại để thấy đƣợc những nét độc đáo và sáng tạo của nhà văn Hồ Anh Thái
trong nghệ thuật trào phúng.
4.3. Phương pháp lịch sử
Nhìn nhận sang tác của Hồ Anh Thái trong tính lịch sử cụ thể của điều
kiện hoàn cảnh ra đời tác phẩm, từ đó nhìn nhận, lí giải đúng về thành công

15
của Hồ Anh Thái trong việc sử dụng bút pháp trào phúng để phản ánh hiện
thực.
4.4. Phương pháp tổng hợp
Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu chúng tôi sử dụng phƣơng pháp
tổng hợp để nhằm đƣa ra những kết luận, đánh giá khái quát về nghệ thuật
trào phúng trong sáng tác của Hồ Anh Thái.
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thƣ mục tham khảo, nội
dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng sau:
Chương 1: Hồ Anh Thái và những sáng tác trào phúng
Chương 2: Nhân vật, tình huống và cốt truyện trong sáng tác trào
phúng của Hồ Anh Thái
Chương 3: Phƣơng thức trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trong sáng
tác trào phúng của Hồ Anh Thái

gây cƣời, gắn liền với sự phát hiện cái xấu và nhu cầu phê phán cái xấu, cái
đáng cƣời đáng bị xóa bỏ trong xã hội.
Văn học trào phúng bao hàm lĩnh vực rộng lớn với những cung bậc cái
hài khác nhau từ truyện cƣời, truyện tiếu lâm, truyện trạng trong văn học dân
gian đến tiểu thuyết hoạt kê, từ các vở hài kịch đến các bài thơ hài hƣớc, châm

17
biếm. Ở Việt Nam, bộ phận văn học trào phúng ra đời từ rất sớm và chiếm vị
trí rất quan trọng trong nền văn học dân tộc. Các truyện cƣời, vè, truyện trạng
trong văn học dân gian đã xuất hiện tiếng cƣời trào phúng. Trong văn học viết,
văn học trào phúng phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XV- XVIII với những tên
tuổi nhƣ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hƣơng, bằng những vần thơ chống
phong kiến quyết liệt. Văn học trào phúng phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ
XIX, với đỉnh cao là Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng, văn học trào phúng trở
thành vũ khí sắc bén phê phán những mặt tiêu cực của xã hội, lên án bọn quan
lại thối nát và giả dối, chế giễu những kẻ chạy theo đồng tiền, đả kích việc thi
cử lúc bấy giờ bằng ngòi bút châm biếm sâu cay. Từ thế kỷ XX, bên cạnh thơ
ca trào phúng còn xuất hiện văn xuôi trào phúng đặc biệt là truyện ngắn và
tiểu thuyết trào phúng, hai thể loại mới xuất hiện nhƣng ngay lập tức đạt đƣợc
những thành tựu lớn, với các tác giả nổi tiếng nhƣ Nguyễn Công Hoan, Vũ
Trọng Phụng… Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, văn học trào
phúng có bƣớc phát triển thăng trầm, dù chƣa có những đỉnh cao, nhƣng văn
chƣơng trào phúng vẫn phát triển và góp phần làm phong phú diện mạo văn
học nƣớc nhà.
Nói đến nghệ thuật trào phúng là nói đến nguyên tắc cấu trúc trong việc
tổ chức một phát ngôn nghệ thuật (chẳng hạn nhƣ cách thức sử dụng từ ngữ;
câu; quy tắc thể loại; nguyên tắc xây dựng cốt truyện; nguyên tắc phong
cách). Qua đó làm bật lên tiếng cƣời trƣớc một sự vật, hiện tƣợng nào đó.
Nhìn chung, để tạo tiếng cƣời trào lộng, các tác giả thƣờng sáng tạo những
mâu thuẫn, nghịch lý, sử dụng bút pháp phóng đại, xây dựng những chân dung

Thằng ăn cắp, Thế nó chừa…mang đậm chất trào phúng, làm nổi bật lên sự
bất công có tính chất giai cấp của xã hội, sự xung đột giữa kẻ giàu ngƣời
nghèo. Nguyễn Công Hoan cũng đặc biệt sắc sảo trong việc vạch trần bộ mặt

19
tàn bạo xấu xa của giai cấp thống trị từ quan phụ mẫu, những cụ Chánh, ông
Lý ở nông thôn đến các ông chủ, bà chủ ở thành thị.
Từ đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam xuất hiện thêm những giai cấp,
tầng lớp xã hội mới: tƣ sản, tiểu tƣ sản, công nhân, dân nghèo thành
thị…Cùng với đó là làn sóng Âu hóa, vui vẻ, trẻ trung lan tràn khắp thành thị,
kéo theo lối sống kệch cỡm lố lăng. Nhƣng nguy hiểm hơn cả là sự xuống cấp
của đạo đức trong xã hội Tây- Tàu hỗn loạn. Tất cả những hiện tƣợng đó đều
đƣợc phản ánh qua “tấm gƣơng” văn học, đặc biệt là phản ánh bằng tiếng cƣời
trào phúng. Vũ Trọng Phụng là một trong số không nhiều nhà văn dùng tiếng
cƣời trào phúng để tái hiện sâu sắc và toàn diện xã hội tƣ sản thành thị láo
nháo buổi Âu hóa. Trong xã hội đó có đủ các hạng ngƣời: từ mụ mẹ Tây đĩ
thõa đến gái tân thời hƣ hỏng, từ đốc tờ đến cảnh sát, từ sƣ hổ mang đến ma
ta, ma Xiêm, toàn quyền, thống Sứ…tất cả chìm đắm trong phong trào Âu
hóa, cổ động cho phong trào Âu hóa. Trong xã hội đang quay cuồng vì Âu hóa
ấy, nhà văn phát hiện những cái bịp bợm, giả dối…Theo nhà phê bình Hoàng
Ngọc Hiến, văn hài hƣớc của Vũ Trọng Phụng đặc biệt khởi sắc, đặc biệt dí
dỏm và hóm hỉnh khi miêu tả cái rởm tự trình bày một cách hồn nhiên và
ngang nhiên.
Nếu nhƣ ở Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, cảm hứng trào lộng
bắt nguồn từ hiện tƣợng xã hội rộng lớn, thì Nam Cao lại đi sâu khai thác ở
kiếp “Sống mòn” của giới trí thức, tiểu tƣ sản lúc bấy giờ. Nam Cao không
chuyên về trào phúng nhƣng những sáng tác về đề tài trí thức, tiểu tƣ sản của
ông vẫn thấp thoáng tiếng cƣời. Đối tƣợng tiếng cƣời Nam Cao không phải là
bản thân sự “Sống mòn” mà là sự không cƣỡng lại đƣợc tình trạng “Sống
mòn” do thèm khát những dục vọng tầm thƣờng. Tiếng cƣời Nam Cao nhằm


21
phúng tìm tòi, sáng tạo nhiều thủ pháp nghệ thuật gây cƣời để nhằm châm
biếm, hay đả kích cái xấu.
Nhƣ đã nói ở phần trên, tùy vào từng giai đoạn với điều kiện lịch sử
khác nhau mà văn học trào phúng có những đặc điểm khác nhau. Thậm chí có
giai đoạn gần nhƣ thiếu vắng tiếng cƣời trào phúng. Đó là từ năm 1945 đến
năm 1975, cả dân tộc đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lƣợc, bảo vệ Tổ quốc. Văn học giai đoạn này vận động và phát triển
dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đƣờng lối văn nghệ của Đảng
là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên một nền văn học thống nhất về
khuynh hƣớng, quan niệm nghệ thuật. Khuynh hƣớng tƣ tƣởng chủ đạo của
nền văn học mới là tƣ tƣởng cách mạng, văn học trƣớc hết phải là vũ khí phục
vụ sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, văn học giai đoạn này gắn bó sâu sắc với vận
mệnh chung của đất nƣớc; văn học hƣớng về đại chúng công-nông-binh, mang
khuynh hƣớng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Gánh vác nhiệm vụ chính trị,
văn học trở nên trang nghiêm hơn lúc nào hết để phản ánh cuộc chiến đấu của
dân tộc. Cảm hứng ngợi ca đã chi phối toàn bộ các sáng tác của nhà văn, nhà
thơ giai đoạn này. Tiếng cƣời với ý nghĩa phê phán xã hội gần nhƣ bị đứt gãy,
chìm khuất.
Thế nhƣng từ sau 1975 đến nay, cảm hứng trào lộng lại bắt đầu nảy
sinh. Văn học trào phúng hồi sinh mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu xuất sắc.
Sự xuất hiện trở lại của tiếng cƣời trong văn học sau 1975 có tiền đề từ cơ sở
kinh tế xã hội của đất nƣớc. Chiến tranh qua đi, con ngƣời lại trở về cuộc sống
bình thƣờng. Cuộc sống không có chiến tranh máu lửa, nhƣng lại xuất hiện và
bộc lộ bao nhiêu vấn đề phức tạp. Cơ chế thị trƣờng và hội nhập quốc tế một
mặt đem đến điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, nhƣng mặt khác
lại bộc lộ nhiều mặt trái đáng lo ngại. Đó là sự suy thoái đạo đức, lối sống của
một bộ phận ngƣời trong xã hội, là sự xuống cấp của nhiều lĩnh vực trong xã


lại, văn học khám phá mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội đƣơng thời thông qua
tiếng cƣời trào phúng. Mặc dù khó tìm đƣợc những cây bút chuyên về trào
phúng đạt đến mức độ bậc thầy nhƣ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng
nhƣ trƣớc đây, nhƣng có thể thấy từ sau 1975 đến nay, nhiều nhà văn đã lấy
tiếng cƣời là phƣơng tiện để thể hiện cách nhìn, cách cảm của mình trƣớc hiện
thực cuộc sống. Sự nở rộ của tiếng cƣời cùng cảm hứng trào lộng hiện diện
trong nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại, đặc biệt là trong văn xuôi của nhiều
tác giả, từ thế hệ các nhà văn lão thành đã đi qua chiến tranh nhƣ Nguyễn Minh
Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải… đến những cây bút xuất hiện từ sau đổi
mới nhƣ: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái… Nó đã chi phối
đặc điểm bút pháp, ngôn ngữ, giọng điệu… của các tác giả nói trên.
Cảm hứng trào lộng đã cho thấy khuynh hƣớng đổi mới quan trọng
trong cách nhìn và quan niệm về con ngƣời và cuộc sống, dẫn tới những cách
tân trong hình thức của văn xuôi nghệ thuật. Từ sau 1975, nằm trong xu
hƣớng đổi mới văn học nghệ thuật, những nhà văn lấy cảm hứng trào lộng để
phản ánh hiện thực cũng tìm tòi sáng tạo về mặt hình thức nghệ thuật để tạo
nên tiếng cƣời trào phúng khi nhẹ nhàng, hóm hỉnh, khi châm biếm, sâu cay.
Về xây dựng nhân vật, nhiều nhà văn không chú trọng xây dựng nhân vật điển
hình, càng không muốn xây dựng kiểu nhân vật lí tƣởng, mẫu mực. Nhân vật
trong những tác phẩm mang đậm tính trào phúng chỉ là những con ngƣời bình
thƣờng, trong đời sống bình thƣờng với tất cả bản chất ngƣời tự nhiên của nó.
Các nhà văn cũng không chú trọng xây dựng cốt truyện trong đó chứa đựng
những xung đột gay gắt. Có thể nhận thấy trong nhiều tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái… không phải cốt truyện nào cũng có
những tình huống gay cấn với những xung đột quyết liệt mà là những câu
chuyện về những cái bình thƣờng, nhỏ nhặt, là các trạng thái tâm linh, là
những xung đột bên trong của cá nhân. Tất cả hợp thành yếu tố thúc đẩy và

24
hình thành cốt truyện. Hiện thực đời sống cũng không diễn ra theo trục tuyến

XX đầu thế kỉ XXI có những thay đổi với tốc độ chóng mặt. Cái cũ trong cơ
chế bao cấp chƣa hẳn đã mất hết đi, trong khi cái mới ồ ạt xuất hiện, làm nảy
sinh những cái kệch cỡm, lố bịch. Thời đại kinh tế thị trƣờng một mặt thúc
đẩy sự phát triển của đất nƣớc, mặt khác lại bộc lộ những mặt trái của nó, tác
động đến các mối quan hệ của con ngƣời. Tâm thế sống của con ngƣời cũng
thay đổi vì chạy theo tiền bạc, danh vọng, tranh đua nhau để đạt đƣợc mục
đích bằng mọi thủ đoạn. Đất nƣớc thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, mục đích
là để theo kịp thời đại. Nhƣng chính sự mở cửa, hội nhập ấy đang từng ngày
từng giờ tác động đến đời sống, lối sống của nhiều ngƣời trong xã hội. Có
điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hoá khác nhau, những luồng tƣ tƣởng
khác nhau, dễ khiến ngƣời ta mất phƣơng hƣớng nếu không có điểm tựa tinh
thần vững chắc. Bằng sự nhạy cảm và sắc bén, Hồ Anh Thái nhanh chóng
phát hiện những điều phức tạp và bất ổn của xã hội đƣơng thời, nơi mà mọi
giá trị đạo đức, tƣ tƣởng văn hóa đang có nguy cơ biến dạng, đảo lộn vì đồng
tiền và cuộc sống hiện đại. Với tƣ cách là một nhà văn trƣởng thành trong thời
kỳ đổi mới, Hồ Anh Thái cũng nhận thấy nếu phản ánh bằng một hiện thực
nghiêm ngặt, hay là chủ nghĩa hiện thực theo kiểu truyền thống sẽ giống nhƣ
là một ca phẫu thuật mà không sử dụng thuốc giảm đau. Có thể nhà văn, với
phƣơng pháp ấy, sẽ mổ xẻ, phơi bày những cái ung nhọt của xã hội, nhƣng
biết đâu sẽ gây cảm giác đau đớn, nặng nề cho ngƣời đọc. Hồ Anh Thái đã tìm
đến bút pháp trào phúng để phản ánh hiện thực cuộc sống, giống nhƣ tìm một
liều thuốc giảm đau cho một cuộc phẫu thuật. Ở đây, rõ ràng là nhà văn ý thức
đƣợc sức mạnh của nghệ thuật trào phúng trong việc tìm và đƣa ra ánh sáng
những cái phức tạp, bất ổn và quay cuồng của cuộc sống. Các yếu tố trào lộng
là những phƣơng thuốc thần kỳ làm nổi rõ những cái hài hƣớc, lệch chuẩn của

Trích đoạn Tình huống mâu thuẫ n hài hƣớc Tình huống kỳ ảo Chuỗi tình huống nghịch dị trong Mười lẻ một đêm MỘT SỐ CẤU TRÚC CỐT TRUYỆN ĐỘC ĐÁO Xâu chuỗi các chi tiết trào phúng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status