Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGÔ HÀ GIANG

SỰ SỐNG VÀ CÁI CHẾT TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

Hà Nội – 2010
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
1
Phần Mở Đầu

1. Lý do chọn đề tài
Nước Việt Nam – đất nước bốn ngàn năm lịch sử, là con dân đất
Việt, chúng ta có nhiều điều để tự hào với bạn bè khắp năm châu bốn biển,

Là người con đất Việt, “sẵn” mang trong mình “hồn thơ”, “nguồn
thơ”, cho nên chúng tôi chọn thơ làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài luận
văn của mình, điều này giải thích cho câu hỏi rằng: tại sao lại chọn thơ?
Thơ ca Việt Nam có một lịch sử đáng tự hào. Tạo dựng nên một
“công trình” kỳ vĩ như vậy có sự đóng góp của rất nhiều thi sĩ tài năng trên
con đường phát triển của nó. Chế Lan Viên là một trong số những con
người được “khắc tên” trên “đại lộ danh vọng” của thi đàn nước nhà.
Chế Lan Viên sống và sáng tác trọn đời trong thế kỷ XX. Ông có một
sự nghiệp thơ ca vô cùng đồ sộ. Không chỉ là sáng tác thơ, mà còn sáng tác
văn xuôi và tiểu luận, phê bình, ông luôn là một trong những người đi đầu
cho việc phát triển thơ ca Việt Nam thế kỷ XX, như đánh giá của Hoài
Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: “Con người này quả là con
người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường hòng mà
đo được”.
Thơ Chế Lan Viên đặc biệt vì nhiều lẽ, mà một trong những điều đặc
biệt, đáng chú ý nhất về thơ ông đó là nhà thơ “mang phong cách triết gia”.
Cho đến nay, mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhiều
học giả đều thừa nhận dân tộc ta vốn không có truyền thống triết học,
truyền thống tư tưởng. Bằng chứng là với bốn ngàn năm lịch sử, hầu như
chúng ta không sản sinh ra nhà tư tưởng thực thụ nào, không cho ra đời bất
cứ một học thuyết nào. Tuy nhiên, ở mức độ không tập trung, thỉnh thoảng
vẫn bắt gặp tính chất triết lý, triết luận trong các câu nói của các tác giả
dân gian. Còn trong các tác giả văn học viết thời trung đại, tính chất triết lí
có xuất hiện trong thơ Đường luật, thơ Thiền thời Lý – Trần, thơ Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Đáng
chú ý trong thơ trung đại có hẳn một nhà thơ được người đời phong tặng là
nhà thơ triết lý, đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đến thời hiện đại, nhiều nhà thơ
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang

Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
4
và giới thiệu, NXB GD, 2007. Trong cuốn sách này, với gần 700 trang
sách, tác giả đã tuyển chọn và giới thiệu một cách hệ thống và khá toàn vẹn
những công trình tiêu biểu nghiên cứu về thơ – văn Chế Lan Viên, cùng với
đó là một thư mục phong phú, đầy đủ. Phải nói rằng vì đây là một mảng đề
tài quen thuộc, cho nên hầu như các khía cạnh của sự nghiệp thơ Chế Lan
Viên ít nhiều đã được đụng chạm, chỉ có là mức độ đậm nhạt, độ nông
sâu khác nhau mà thôi. Tuy nhiên có một mảng đề tài quan trọng đó là sự
sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên chưa được tìm hiểu, nghiên cứu
một cách có hệ thống và toàn vẹn. Ý thức về sự sống, cái chết là một nội
dung quan trọng xuyên suốt đời thơ Chế Lan Viên, nội dung này vừa
mang tính cá nhân, vừa mang tính thời đại. Đây không chỉ là chuyện về
sự sống – cái chết, mà đó còn là suy nghiệm về lẽ mất – còn, về tồn tại và
hư vô, về ý nghĩa cuộc sống… Vì vậy trong luận văn này chúng tôi mạnh
dạn lựa chọn vấn đề sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên nhằm góp
phần nhỏ bé trong việc tìm hiểu sự nghiệp thơ Chế Lan Viên.
3. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tất cả các tập thơ trong suốt sự
nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên. Trong đó, tập trung vào Điêu tàn và ba
tập Di cảo.
Đề tài giải quyết các nhiệm vụ như:
Góp phần “minh họa” cho những kết luận của lý luận văn học, chẳng
hạn: về chức năng của văn học trong đời sống xã hội; về phản ánh luận với
văn nghệ, các vấn đề về phản ánh với nhận thức – vấn đề tính chân thật
trong văn nghệ, phản ánh với biểu hiện – thế giới chủ quan của nhà văn với
sáng tác, phản ánh với tác động (và thông báo) – văn nghệ với thực tiễn
đời sống; về bản chất và quy luật phát triển của văn nghệ; về tính dân tộc

5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, và Phần kết
luận. Trong phần nội dung có 4 chương:
Chương 1: Chủ đề về sự sống và cái chết trong thơ thời Điêu tàn
Chương 2: Quan niệm về sống, chết của nhà thơ – chiến sĩ
Chương 3: Về lẽ sống, chết của nhà thơ – triết nhân
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
6
Chương 4: Sự vận động của nghệ thuật thơ Chế Lan Viên viết về chủ
đề sự sống, cái chết
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.
công đặc sắc, đánh dấu bước phát triển mới của thơ Chế Lan Viên. Bước
vào cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, thơ ông đã đạt nhiều thành tựu
mới với các tập thơ Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài
thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) mang đậm chất chính luận, sử
thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thường. Sau ngày
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
8
đất nước giải phóng, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục
cho ra đời các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho
mình (1986).
Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi đặc sắc với các tập bút ký
Vàng sao (1942), Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966),
Giờ của số thành (1977)… Các tập tiểu luận – phê bình văn học của ông
cũng gây tiếng vang rộng rãi và có tác động tích cực vào đời sống văn học:
Vào nghề (1962), Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971),
Nghĩ cạnh dòng thơ (1981), Từ gác khuê Văn đến quán Trung Tân
(1981)…
Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mĩ, ông tham gia lãnh
đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự nhiều diễn đàn văn hóa quốc tế ở Liên
Xô, Pháp, Nam Tư, Ấn Độ, Na Uy, Thụy Điển… Ông là đại biểu quốc hội
các khóa 4, 5, 6, 7. Chế Lan Viên mất ngày 19 – 6 – 1989 tại bệnh viện
Thống Nhất.
Sau khi mất, những Di cảo thơ được nhà văn Vũ Thị Thường – vợ
nhà thơ sưu tầm, tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ I in năm 1992, Di cảo
thơ II in năm 1993 và được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1994.
Tập Di cảo thơ III xuất bản năm 1996 và nhiều bài thơ để lại của Chế Lan
Viên còn tiếp tục được sưu tầm, tập hợp.
Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa đã có những

lời, lý giải được một cách rốt ráo, thấu đáo những nhận xét của Hoài Thanh
thì sẽ hiểu được Điêu tàn, với những câu hỏi như: Tại sao nói nó đột ngột
xuất hiện? Tại sao nói nó như một niềm kinh dị? Tại sao nói như một Tháp
Chàm lẻ loi, bí mật?
Quả thật, Điêu tàn là: một niềm kinh dị, lẻ loi, bí mật; khi đi vào tập
thơ, ta thấy bao trùm nó là cõi chết.
1.1 Điêu tàn – thế giới chết
Đọc Điêu tàn, có cảm tưởng như cái chết, cõi chết trùm lấp cả thế
giới trong tập thơ, là nỗi ám ảnh trong tư duy thơ của Chế Lan Viên. Trong
số 36 bài thơ của tập thơ, bất cứ bài nào tác giả cũng dùng những từ ngữ,
hình ảnh nói về cái chết, liên quan đến cái chết, nằm trong trường
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
10
nghĩa, trường liên tưởng về cái chết, cụ thể như: cõi âm, linh hồn, ma
quỷ, huyệt mộ, chôn, nấm mồ, quàng liệm, máu, chém giết, chiến địa, cõi
hư vô, xương, sọ người, thi thể, xác thịt, bóng tối, rửa tan, yêu tinh, khí
tanh hôi… Những từ ngữ đó đều được tác giả sử dụng với mật độ dày
đặc, với tần suất rất cao. Có thể nói những từ ngữ, hình ảnh này là “bộ đồ
nghề cơ bản của tư duy” để tác giả nói – suy nghĩ về cái chết.
Cái chết, sự chết là một mảng, một khía cạnh, một phạm vi quan
trọng của đời sống hiện thực, quan trọng như chính sự sống vậy, vì có ai
sống mà không phải chết. Chính vì thế trong nhận thức về cái chết con
người có một hệ thống rất phong phú về từ ngữ, hình ảnh dùng để phản
ánh, nhận thức cái hiện thực khách quan, tất yếu đó. Và Chế Lan Viên đã
lựa chọn, sử dụng hầu hết cái vốn từ nằm trong trường nghĩa dùng để
nhận thức, phản ánh về cái chết. Cái chết là nơi mà tư duy, ngôn ngữ,
hồn thơ Chế Lan Viên “thường xuyên lui tới”, nó trở thành một đề tài,
chủ đề chính yếu của tập thơ. Cụ thể:

trôi); hồn ma, hồn tôi, hồn cô (Vo lụa); hồn tôi (Thu); hồn bay, hồn ma,
hồn đau (Trăng điên); hồn ta (Đợi người Chiêm nữ); hồn tôi (Xuân); xác
hồn ta, linh hồn (Cõi ta); hồn ta tê liệt, Hồn Điên, hồn tàn, hồn quạnh quẽ
(Điệu nhạc điên cuồng); hồn ta, hồn ta (Đừng quên lãng); hồn ma, phách
hồn, trong hồn, hồn ma (Mồ không); hồn tôi (Đọc sách); hồn ta (Nắng
mai); hồn (Tắm trăng); vạn cô hồn, cô hồn, hồn yêu tinh, hồn yêu tinh
(Xương khô); mảnh hồn ta (Đám ma); những linh hồn, cô hồn, các cô hồn
(Tiếng trống); cô hồn, muôn cô hồn, hồn trôi (Sông linh); tấm hồn mơ
(Máu xương); hồn ta (Xương vỡ máu trào); muôn vạn linh hồn (Đầu mênh
mang). Như vậy, ở đây từ hồn xuất hiện trong trong 29 trên tổng số 36 bài
thơ – chiếm hơn 80,5 %. Chẳng hạn như:
“Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận
Muôn cô hồn tử sĩ thét gầm vang”
(Trên đường về)
Và:
“Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo,
Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm!”
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
12
(Bóng tối)
Và vv v.
Nói đến cái chết còn thì hình ảnh sọ người, óc, đầu lâu cùng nằm
trong cùng một trường nghĩa, trường liên tưởng; và Chế Lan Viên đã sử
dụng những từ ngữ này trong tập thơ với tần suất xuất hiện là: sọ người, sọ,
chiếc sọ (Cái sọ người); sọ, đáy óc (Ta); đầu lâu (Bóng tối); đầu chiến sĩ
(Xuân về); sọ trắng, óc (Tiết trinh); đầu lâu, đầu ta (Mơ trăng); đầu rơi
(Chiến tượng); sọ dừa (Mộng); chiếc sọ dừa, đỉnh sọ (Điệu nhạc điên
cuồng); đầu sa, đỉnh sọ, đầu lâu, quỷ không đầu (Đầu rơi); đầu lâu, sọ dừa,

(Cái sọ người)
Và:
“Cành cây thắm nghiêng mình trong nắng sớm
Không phải là hài cốt vạn quân Chiêm!”
(Xuân về)
Nằm trong trường nghĩa, trường liên tưởng với cái chết còn là máu,
với những từ ngữ cụ thể trong tập thơ là: giọt máu đào (Cái sọ người); máu
cứ chảy (Ta); máu chàm cuộn (Trên đường về); máu chim muông, máu đỏ,
máu gào (Chiến tượng); máu Chàm ri rỉ chảy (Bóng tối); suối máu (Hồn
trôi); khối máu (Xuân về); máu (Tiết trinh); vụt máu (Cõi ta); máu hồng
tươi, máu cạn (Điệu nhạc điên cuồng); máu (Đừng quên lãng); máu đỏ (Mồ
không); máu, huyết đẫm, máu đỏ (Xương khô); trời huyết, dòng máu thắm,
tiếng huyết kêu rạo rực, nguồn máu chiến trường xa, huyết cuốn, giải máu
bơ vơ, máu dân Chàm (Sông linh); máu cứ tươi, máu lan cùng tủy chảy,
mạch máu, uống máu, máu đỏ (Máu xương); suối huyết, máu đào, xương
máu (Đầu rơi); giỏ huyết, máu sôi trào, họng máu (Xương vỡ máu trào);
nguồn máu vọt (Đầu mênh mang); ứ huyết (Điệu nhạc điên cuồng). Như
vậy thống kê thấy từ máu, huyết xuất hiện trong 19 trên tổng số 36 bài –
chiếm hơn 52,7 %. Vài câu thơ tiêu biểu:
“Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác,
Tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi.”
(Bóng tối)
Và:
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
14
“Mắt bừng nóng tự nhiên trào vụt máu
Hầu câm khô tan vỡ dưới lời than!”
(Cõi Ta)

“Đây chiến địa nơi đôi bên giao trận”
(Trên đường về)
Cùng trường nghĩa với chết còn có từ chôn, tác giả sử dụng với mật
độ: chôn sâu, chôn tận, chôn (Những nấm mồ); an táng (Cõi ta); quàng
liệm (Những nấm mồ). Như vậy, từ chôn xuất hiện trong 3 bài thơ trên tổng
số 36 bài, tương ứng với hơn 8,3%. Với những câu thơ tiêu biểu như:
“Nơi an táng khổ đau trong huyệt tối,
Nơi sinh sôi, nảy nở những hồn Điên.”
(Cõi ta)
Và:
“Chuỗi ngày xanh, hùa theo nhau phai nhạt,
Dệt tấm màn quàng liệm tấm hồn ta!”
(Những nấm mồ)
Gắn với cái chết còn là huyệt mộ, là nắp hòm, với những cụm từ
như: chuỗi huyệt (Những nấm mồ); huyệt tối (Cõi ta); mộ, đáy mồ, bên mồ,
mộ trống, huyệt bỏ, mồ không ; dậy vang mồ (Mồ không); nấm mộ tàn, trên
mộ tàn, trên nấm mộ, mồ u tối (Xương khô); trăm mồ, bao mồ lạnh lẽo
(Tiếng trống); nấm mộ hoang tàn (Máu xương); đáy mồ sâu (Đầu rơi); đáy
mồ sâu (Xương vỡ máu trào); chiếc hòm con, chiếc hòm con (Đám ma);
nắp hòm săng (Máu xương); chuỗi mồ (Những nấm mồ); mồ sâu (Bóng
tối); đáy mộ (Cõi ta); mồ bạc, nấm mộ (Mơ trăng). Qua thống kê cho thấy
những từ như huyệt, nấm mồ, hòm được tác giả sử dụng trong 14 bài trên
tổng số 36 bài – với tỉ lệ tương ứng là hơn 38,8%. Một vài câu thơ như:
“Cả Dĩ Vãng là chuỗi mồ vô tận,
Cả Tương Lai là chuỗi huyệt chưa thành.”
(Những nấm mồ)
Và:
“Ta hãy nghe, trong mồ sâu lạnh lẽo,
Tiếng thịt người nảy nở tiếng xương rên”
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

ma, yêu tinh xuất hiện trong 12 bài trên tổng số 36 – chiếm hơn 33,3%.
Thể hiện qua vài câu thơ như:
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
17
“Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn
Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?”
(Cái sọ người)
Và:
“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng
Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?”
(Ta)
Và vv v.
Nói đến cái chết, cõi âm, hồn ma là liên tưởng tới bóng đêm rợn
ngợp: đêm mờ rùng rợn, đêm tối (Cái sọ người); bóng tối (Trên đường về);
trong tối, một tối (Chiến tượng); cả bầu bóng tối, bóng đêm u ám (Tạo lập);
màn đêm huyền bí, mờ mịt, bóng đêm lan, đêm mờ, trời đêm, đêm trần
(Bóng tối); đêm sâu, bóng tối, bóng đêm (Đêm tàn); suốt đêm (Vo lụa);
bóng đêm kinh khủng (Trăng điên); tối, đêm (Đợi người chiêm nữ); huyệt
tối, bóng tối (Cõi ta); rùng rợn dưới trăng mờ (Mộng); những đêm u tối
(Mồ không); dằng dặc bóng đêm mờ, bóng đêm tan (Nắng mai); đêm mơ
(Xương khô); u tối (Đám ma); dày đặc khí u buồn (Tiếng trống); Hời khóc
giữa đêm sâu (Sông linh); bóng đêm luôn hoảng hốt, đêm tối (Đêm xuân
sầu); đêm mờ vắng vẻ (Đầu rơi); bóng tối (Xương vỡ máu trào). Như vậy
bóng đêm xuất hiện đầy rẫy trong tập thơ, với 20 trên tổng số 36 bài –
chiếm hơn 55,5%. Với những câu thơ như:
“Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn
Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?”
(Cái sọ người)

Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”
(Trên đường về)
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
19
Nói đến cái chết là liên tưởng đến âm khí, và Chế Lan Viên đã sử
dụng cụm từ đó cùng với các từ ngữ liên quan một cách cụ thể như: rùng
rợn dưới trăng mờ (Mộng); rợn trắng khí tinh anh (Điệu nhạc điên cuồng);
hơi âm rờn rợn, khí thiêng linh (Mồ không); hơi người chết tỏa đầy, đượm
khí tanh hôi, đẫm khí tanh hôi (Xương khô); tha ma dày đặc khí u buồn
(Tiếng trống); bãi tha ma (Sông linh); lấy hơi ma, luyện âm khí (Máu
xương); u uất khí tanh hôi (Đầu rơi); khí tanh hôi (Đầu mênh mang). Kết
quả thống kê cho thấy từ âm khí được sử dụng trong 9 bài trên tổng số 36
bài – tương ứng với 25%. Một vài câu thơ tiêu biểu như:
“Và xương khô, và sọ dừa, và thịt nát,
Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh”
(Mồ không)
Và:
“Lấy hơi ma nuôi sống tấm hồn mơ
Luyện âm khí chuyển rung bao mạch máu.”
(Máu xương)
Như vậy, từ sự thống kê nêu trên cho những con số biết nói: từ chết
được Chế Lan Viên sử dụng trong 11/36 bài thơ, chiếm hơn 30,5%; từ hồn
có mặt trong 29/36 bài, chiếm hơn 80,5%; từ sọ người có trong 12/36 bài,

tế, sâu sắc về các nhà thơ: “…hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như
Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược
Pháp, ảo nảo như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế
Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”; và: “Ta thoát
lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta
điên cuồng với Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu.
Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm
vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.
Đánh giá, nhận xét về hồn thơ Chế Lan Viên nói riêng, Hoài Thanh
có một ý kiến xác đáng: Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ
hai mươi, nó (tập Điêu tàn của Chế Lan Viên) đứng sững như một cái tháp
Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật. Tổng hợp lại cho thấy, theo Hoài Thanh:
Chế Lan Viên khác xa so với phần còn lại của phong trào thơ mới, có
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
21
chăng gần nhất là với Hàn Mạc Tử - hai người cùng đứng đầu trong
Trường Thơ Loạn.
Trước hết, so với Thế Lữ - thi nhân được xem là người có công đầu
khai sinh ra phong trào thơ mới. Cho đến khi Hoài Thanh viết Thi nhân
Việt Nam, Thế Lữ đã xuất bản: Mấy vần thơ (1935) và Mấy vần thơ, tập
mới (Đời nay, Hà Nội, 1941), tức là thời gian xuất bản gần với tập Điêu tàn
(1937). Đánh giá về Thế Lữ, Hoài Thanh có nhận xét: Thi nhân ta còn nuôi
giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Quả đúng như vậy, hồn thơ của
Thế Lữ luôn hướng tới tiên cảnh, cõi thiên thai, miền cực lạc… vừa lạ mà
quen. Lạ bởi chốn ấy chỉ có trong thi ca nhạc họa mà chưa từng được
chứng thực, nó xa cách cuộc sống trần gian, trần thế. Quen bởi cái chốn mà
Thế Lữ mơ tưởng ấy đã bắt gặp nhiều trong thi ca nhạc họa Phương Đông
cổ. Nói như vậy, ở đây không hề có hàm ý trọng khinh, mà chỉ muốn nhấn

(Vẻ đẹp thoáng qua – trích Mấy vần thơ, tập mới)
Trong Thi nhân Việt Nam, Thế Lữ có bảy bài thơ được Hoài Thanh
tuyển chọn; trong bảy bài ấy, thì có bốn bài (chiếm hơn 57,1%) viết về
chốn bồng lai tiên cảnh hoặc cảnh đẹp mơ màng, huyền diệu. Thế Lữ
mơ về chốn bồng lai tiên cảnh, Chế Lan Viên lại tìm đến cõi Hư Vô; và cõi
Hư Vô mà Chế Lan Viên thường lui tới nó khác với chốn bồng lai tiên cảnh
của Thế Lữ: cùng là thế giới của tưởng tượng, của hư cấu, cái thế giới
của cõi siêu hình; nhưng cõi Hư Vô của Chế Lan Viên thường lạnh lẽo,
u buồn, tăm tối, vắng vẻ…, đó là cái thế giới đằng sau cái chết, cõi
thẳm sâu của vũ trụ. Còn chốn bồng lai tiên cảnh của Thế Lữ đã bắt gặp
nhiều trong những chuyện cổ tích, trong huyền thoại Phương Đông: xứ sở
của các vị thần tiên, nơi họ sống thường hằng và vĩnh viễn, đầy yên bình,
thanh sạch… Ở đó có vườn đào nghìn tuổi, ở đó có các vị thần đi mây về
gió hay cưỡi hạc du ngoạn, có các cô tiên đẹp như trong cổ tích, với đôi
cánh trắng, trút bỏ xiêm y tắm trên hồ nước thuần khiết… với tiếng trúc
tuyệt vời, tiếng sáo thiên thai, cây đàn muôn điệu, vẻ đẹp thoáng qua .
Nếu như Thế Lữ là người có công khai mở, được phong là đương
thời đệ nhất thi sĩ khi Thơ Mới phát triển vào thời kỳ đầu, thì Xuân Diệu
được xem là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.
Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

Luận văn tốt nghiệp Ngô Hà Giang
23
Xuân Diệu cho xuất bản tập Thơ Thơ vào năm 1938 (Đời nay, Hà
Nội), tức là một năm sau khi Chế Lan Viên xuất bản tập Điêu tàn. Sáng tác
trong cùng khoảng thời gian ấy nhưng giữa hai nhà thơ có sự khác biệt lớn.
Tác giả của Thi nhân Việt Nam đã có một nhận xét rất hay: Với Thế
Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Xuân
Diệu đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới. Đối với Xuân Diệu, thiên
đường không phải ở chốn bồng lai tiên cảnh xa xăm nào cả, mà thiên

Thu thôi sang! Đông thôi lại não lòng tôi!”
Cùng một mong muốn, ước vọng ngông cuồng có vẻ giống nhau:
muốn thời gian ngừng chảy trôi, cuộc sống, vũ trụ ngừng vận động (Xuân
Diệu đòi tắt nắng, buộc gió; Chế Lan Viên lại muốn đất trời không xoay
chuyển nữa, xuân đừng về, hè đừng đến, thu thôi sang, đông thôi lại, tháng
ngày thôi trôi), nhưng động cơ lại hoàn toàn khác nhau, đối ngược nhau:
Xuân Diệu muốn tắt nắng, buộc gió; muốn thời gian ngừng chảy trôi,
vũ trụ ngừng vận động vì ông cho rằng cuộc sống nơi trần thế là một bữa
tiệc hấp dẫn, ngon lành, đó là món quà tặng vô giá của tạo hóa, đặc biệt
nhất là cuộc sống khi mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
……………………………………
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”
Nhưng trớ trêu thay, trong khi mùa xuân của thiên nhiên, vẻ đẹp của
đất trời, bữa tiệc của tạo hóa là vĩnh cửu, là tuần hoàn, là không bao giờ dứt
thì cuộc sống, tuổi xuân của con người lại có hạn;đời người lại ngắn ngủi,
một đi không trở lại:
“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa;
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,”

Trích đoạn Một trí tưởng tượng không thường Sự sống trong Điêu tàn Rất nhiều cái chết nhưng chỉ nói đến sự sống Sống là chiến đấu, hy sinh nghĩa là sống một cách anh hùng Sống – chết, phải biết “thuận theo tự nhiên”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status