ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHÊ LAN VIÊN
SAU CÁCH MẠNG 1945
LUẬN VĂN THẠC s ỉ KHOA HỌC NGỮ VÃN
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số: 5.04.33
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS NGUYỄN BÁ THÀNH
Hà Nội 2005
M òi h â n tt'Otiij oẩ m ơn
^7d ì ,tin ('hàn th à nh etítit ott r/ ) C ịS — lỹJẴ Q(íỊttijễit (8«
Cĩhtnth, nạtiời thầiẬ đã tận tình luiótitị dẫn tồi trout/ suôt
quá trìu li hoàn ỉ hành luận từín.
£7i5/
<xin ừẨỈnt ổn eáe thầụ,
oúo ơô trottíL Uliúu (Vàn học ^ĩrtiồntL rĐ íù họo DCLioa h ọe rẦ)ã
< w % < w % % •
h ò i t)à Q íítâ tt o ả n it ã cho t ô i ễ th ữ n ạ ý U iê ti đ ó n (Ị tịó p q u í
ạiá.
Qiíuìn đây., tôi eũníị jrin etỉtn ơ’tt eáe itètiíị nụhìệp, ọJa
đ ìn h , f>ạn bè th ă n th iê í đ ã (Tộttí/ lừ ên , íịìú p đõ ’ tồ i trcm ạ họe
tiịp từỉ nạhiêtt eúu.
IHjii nội, tháng. 4 năm 2005
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỎ ĐẨU ]
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 9
2.2.3. Cái tôi đời thường, cái tôi riêng tư 56
C h ư ơng 3. sự VẬN ĐỘNG VÀ BIẾN ĐỔI CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THO
CHÊ LAN VIÊN TỪ“ HOA TRÊN ĐÁ” ĐẾN “ DI CẢO THƠ”
65
3.1. Hành trình tìm lại chính mình: Ta là ai? 65
3.1.1. Cái tôi đa cảm, hoài nghi và hi quan 66
3.1.2. Trớ lại câu hỏi: Ta là ai? 73
3.2. Khát vọng sông, khát vọnịỉ sáng tạo 80
3.2.1. Khát vọng sống 81
3.2.2. Khát vọng sáng tạo 86
Chưưilg 4: MỘT CÁ TÍNH SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO
95
4.1. Tư duy thơ đặc sác 96
4.1.1. Liên tưởng, tưởng tượng 96
4.1.2. Đôi lập 100
4.2. Hình ảnh thơ đa dạng, phong phú 102
4.2.1. Hình ảnh tượng trưng siêu thực 102
4.2.2. Sự liên kết giữa các hình ảnh thơ 109
4.3. (ỉiọng điệu thơ vừa hùng tráng vừa bi thương
114
4.3.1. Giọng điệu hùng tráng mang tính sử thi
114
4.3.2. Giọng điệu bi thương trầm buồn với nhiều cung bậc 116
c. PHẨN KẾT LUẬN 120
* Danh mục tài liệu tham khảo 123
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI.
1.1. Cái tôi là trung tâm tinh thán của con người, của cá tính người. Cái tôi
Tim hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng 1945 là một
cơ hội để người viết hiểu hơn thư Chế Lan Viên, cũng là để bày tỏ lòng trân
trọng, ngưỡng mộ đối với một tài năng, một nhân cách lớn. Mặt khác, thơ Chế
Lan Viên đã được tuyển chọn vào chương trình văn học THCS -THPT và cả bậc
Đại học. Vì vậy, việc triển khai đề tài này sẽ có tác dụng thiết thực đối với việc
giảng dạy ở nhà trường sau này của chúng tôi.
Trên đây là những lý do khiến chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: Cái tói trữ
tình trong thơ Chê Lan Vièn sau Cách mạng 1945. Hy vọng rằng đề tài này
sẽ đem lại một điều gì đó hữu ích cho những ai quan tâm đến Chế Lan Viên và
thơ của ông.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề lớn và khó, hơn nữa do những hạn chế về khả
năng, trình độ, thời gian nên chắc chắn luận văn này không tránh khỏi những
thiếu sót. Chúng tôi mong được các chuyên gia và đổng nghiệp góp ý thêm.
2. LỊCH SỬ VÂN ĐỂ.
2.1.Ban chất chủ quan của thơ trữ tình đã được chú ý từ rất sớm(Arixtôt).
Hèghen, Biêlinki, đã đi sâu vào bản chất chủ quan của thơ trữ tình bằng các
khái niệm: “chủ thế', “cái tôi”, “/âm hồn" và cho rằng đây chính là “nguồn gốc
và điểm tựa"của thơ trữ tình[ 12,160]. Các nhà lý luận văn học cổ điển Trung
Quốc như Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Viên Mai cũng đã có nhiều kiến giải sâu
sắc về vấn đề này bàng các khái niệm: “tâm”, “tình”, “vợ/”, “c7zf\ “hứng”,
“línli lin ir [23]. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khái niệm cái tôi trữ tình
mới được vận dụng trong nghiên cứu thơ trữ tình. Các nhà lý luận văn học hiện
đại đều thống nhất ràng cái tôi trong mọi thời đại đều là “nguồn gốc cốt lõi của
thơ ca"[42,10], Ớ Việt Nam, bán chất chủ quan của thơ trữ tình cũng đã được
nói đến từ xưa(Nguyễn Cir Trinh và Ngô Thì Nhậm đều cho thơ phát ra của
“(■///” ở trong lòng; Lê Quý Đôn nói về mối quan hệ giữa “tình", “cảnh" và
“.V//’; Nguyễn Quýnh bàn về “/ííw” và “hứng"', Nhữ Bá Sỹ coi văn chương“/?ậ/
rư tựcíúy lòng"; Cao Bá Quát cho thư là thê hiện “tính tình", “phẩm chất ’’)[4ì ].
Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình được các nhà lý luận văn học hiện đại vận
dụng vào việc nghiên cứu thơ trữ tình, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu
Ớ giai đoạn này, Chế Lan Viên có 9 tập thơ, thể hiện những vấn đề lớn lao
của thời đại và những quan niệm mới về thi pháp thơ. Đã có rất nhiều bài viết
về Chê Lan Viên từ các góc độ tiếp cận khác nhau: Có bài viết về từng tập thơ;
có bài viết về nhiều tập; có bài nghiên cứu về ngôn ngữ, hình ảnh, thể loại; có
hài nhận xét tống quan, chân dung; có những công trình viết về tác giả đặt
trong phong trào, trường phái, trào lun
Các bộ giáo trình Lịch sử ván học Việt Nam của các tác giả ở Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, các công trình của
Viện Văn học: Nhà thơ Việt Nam hiện đại, Văn học Việt Nam chống M ỹ cứu
nước, các bộ lý luận văn học của nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu
thơ có đề cập đến Chế Lan Viên. Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của
Phan Cự Độ[7], Hà Minh Đức[9], Mã Giang Lân[17], Trần Đình Sử[44],
Nguyễn Bá Thành[48], [49], Hầu hết các công trình này đều khẳng định, Chế
Lan Viên đã đi từ “thung lũng chiu thương ra cánh đồng vui”, đi từ cái tôi nhỏ
bé đến cái ta rộng lớn.
Một số bài nghiên cứu về từng phương diện cụ thể của thơ Chế Lan Viên qua
các tập: Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chìm báo bão
như:“Đọc Ánli sáng và phù sa" của Xuân Diệu, “Đợc Ánh sáng và phù sa"của
Hà Minh Đức, '‘'‘Những biển cồn hãy mang đến trong tlĩ(f'của Lê Đình Kỵ,
“ChếLan Viên và những tìm tòi trong nghệ thuật tluf'cua Nguyễn Lộc Tất cả
đều nhận xét bước chuyển biến đáng kê của Chế Lan Viên:“7ợ/? Ánh sáng và
phù sa cống liiến vào nền thơ cliuníỊ của chúng ta hiện nay một tâm hồn C hế
Lan Viên - Một tâm hồn nặng những su V nghĩ, phấn đấu trên hoàn cảnh cụ thê
của mình dê tín dược cái lớn của niềm vui cliung'XXuân Diệu)[34, 40].“C/ỉé
Lan Viên dã có nhiều c ố gắng trên dịu liụt tưởng tượng, sáng tạo"( Hà Minh
4
Đức)[34,55]. Hoặc “//oa ngày thường - Chim báo bão là một chuyển hướng
mạnlì bạo trong phong cách của Chê Lan Viêrì\Lê Đình Kỵ)[34,65],“/V/ỉ/?//i>
hình ánh Chê Lan Viên sử clụniỊ thường bao giờ cũng độc đáo và rất
</f//’(Nguyễn Lộc)[34,88-89],
dạng, luôn phát triển và vận động, mới mẻ: “Diện mạo thơ, chán dung thơ của
Chê Lan Viên trước tỉ ủ V sác sào dến mảy, thần sắc đến mảy cũng mới chỉ ở
trên một mặt phang, còn thơ chưa in vù thơ sau khi nhà thơ từ trần đã tạo nén
một diện mạo cỏ chiều kích khác. Đó lủ phù diêu. Đó lù tượng tròn. Đó là
tượng d/i/f’(Nguyễn Thái Sơn)[34,145] “vé thể tài vẫn là trữ tình chính trị
n/uOiíỊ Cliế Lan Viên dã từ khai thác lịch sử -d â n tộc đi về hướng th ế sự - đạo
íiức; từ sự chú ỷ “ khía cạnh anh hùng ” chuyển sang “ khiu cạnh đời thường”
(Đoàn Trọng Huy)[34,l 17]. Trần Mạnh Hảo hết lời ca ngợi thi tài Chế Lan
Viên “củng gần cái chết, thơ ông viết càng hay, càng bớt chất luận đề, chính
luận, củng thêm cám xúc và sâu đọng”, “ Chê Lan Viên vẫn cất lên tiếng trông,
tiếng từ và báo hiệu một ngày mới trên cánh đồng vĩnh cửu của thi ca”
[34,228-230].
Trong tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, các
luận án, luận văn tuy chưa có bài viết nào trực tiếp nghiên cứu từ góc độ cái
tôi trừ tình một cách toàn diện, có hệ thống nhưng một số các tác giả cũng có
đề cập ít nhiều về cái tôi trữ tình trong thơ ông. Nhìn chung, điểm thống nhất
cơ bản trong những nhận định của các nhà nghiên cứu là sự chuyển biến của
cái tôi trữ tình Chế Lan Viên theo chặng đường lịch sử.“Nó dã có một chặng
cíườnq phát triển và thay đổi liên tục tử Điêu tàn đến Hái theo mùa (Nguyễn
Bá Thành)[48,146].
Nguyễn Văn Long nhận ra phần lắng lại của hồn thơ Chế Lan Viên “một hồn
thơ dã có nliiều tửng trải, dược thanh lọc qua nhiều thử thácir[ 19,84]. Nguyễn
Xuân Nam nhận ra trong Di cảo thơ “một Chế Lan Viên không lioàn toàn
I>iốni> trước", “ có một chút cô lĩơn, một chút khó hiểu”, “ có những mảnh suy
6
hìịIũ về nỗi thủniị trầm", “vừ có cái bình tĩnh của một triết nhân”[31 Ị.Vũ Quần
Phương cho ràng: “Chế Lan Viên quay vê bản thể, nghiền ngầm chiêm nghiệm
lụi chính mình xót đau mù dây bân lũ ì i r [7)3,434], Đoàn Trọng Huy không
chí nhận ra sự chuyển biến giọng điệu thơ, tư duy thơ mà còn phát hiện ra một
cái tôi‘V/7// nặng suy tứ '“hiện lên rõ một triết nhân đầy suy tư chiêm
Chế Lan Viên. Các tác giả dùng hình tượng“ phù điêu”? tượng tròn”, “tượng
</í)/”đê hình dung diện mạo cái tôi trữ tình Chế Lan Viên trong Di cảo thơ khác
với trước đây:“c/ỉ/ ở trên một mặt phảng". Phạm Quang Trung cho rằng:
“Không nên quá đề cao Di cảo thơ C hế Lan Viên đến mức đối lập Di cảo thơ
vái những sáng tác trước đây của nhà ih d \ Tác giả khẳng định:“có một C hế
Lan Viên khác mà không lạ hiện lên trong Di cảơ”[33,414j. Trần Mạnh Hảo,
Võ Tấn Cường, Nguyễn Bá Thành đẩy cái ''''không /ạ” của cái tôi trữ tình Chế
Lan Viên trong Di cảo thơ lên và cho rằng đã gặp lại một Chế Lan Viên thời
tìiêu tàn trong Di cảo thơ[33,222;419;405] Các tác giả: Lê Đình Kỵ, Đoàn
Trọng Huy, Nguyễn Xuân Nam, Hồ Thế Hà, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Văn Hạnh,
Trần Thanh Đạm khi nhận định về Di cảo thơ, đặc biệt là cái tôi Chế Lan
Viên trước những vấn đề bản ngã, hư vô, cái chết đều thống nhất cho rằng:
Tuy có buồn đau, xót xa nhưng cơ bản là ''''thanh thản phảng phất vị thiền”,
“thấp thoáng nụ cười nụ cười thiên nụ cười của một trí tuệ hiền mitih'XTrần
Thanh Đạm)[33,389],“o w rộng, minh triết, thấm đẫm tình đời, tình
người'XNguyễn Văn Hạnh)[33,239] Trong khi đó, Nguyễn Bá Thành lại cho
rằng: “do luôn bị “ ám ảnh ” bởi cái chết, sựhuỷ diệt C hế Lan Viên coi đó là
“điều kliủng khiếp ” nên “ buồn thâm ảo não và chua jcớ/”[48, 172] .
Chúng tôi đặc biệt lưu ý công trình nghiên cứu quan trọng của Nguyễn Bá
Thành: Thơ Chê ỈMìi Viên với phong cách suy tưởng và Thơ trữ tình Việt
Nam của Vũ Tuấn Anh. Trong đó các nhà nghiên cứu đã đánh giá: Cái tôi trữ
tình Chế Lan Viên là một cái tôi độc đáo mang đậm dấu ấn của nhà thơ. Sự vận
động của cái tôi Chế Lan Viên là sự vận động có tính tiêu biểu nhất, phản ánh
những bước tiến của thơ ca Cách mạng.
8
Bt'n cạnh đó còn có nhiều luận vãn, luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ nghicn cứu Chế
Lan Viên ở nhiều khía cạnh của các tác giả: Ngô Bích Thu, Hổ Thế Hà Tác
giá Vũ Tuấn Anh(Viện Văn học) cũng đã biên soạn, tập hợp các bài viết về thơ
Chế Lan Viên trong một cuốn sách khá công phu giúp chúng tôi có thêm
những tư liệu tham khao quý giá để thấy rõ hơn cái tôi trữ tình Chế Lan Viên
Chương II. Sự phát triển của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên từ Điêu
tàn đến Hái theo mùa
Chương III. Sự vận động và biến đổi của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan
Viên từ Hoa trên đá đến Di cảo thơ.
Chưưng IV. Một cá tính sáng tạo độc đáo.
* Danh mục tài liệu tham khảo.
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM CÁI TÔI VÀ CÁI TỎI TRONG THƠ TRỮ TÌNH.
1.1.CÁI TÔI.
1.1.1. Từ góc độ triết học và tâm lý học.
Cái tôi là gì? Vai trò của nó như thê nào trong quan hệ chủ thể và khách thể?
Ngay từ thời cố đại, nhiều nhà khoa học, triết học đã trãn trớ tìm lời giải đáp.
Nhưng ý thức về cá nhân, về cái tôi chỉ thực sự được khẳng định khi nhận thức
của con người thoát khỏi sự ngự trị của tôn giáo. Sự nhận thức duy lý về cái tôi
là một bước ngoặt quan trọng của nhân loại về bản thể sinh tổn. Trong quá
trình phát triển lịch sử của loài người, cái tôi đã dần định hình và tự khẳng định
tính độc lập của mình, trở thành chủ thể tư duy, chủ thể nhận thức thế giới.
Khái niệm cái tôi, được hình thành bởi một quá trình lâu dài, mang trong mình
tính phức tạp nhiều khi tưởng như thần bí. Cái tôi có nội hàm rộng đến nỗi khó
xác định được toàn bộ ý nghĩa của nó cũng như tìm cho nó một định nghĩa
hoàn chính, thống nhất.
Các triết thuyết tôn giáo: Cơ đốc giáo, Phật giáo, Nho giáo về cơ bản,
“không thừa nhận cái tôi cá nhân, hoặc giả có thừa nhận nhưng rồi cuối cùng
cũng quy về những quan niệm siêu hình, duy tâm, thần bí, xoá bỏ cái
/ớ/'”[36,l 1]. Các học thuyết tôn giáo bằng cách này hay cách khác, đều hướng
con người đến đấng tối cao, quên đi cái tôi của mình. Song, để đạt được điều
đó, tôn giáo đòi hỏi mỗi cá nhản phải có một nghị lực phi thường để vượt qua
chính mình. Để chế ngự cái tôi, vượt qua cái tôi, quên đi cái tôi, suy cho cùng
Pliơrơti 1856-1939) coi cái tôi là sự hiện diện động cơ bên trong của ý thức
con người. Cái tôi là trung tâm của ý thức[40,553], [24,198- 203],
Như vậy, cái tôi là một phạm trù thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần và thực
chất là khái niệm thuộc về cấu trúc nhân cách. Vì vậy, các nhà tâm lý học khi
bàn về nhân cách đã phân tích rất kỹ cái tôi: Phân tâm học của Phơ rớt; thuyết
12
hiên sinh của Husserl; Sartre; thuyết phát triển trí tuệ của J. Piagic; Các công
trình lý luận về nhân cách của các nhà tâm lý học Mác xit: A.N.Lêônchiep;
A.G.Côvaliôp đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất cấu thành
ý thức, nhân cách. Đáng chú ý nhất là quan niệm của hai nhà tâm lý học: A.G
Xpirkin và A.N.Lêonchiep. Trong Triết học xã hội A.G.Xpirkin đã nêu lên:
“Cái tôi chính là câu trúc phần tự giác, tự ỷ thức của nhân cách, có thể coi đó
lù truníỊ tủm tinh thần - ỷ nghĩa, diều chỉnh - dự báo của nhân cách, mang tính
íĩịr.h hướng vê động cơ, niêm tin, lợi ích, thê giới quan, tà cơ sở hình thành
n/iĩng tình cảm xã hội của COIÌ ngườiịỷ thức về phẩm giá, nghĩa vụ, trách
nhiệm, nguyên tắc đạo đức) vù xác định mặt cá tí nhị đơn nhất) của nhân
rớí7ỉ”[42,17].
A.N.Lêonchiep cũng bàn nhiều đến nhân cách trong đó có vấn đề con người
tự V thức mình là một nhân cách. Theo A.N.Lêonchiep“ ỷ thức vê' cái tôi, là kết
quả, lù sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách.
Cái tôi của con người như đan quyện vào hệ thống tổng quát của những mối
quan hệ giữa con người và xã hội"[ 18].
Trên cơ sở những thành tựu khoa học về con người, đạc biệt là thành tựu triết
học, tâm lý học, triết học Mác đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ và hoàn chỉnh
về cái tôi: “ Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người có
quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân mình. Chỉ có con
Iigiỉời ăộc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính
chù cíộiiiỊ toàn diện mới có cái tôi của m ìn/r[40,66]. Việc khẳng định cái tôi là
trung tâm tinh thần, cá tính con người cho thấy đời sống tinh thần con người
khóng phải do một đấng siêu nhiên nào thổi vào mà được hình thành và phát
trình sáng tạo, đã trở thành một đối tượng của lý luận văn học, văn học sử và
nghiên cứu văn học. Cái tôi nhà văn có mặt ở mọi khâu, trong mọi yếu tố của
quá trình sáng tạo. Vai trò chủ thể trong sáng tạo nghệ thuật rất quan trọng.
“Ní>hệ thuật là tỏi, khoa học lù chúng /í/”(Claud-Berna).
14
ơ đây, cần phải nói tới sự can thiệp của cái tôi nhà văn vào tư duy hình
tượng- kiêu tư duy đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, v ề điểm này, các nhà lý
luận đã đi đến thống nhất là nếu không có tư duy hình tượng, không có hư cấu,
tưởng tượng sáng tạo thì không có văn học nghệ thuật. Người nghệ sĩ, bằng
kiêu tư duy hình tượng, bàng tưưng tượng sáng tạo đã tạo ra một cuộc sống thứ
hai(thống nhất mà không đổng nhất với cuộc sống hiện thực vốn có). Ở đó, thế
giới được cấu tạo lại theo ước vọng. Người nghệ sĩ khám phá cuộc sống theo
qui luật phản ánh và sáng tạo. Những sự vật, hiện tượng diễn ra hàng ngày,
dưới con mắt của người nghệ sĩ, đã không còn giữ nguyên cái thuần tuý vốn có
của nó nữa. Như vậy, cái tôi nhà văn tham gia vào tư duy hình tượng cũng có
nghĩa là tham gia vào toàn bộ quá trình sáng tạo ngay từ khi bắt đầu hình thành
ý đổ sáng tác. Tài năng của nghệ sĩ, tư duy hình tượng ở nghệ sĩ không phải là
cái gì có tính đột biến mà phải được nuôi dưỡng từ thời thơ ấu. Nhà văn quan
sát thế giới(kể cả tự quan sát), hướng tất cả sự chú ý vào những gì tác động
mạnh mẽ đến cái tôi của mình. Với khả năng nhạy cảm đặc biệt, cái tôi, trung
tàm tinh thần diễn ra một quá trình phân tích, tổng hợp. Những gì được giữ lại
trong trí nhớ sẽ trở thành các ấn tượng có sức sống lâu bền. Quá trình này diễn
ra hết sức chủ quan và từ ấn tượng đến sáng tạo có một khoảng cách, ở đó cái
chủ quan có thế thay đổi. Sự thay đổi này làm cải biến các ấn tượng. Các ấn
tượng tổn tại trong trí nhớ ở dạng rời rạc, khi đi vào tư duy hình tượng, sáng tạo
chúng được tổ hợp nhờ liên tưởng thành một chỉnh thể phức hợp, hoàn chỉnh.
Từ góc độ cái tôi tác giả, cái tôi nghệ sĩ tham gia vào toàn bộ quá trình này với
chức năng điều chỉnh, điều khiển tư duy đi đúng với quy luật nhận thức và đặc
trưng sáng tạo nghệ thuật. Cái tôi nghệ sĩ nội cảm hoá thế giới thực tại và tự
biêu hiện mình qua hình tượng. Khi cái tôi biểu hiện dưới dạng cảm xúc trực
cũng vậy. Giống như cái tôi nghệ thuật, cá tính sáng tạo mang bản chất cá
nhân, bản chất xã hội và bản chất thẩm mĩ. Nhưng nếu như cá tính sáng tạo với
những phẩm chất tương đối ổn định, bển vững là nét đặc thù thì cái tôi nghệ
thuật nét đặc thù là tính chất tự ý thức, tự điểu chinh, thậm chí điều chính cả cá
tính sáng tạo. Khi giữa cái tôi nghệ thuật và cá tính sáng tạo có được sự thông
nhất cao độ thì sáng tạo của nhà văn mới thật sự mang phong cách và có giá trị.
16
Bởi lẽ, cá tính sáng tạo và cái tôi nghệ thuật đều có xu hướng tự biểu hiện nên
trong tác phám chúng luôn có mặt ở mọi cấp độ, mọi bình diện, làm nên một
hình tượng tác giả thống nhất mà không đồng nhất với con người nhà văn ngoài
đời. Thi pháp học hiện đại khảng định hình tượng tác giả trong tác phẩm cũng
là một hình thức nghệ thuật và cũng là một tín hiệu thẩm mĩ. Nhà vãn sáng tạo
ra hình tượng của mình vừa chân thực vừa hư cấu tưởng tượng. Như vậy, xét ở
hình diện tác giả, ta có thể khẳng định: Cuộc sống trong văn học(cuộc sống thứ
hai) thống nhất nhưng không đổng nhất với cuộc sống hiện thực vốn có(cuộc
sống thứ nhất). Tác giả tiểu sử, cá tính tiểu sử và cái tôi tiểu sử íhuộe về cuộc
sống thứ nhất. Hình tượng tác già trong tác phẩm với cá tính sáng tạo và cái tỏi
nghệ thuật thuộc về cuộc sống thứ hai.
Nhìn chung, cái tôi tác giả(cái tôi nhà văn) và cái tôi nghệ thuật của nhà văn
thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất. Quan sát và tự quan sát, cảm xúc
và lý trí, tư duy hình tượng, trí tưởng tượng cũng như cá tính sáng tạo đều có
mối quan hệ nội tại khăng khít, hữu cơ với nhau và có quan hệ với cái tôi. Một
cái tôi mạnh mẽ sẽ hoạt động tích cực và tham gia vào quá trình sáng tạo từ khi
nó được hình thành.
1.2. CÁI TÔI TRONG THƠ TRỮ TÌNH.
1.2.1. Khái niệm cái tôi trữ tình.
Thơ trữ tình“/ừ thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó,
những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện
tượng (lời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hoá của cảm
nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của
chất của tác phẩm trữtình”[42,18-19]. Hêghen trong M ỹ học tuy không dùng
khái niệm cái tôi, song ông đã nhấn mạnh đến vai trò chủ thể. Ông nói:
“Nẹuồn gốc và điểm tựa của thơ trữ tình lủ â chủ thể và chủ thể là người duy
nhất, dộc nhất mang nội dung”[ 12,162]. Chủ thể mà Hêghen nói đến ở đây
chính là cái tôi trữ tình. Cái tôi trữ tình vừa thể hiện cách cảm, cách nghĩ của
chủ thê vừa đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật. Như vậy,
cái tôi trữ tình vừa là nội dung(duy nhất, độc nhất), vừa là điểm xuất
phát(nguồn gốc) vừa là cơ sở vững chắc(điểm tựa)của thơ trữ tình. Bản chất của
thư trừ tình chính là cái tôi trữ tình. Biêlinxki cho rằng: ‘Toàn bộ hiện thực đều
18
có thè lủ nội (luniỊ của thơ trữ lìnli nliưniỊ với điều kiện nó phái trở tliành sà
hữu máu tlìịt của chủ tỉìể"[42,26].Tất cả các quan niệm cho thơ bắt nguồn từ
tình cam, tâm hổn, cảm xúc chính là nhằm khắng định bản chất chủ quan của
thơ trữ tình, khảng định vị thế của cái tôi trữ tình trong thơ(tiêu biểu là các ý
kiến của Bạch Cư Dị, Viên Mai, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Ngô Thì
Nhậm )[4],[41]. Chúng tôi tán thành các quan điểm về cái tôi trữ tình của các
nhà nghiên cứu đã nêu trên.
Thơ trữ tình nào cũng dựa trên sự rung động của cái tôi cá nhân mang số
phận, cá tính riêng tư trong các tỉnh huống trữ tình. Sự khác biệt của các thời
đại thi ca suy cho cùng chính là ở quan niệm về cái tôi và các dạng thức biểu
hiện của cái tôi trữ tình. Thế giới của cái tôi trữ tình là thế giới không cùng. Vì
thế, ý thức về cái tôi trữ tình, phát triển cái tôi là tiền đề thực tế cho sự phát
triển của thơ.
Tóm lại, cái tôi trữ tình chính là điểm bất đầu cũng là điểm kết thúc của quá
trình sáng tạo thơ trữ tình, là linh hổn của thơ trữ tình.
1.2.2. Nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ.
Vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tình có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong thơ. Ở mỗi thời đại, mối liên hệ giữa khách thể và chủ thể luôn là
vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Bên cạnh cái tôi nhà thơ, ta có cái
tôi trữ tình. Bản chất của cái tôi trữ tình là bản chất chủ quan, cá nhân, bản chất
động của lịch sử, khi hoàn cảnh, thời đại thay đổi thì cái tôi nhà thơ và cái tôi
trữ tình cũng thay đổi. Những nhà Thơ Mới đến với Cách mạng tháng Tám đã
làm một cuộc “/ộ/ xác" đê đi từ “c/ìân trời của một người đến chân trời của mọi
nẹi(ời'\Paul Éluard). Trước Cách mạng, Xuân Diệu càng khát khao giao cảm
với đời, với người, với thiên nhiên bao nhiêu càng cảm thấy mình trơ trọi, cô
độc bấy nhiêu. Nhưng hơn mười nãm sau, đứng giữa mảnh đất Tuyên Quang,
nơi từng che chở cho mình suốt thời kháng chiến, Xuân Diệu thấy như được trở
về với mảnh đất của lòng mình:
20
Đất nước ơi, tu quyện với mình chặt lắm
Nên di rồi không thể gỡ ra
( Vé Tuyên).
Cũng vậy, Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng Tám chí biết than thở và
đắm chìm trong cõi siêu hình, khóc than cho đất nước Chiêm Thành đổ nát.
Đến với Cách mạng, Chế Lan Viên đã phải trải qua một hành trình vất vả. Nhà
thơ thật sự thấy mình được hổi sinh khi hoà mình vào mạch sống của nhân dân,
của dân tộc.
Con gặp lại nhân dân như nai vê suối rũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như dứa trẻ thơ đói lỏng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỏng gặp cánh tay dưa.
( Tiếng hát con tàu - Ánh sáng và phù sa).
Ở phần lớn các nhà thơ, cái tôi trữ tình dù có đổi thay, biến hoá phong phú thì
dưới bé sâu vẫn thấp thoáng cái tôi nhà thơ, một cái tôi chung thuỷ và nhất
quán trong bản chất của nó.
Giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ không đồng nhất nhưng hoàn
toàn thống nhất. Cái tôi trữ tình trong thơ cũng không phải là cái tôi nhà thơ
trong đời mà cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hoá. Cho nên, sự thống nhất
giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ là hiện tượng thường gặp. Thơ
trữ tình từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến Hồ Xuân Hương, Cao Bá