ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ ĐÌNH VỤ
NHÂN VẬT THA HÓA
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ ĐÌNH VỤ
Vũ Đình Vụ
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự tận tính chỉ bảo của PGS.TS
Trương Đăng Dung, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn này. Qua luận văn,
tôi xin gửi đến PGS.TS Trương Đăng Dung lời cảm ơn chân thành và lòng
biết ơn sâu sắc nhất. Trong suốt thời gian thực hiện, thầy đã luôn tận tính chỉ
dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Qua luận văn, tôi cũng xin gửi lời biết ơn chân thành đến quý thầy cô
trong khoa Văn học, các thầy cô phòng sau đại học, thầy cô trong thư viện
trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi
nhất giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi mong luận văn này như một lời cảm ơn để gửi tới bạn
bè, gia đính và đặc biệt là người vợ thân yêu đã cổ vũ, động viên và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trính học tập cũng như nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Một lần nữa, xin chân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
VŨ ĐÌNH VỤ
1
2.2.5. Nhân vật sống nhẫn tâm, độc ác. 65
2.2.6. Nhân vật biến dạng. 72
Chƣơng 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT THA HÓA
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ ANH THÁI 77
3.1. Nghệ thuật mờ hóa nhân vật. 79
3.1.1. Không lai lịch. 79
3.1.2. Không ngoại hính. 81
3.1.3. Không đời sống nội tâm. 83
3.2. Nghệ thuật đặt tên nhân vật. 84
3.3. Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật. 89
3.4. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật. 92
3.5. Giọng điệu giễu nhại. 95
3.6. Nghệ thuật xây dựng nhân vật bản năng. 99
3.7. Nghệ thuật xây dựng nhân vật biến dạng. 101
C. PHẦN KẾT LUẬN. 104
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
3
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Con người luôn là chủ đề trung tâm của văn học từ văn học dân gian,
văn học Trung đại đến văn học hiện đại và văn học hậu hiện đại. Với tư cách
là sinh vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con người luôn sống có ý
thức và tự tạo nên "cái tôi" riêng biệt. Sự hính thành và phát triển của nhân
cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội để xác lập "cái
tôi" cá nhân. Sự biến đổi to lớn, sâu sắc của đời sống kinh tế – xã hội tác động
mạnh mẽ đến con người cũng như sự hính thành nhân cách con người.
Khi đất nước chuyển sang phát triển theo nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập, nước ta tiến một bước dài về
kinh tế xã hội cũng như đời sống và quyền con người. Nhưng khi mà giá trị
Hồ Anh Thái còn nhín thấy sự tha hóa ở con người đương đại. Với Hồ Anh
Thái, xã hội càng phát triển thí con người càng trở nên tha hóa. Đằng sau
sự tha hóa của con người là cả một xã hội nhố nhăng, ngổn ngang không gí
cải biến được.
Tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn nhận được sự quan tâm của công
chúng bởi phong cách viết trẻ trung và cách nhận thức đời sống sâu sắc. Sáng
tác của Hồ Anh Thái có nhiều cách tân nghệ thuật, với cách viết và lối tư duy
nghệ thuật mới mẻ theo hướng hội nhập với kĩ thuật viết hậu hiện đại so với
các nhà văn cùng thời. Đặc biệt, cách xây dựng nhân vật của Hồ Anh Thái
thường mang đến những bất ngờ cho độc giả, nhất là cách xây dựng nhân vật
tha hóa. Tím hiểu con người tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái là góp
phần tím hiểu thế giới nhân vật trong sáng tác của tác giả nói riêng và của các
nhà văn hiện nay nói chung, đó là lì do chúng tôi chọn “Nhân vật tha hóa
trong sáng tác của Hồ Anh Thái” làm đề tài cho luận văn này.
5
2. Lịch sử vấn đề.
Với lối viết trẻ trung cùng kĩ thuật viết hiện đại, sáng tác của Hồ Anh
Thái luôn thu hút sự quan tâm của dư luận từ bạn đọc đến giới phê bính trong
và ngoài nước. Dư luận về Hồ Anh Thái tập trung chủ yếu tập trung trong giới
chuyên môn qua những công trính nghiên cứu, phê bính, đánh giá, giới thiệu
sách, những khóa luận tốt nghiệp của sinh viên và luận văn của học viên trong
các trường đại học. Những công trính nghiên cứu, đánh giá về sáng tác của
Hồ Anh Thái là khá cô đọng, có giá trị định hướng và khơi gợi sự khám phá.
Chúng tôi có thể lược ra những bài viết, phê bính, đánh giá tiêu biểu về
nhà văn Hồ Anh Thái cũng như sáng tác của anh:
Trong Giấc mơ lạ tặng cho người đọc, Nguyễn Thị Minh Thái nhận
xét: “Trong tình hình bộn bề xuất bản hôm nay, lạ nhất là tiểu thuyết Hồ Anh
Thái vẫn có chỗ đứng riêng trên thương trường sách văn học, vẫn được số
lớn người có nhu cầu đọc, và nóng lòng chờ đợi; và chờ đợi theo cách riêng
Trong Người luôn làm mới mình, Tôn Phương Lan nhận xét: “Dường
như với anh, viết là một sự khai phá mới trên mảnh đất đã có chi chít dấu
chân. Tạo ra một “thương hiệu” cho mình, chí ít là anh đã làm đa dạng
gương mặt văn chương đất nước những năm đầu của thế kỉ mới” [77. tr. 267].
Đây là nhận xét hoàn toàn chình xác ví với sự hiểu biết có chiều sâu về lịch sử
xã hội cùng với thiên chức của một nhà văn thực tài, anh viết về cuộc sống
tươi nguyên đang cuồn cuộn chảy trước mắt. Có thể nói, anh là người chuẩn
bị tương đối đầy đủ về mặt văn hóa, trong đó có cả những giá trị văn chương
trong nước và của nhiều nước trên thế giới. Càng dấn thân trên con đường văn
chương, nhà văn càng hiểu biết sâu hơn về văn hóa. Anh khám phá những vỉa
sâu trong tâm hồn con người và viết về những vấn đề của nó. Lúc mới cầm
bút viết văn Hồ Anh Thái đã vậy, sau này anh cũng vậy.
7
Trong Hồ Anh Thái và dấu ấn hậu hiện đại, Bùi Thanh Tuyền và Lê
Biên Thùy trong khi khảo sát 31 truyện ngắn trong hai tập Sắp đặt và diễn;
Tự sự 265 ngày đã chỉ rõ: “Hồ Anh Thái là một gương mặt tiêu biểu đã góp
công cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo dựng một thứ văn học mới có khả năng lật
trở, soi chiếu nhiều phương diện của thực tại hôm nay” [109]. Đề tài trong các
tác phẩm của Hồ Anh Thái thường ghi đậm dấu ấn về sự khủng hoảng niềm
tin của con người. Tác phẩm của Hồ Anh Thái thường xoáy sâu vào câu
chuyện về một thế giới vô nghĩa, phi lý và tương ứng với nó là hệ thống
những nhân vật nghịch dị, quái đản. Trong khi xây dựng nhân vật, Hồ Anh
Thái đã sử dụng thủ pháp dân gian hóa nhân vật ở phương thức đặt tên, lai
lịch và diện mạo. Đồng thời không chịu đi vào một khuôn phép, chuẩn mực
nào, Hồ Anh Thái đã xây dựng được những hính tượng nghệ thuật độc đáo.
Hính thức giễu nhại là một trong những đặc trưng nổi bật của phong cách
sáng tác hậu hiện đại, cũng được Hồ Anh Thái sử dụng triệt để. Nhà văn công
khai bày tỏ thái độ của mính đối với sự phi lý và bất công trong cuộc sống.
Anh đã tinh tường khi phát hiện ra cái nhố nhăng trong thực tại và bằng giễu
nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Mười lẻ một đêm của Hoàng Thị
Tố Nga đã đề cập đến vấn đề tha hóa và nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa
trong tác phẩm và của con người trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, công trính
nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi trong tiểu thuyết Mười lẻ
một đêm, chưa khảo sát một cách đầy đủ sáng tác của Hồ Anh Thái nên con
người tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái chưa được nhín nhận một cách
sâu sắc, toàn diện và đầy đủ.
Trong Hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái , Lê Thị Kim Dung cũng đã chỉ ra các nhân vật trong
sáng tác của Hồ Anh Thái dấn thân vào con đường băng hoại đạo đức nên tha
hóa, đồng thời tác giả cũng đưa ra những biện pháp nghệ thuật mà Hồ Anh
9
Thái sử dụng để xây dựng nhân vật của mính. Nhưng tác giả luận văn mới
phần nào đề cập đến con người tha hóa, chưa chỉ ra những biện pháp nghệ
thuật xây dựng nhân vật tha hóa của Hồ Anh Thái.
Trong Nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Điêu Thị Tú
Uyên, tác giả mới chỉ đề cập đến nhân vật trong truyện ngắn của Hồ Anh
Thái, chưa đề cập đến nhân vật trong tiểu thuyết mà tiểu thuyết mới là “giấc
mơ dài” nhà văn.
Trên tinh thần tiếp thu từ những gợi mở của các nhà nghiên cứu đi
trước, chúng tôi mong muốn đi sâu vào nghiên cứu và phân tìch nhân vật tha
hóa và nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh một
cách toàn diện và đầy đủ hơn. Điều đó không chỉ xác định giá trị của những
đóng góp trong sáng tác của Hồ Anh Thái cho nền văn học mà còn khẳng
định tài năng cũng như vị trì của nhà văn gốc Nghệ này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Luận văn có nhiệm vụ đi sâu tím hiểu nhân vật tha hóa trong sáng tác
của Hồ Anh Thái, qua đó thấy được giá trị của những sáng tác của tác giả
trong đời sống văn chương, thấy được phần nào hiện thực cuộc sống trong xã
cứu là: phương pháp phân tìch – tổng hợp; phương pháp thống kê – phân loại;
phương pháp so sánh – đối chiếu.
6. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Thƣ mục tài liệu tham khảo,
luận văn được trính bày trong 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Vài nét về văn xuôi sau đổi mới 1986 và hiện tượng Hồ Anh
Thái.
Chương 2: Nhân vật tha hóa và một số kiểu nhân vật tha hóa trong sáng
tác của Hồ Anh Thái.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ
Anh Thái.
11
B. PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI SAU ĐỔI MỚI 1986 VÀ HIỆN TƢỢNG
HỒ ANH THÁI.
1.1. Tình hình chính trị xã hội và tình hình văn học.
1.1.1. Tình hình chính trị xã hội.
Chiến dịch Hồ Chì Minh kết thúc thắng lợi đã mở ra một kỉ nguyên
mới cho lịch sử nước nhà. Đất nước thoát khỏi cuộc chiến nhưng hậu quả của
chiến tranh để lại hết sức nặng nề. Cùng với đó là cơ chế quan liêu bao cấp đã
không còn phù hợp với tính hính thực tế của đất nước. Điều đó đòi hỏi một
công cuộc cải cách toàn diện đất nước để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng
hoảng đang ngày càng trầm trọng.
Từ ngày 15 – 18/12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã diễn ra
tại Hà Nội. Đại hội đổi mới của Đảng đã dám nhín thẳng vào sự thật, nói rõ sự
thật, đánh giá đúng sự thật mà trước hết là chỉ ra những nguyên nhân sâu xa
của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng. Những sai lầm và khuyết
điểm trong lãnh đạo kinh tế – xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong
văn. Nhưng mỗi nhà văn lại sống trong một thời đại cụ thể, chịu sự chi phối
bởi một hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa cụ thể nào đó. Vì thế, xét đến cùng,
tác phẩm văn học là con đẻ của thời đại và về một phương diện nào đó, nó
mang dấu ấn của thời đại sản sinh ra nó”[68. tr.12]. Chình ví thế, sau Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 năm 1986, cùng với sự đổi mới về kinh
tế, chình trị thí văn học cũng có những bước chuyển mính mạnh mẽ để vươn
lên những đỉnh cao mới. Yêu cầu đổi mới văn học đòi hỏi nhà văn phải nhín
con người trong những mối quan hệ đời thường đầy đa đoan và phức tạp,
khám phá con người ở khìa cạnh đời tư bằng cặp mắt nhiều chiều và bằng
cách viết đa thanh. Quá trính đổi mới văn học ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi
động và đa dạng trên các thể loại: văn xuôi, thơ, kịch, lý luận phê bính, văn
13
học dịch và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Các nhà văn đã dành tất cả tâm
lực của mính cho một cuộc đổi mới toàn diện văn chương như đổi mới quan
niệm, cách viết, đề tài… và đặc biệt nhất là đổi mới quan niệm nghệ thuật về
con người với nội dung dân chủ và nhân bản sâu sắc.
Cuộc gặp gỡ giữa đồng chì Tổng Bì thư Nguyễn Văn Linh với gần 100
văn nghệ sĩ và các nhà hoạt động văn hoá vào tháng 10 năm 1987 có ý nghĩa
rất quan trọng về tư tưởng và tâm lì. Cuộc gặp gỡ đã thực sự “cởi trói” cho
văn học, để văn học có “thêm dũng khí và hào hứng mà tự cứu mình” [22, tr.
134]. Từ việc chỉ ra đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng đến
sự khuyến khìch văn nghệ sĩ tím tòi, sáng tạo, yêu cầu có những thể nghiệm
mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hính, thể
loại nghệ thuật và các hính thức biểu hiện. Sau cuộc gặp gỡ, đời sống văn học
nghệ thuật diễn ra rất sôi nổi. Bên cạnh những cây bút gạo cội thí một loạt cây
bút trẻ xuất hiện tiêu biểu cho khát vọng đổi mới nền văn học, nhất là về
phương diện thể nghiệm và tím hướng đi mới.
Chiến tranh kết thúc, con người phải đối diện với những vấn đề thế sự,
nhân sinh và cả những chuyện rất riêng tư, văn học tất yếu phải đổi mới theo
gia vào hoạt động văn nghệ như thế, từ thế hệ nhà văn trưởng thành trong
kháng chiến chống Mĩ đến các nhà văn trưởng thành sau công cuộc đổi mới
1986. Nếu Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… đã
dũng cảm thay đổi mính để trở thành những cây bút tiên phong của văn học
đổi mới thí sự xuất hiện của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…
đã đưa tiến trính đổi mới nền văn học trở nên sôi động và tạo bước ngoặt mới
trong sự phát triển của văn học dân tộc. Khi Nguyễn Bính Phương, Hồ Anh
Thái, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị
Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, … xuất hiện thí văn học đổi
mới đạt thành tựu rực rỡ. Mỗi nhà văn một phong cách, góp thêm cho văn học
15
đổi mới những tiếng nói riêng, phong phú và đa dạng. Những năm trở lại đây,
nền văn học nước nhà còn xuất hiện thêm những gương mặt mới làm rạng rỡ
nền văn học dân tộc như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bìch Thúy,
Nguyễn Đính Tú, Di Li, Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Cẩm… đưa nền
văn học nước nhà tiến kịp với tiến trính của nền văn học thế giới.
Tuy sự liệt kê đó chưa đủ nhưng từng đó cũng đủ cho chúng ta thấy đây
là lực lượng rất hùng hậu, tạo nên sự sôi động trong đời sống văn chương sau
công cuộc đổi mới và văn học thời kí đổi mới là một bức tranh phong phú, đa
dạng, đậm sắc màu, thậm chì rất phức tạp. Mỗi người một dáng vẻ, một giọng
điệu riêng nhưng tất cả đã góp phần hính thành diện mạo mới cho nền văn
đương đại, đặc biệt là những nhà văn trẻ. Tất cả cho hiệu quả của công cuộc
đổi mới của văn xuôi đương đại.
Công chúng đón nhận và theo dõi văn học với sự thìch thú đáng ngạc
nhiên. Nhiều cuộc tranh luận gay gắt diễn ra. Những tác phẩm từng gây xôn
xao dư luận một thời như: Thời xa vắng của Lê Lựu; Thiên sứ của Phạm Thị
Hoài; Tướng về hưu, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp; Bên kia bờ ảo vọng
của Dương Thu Hương; Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn
Kháng; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu;
thời nói lên được sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh
động và trung thực về con người.
Đối tượng trong sáng tác của Hồ Anh Thái là cuộc sống và con người
thời mở cửa, đó là giới công chức nhà nước, giới trì thức, sinh viên, giới trẻ…
Sự xuống cấp trong nhân cách, lối sống, đạo lý, văn hóa của họ phần nào
phản ánh sự xuống cấp của xã hội đương đại với nhiều phức tạp và bất ổn. Tất
cả được nhà văn khám phá, mổ xẻ, lật tẩy bằng một chất giọng khách quan,
lạnh lùng và đậm chất trào phúng, hài hước.
17
1.2. Hồ Anh Thái – hiện tƣợng độc đáo của nền văn học đƣơng đại.
1.2.1. Vài nét về tác giả.
Hồ Anh Thái sinh năm 1960, quê gốc ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh
Lưu, tỉnh Nghệ An nhưng anh sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Thuở nhỏ Hồ
Anh Thái từng sống ở Nam Định cùng gia đính và ngay từ nhỏ anh đã phải sơ
tán về nông thôn để tránh bom đạn kẻ thù. Anh không thuộc thế hệ trực tiếp
cầm súng chống giặc nhưng anh được chứng kiến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc của dân tộc.
Hồ Anh Thái sống một mính trong căn nhà nhỏ, lối đi vào cũng nhỏ
ở phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Anh không thìch đàn
đúm, không thìch nhậu nhoẹt nên hiếm khi anh mời ai về nhà. Anh sống
trọn vẹn trên căn gác, với bốn bề là sách và băng đĩa. Trong đó rất nhiều
sách tiếng Anh, sách ấn Độ và những cuốn sách của anh bằng cả tiếng
Việt lẫn tiếng Anh.
Hồ Anh Thái tốt nghiệp phổ thông năm 1977 rồi học Đại học Ngoại
giao và nhận được bằng cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế năm 1983. Sau khi
tốt nghiệp, anh về làm việc ở Bộ Ngoại giao rồi đi lình.
Năm 1988, Hồ Anh Thái sang học tập và làm việc ở Đại sứ quán Việt
Nam tại ấn Độ và anh sống tại đất nước này sáu năm. Đây là một bước quan
trọng trên đường đời nhà văn. Anh trở thành nhà ấn Độ học khi tuổi đời còn
sung sức nhất và được đón đọc nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay. Hồ Anh Thái
viết văn như một thứ lao động nghiêm ngặt, anh chăm chút cho từng câu chữ
với tinh thần không chấp nhận cái gí sẵn có, không thụ động chờ cảm hứng
đến rồi mới cầm bút viết.
Với những cống hiến cho nền văn học nước nhà, Hồ Anh Thái được
nhận Giải thưởng truyện ngắn 1983 –1984 của báo Văn nghệ với truyện
Chàng trai ở bến đợi xe; Giải thưởng văn xuôi 1986 – 1990 của Hội Nhà văn
19
Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với tiểu thuyết Người và xe
chạy dưới ánh trăng; Giải thưởng văn học 1995 của Hội Liên hiệp Văn học
Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn Người đứng một chân. Giải thưởng
của Hội Nhà văn Hà Nội 2012 cho tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột, tác
phẩm ghi nhận sự tím tòi, đổi mới cách viết của tác giả, đồng thời phản ánh
một cách hài hước, sâu cay hiện thực đời sống của Hà Nội.
Là nhà văn có cá tình sáng tạo, Hồ Anh Thái đã và đang cho ra đời
những những tác phẩm mới với những thử nghiệm độc đáo và mới lạ để tác
phẩm của mính luôn hấp dẫn. Hồ Anh Thái thực sự là một hiện tượng độc đáo
của nền văn chương đương đại Việt Nam.
1.2.3. Quan niệm văn chƣơng.
Hồ Anh Thái có thói quen đọc rất nhiều ngay từ thời niên thiếu. Anh
đọc ngấu nghiến, dồn dập ngay từ khi còn nhỏ nên anh sớm hiểu về cuộc
chiến tranh trên quê hương mính ở phương diện văn hóa – xã hội. Đến khi
cầm bút, anh quyết định không bắt chước các nhà văn đàn anh mà tạo cho
mính một hướng đi riêng. Anh cho rằng để tím một hướng đi cho mính, thế hệ
hậu chiến phải nhận món nợ từ quá khứ nhưng cũng phải thay đổi, phải phê
phán, đồng thời phải xây dựng trên nền tảng quá khứ. Có thể nói, Hồ Anh
Thái là nhà văn chuẩn bị tương đối đầy đủ về mặt văn hóa, trong đó có cả
những giá trị văn chương, không chỉ văn chương trong nước, mà cả văn
chương thế giới. Càng dấn thêm trên con đường văn chương, nhà văn càng
văn là người biết được mình không nên viết gì […] Chớ viết nhờn tay quen
tay. Chớ viết vì ngứa chân ngứa tay ngứa da đầu” [84, tr.107]. Đó là một
quan niệm hết sức nghiêm túc về văn chương, đồng thời là lương tâm nghề
nghiệp và ý thức trách nhiệm đối với ngòi bút ví nghề văn là một hoạt động
sáng tạo và người nghệ sĩ là một người sáng tạo. Anh đã lao động khó nhọc
trên từng câu chữ để tím kiếm, khám phá, đấu tranh tự vượt lên mính để
hướng tới những sáng tạo đìch thực. Chỉ có tím tòi, khám phá và sáng tạo thí
21
mới tím thấy bản ngã đìch thực của mính, mới khẳng định vị trì của mính trên
văn đàn. Trong những thập kỷ qua, Hồ Anh Thái đã đạt được những thành tựu
đáng kể trong lao động “trên từng con chữ” của một nhà văn thực sự coi việc
viết là một nghề. Với anh, nhà văn chuyên nghiệp phải biết tự ép mính vào
một thứ kỷ luật viết và phải biết “ngồi vào bàn và anh phải có đủ kĩ năng để
huy động cảm hứng đến” [78, tr.255]. Hồ Anh Thái tự đặt lịch là mỗi ngày
phải đều đặn viết ìt nhất hai tiếng. Với ý thức và lương tâm nghề nghiệp đúng
đắn, cho nên hầu như năm nào độc giả cũng được tiếp nhận tác phẩm mới của
Hồ Anh Thái.
Với một quan niệm đúng mực về nghề văn, Hồ Anh Thái đã tạo cho
mính một giọng điệu đa phong cách. Anh luôn tím tòi, sáng tạo, đổi mới để
không lặp lại chình mính và không lặp lại phong cách của người khác. Cũng
trong Phong cách không phải là cái vỏ ngoài bất biến và ngoan cố, Hồ Anh
Thái mong muốn: “Các công cụ văn chương mà thế giới này có, tôi đều muốn
sử dụng. Đồng thời tôi là người không bằng lòng với những gì sẵn có và dễ
kiếm, cho nên luôn tìm cách tạo ra những công cụ mới” [86, tr.223]. Thành quả
trong cuộc khám phá ấy mang lại niềm cảm hứng cho chình tác giả. Hồ Anh
Thái đã luôn thay đổi, tự làm mới mính qua đề tài, cảm hứng và phương pháp
sáng tác. Trong cuộc phỏng vấn của báo Người lao động, Hồ Anh Thái chia sẻ:
“Hiện thực và không gian nghệ thuật của mỗi cuốn sách đòi hỏi một cách xử lý
riêng, một giọng điệu riêng, một văn phong riêng. Tôi tránh lặp lại người khác