Mục lục
Mở đầu
I- Lý do chọn đề tài
II- Lịch sử vấn đề
III- Phạm vi nghiên cứu
IV- Nhiệm vụ nghiên cứu
V- Phơng pháp nghiên cứu
VI- Cấu trúc tiểu luận:
Nội dung:
Ch ơng I:
Giới thuyết về cái tôi trữ tình và sự xuất hiện cái tôi
trữ tình trong thơ mới.
1.1- Khái niệm cái tôi trữ tình
1.1.1- Cái tôi
1.1.2- Cái tôi trữ tình
1.1.3- Các phơng thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ ca.
1.2- Sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong Thơ mới.
1.2.1- Cơ sở xã hội cảu sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong Thơ mới.
1.3- Giới thiệu chung về sự đóng góp của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới.
Ch ơng II:
Các sắc thái cảm nhận về các tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
2.1- Xuân Diệu Một cái tôi độc đáo, tích cực thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống.
2.2- Xuân Diệu Hồn Thơ cô đơn ngay chính giữa cuộc đời.
Ch ơng III :
Các hình thức thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
3.1- Cái tôi trữ tình nhập thân vào đối tợng phản ánh
3.2- Cái tôi đợc biến hóa qua nhiều hình ảnh.
3.3- Sự đồng nhất của cái tôi trữ tình với thiên nhiên.
Kết luận:
Tài liệu tham khảo
1
Xuân Diệu nhằm qua đó hiểu rõ hơn bút pháp và phong cách của nhà thơ.
Trong toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu trớc 1945, thơ tình yêu là mảng đề tài ông chú
tâm nhiều nhất và đồng thời nó cũng đem lại cho thơ ông một giọng điệu riêng. Hơn bất cứ
lĩnh vực nào khác trong thế giới thơ trớc cách mạng. Cái tôi trữ tình của nhà thơ Xuân Diệu
đã bộc lộ một cách đầy đủ và trọn vẹn trớc hết và chủ yếu qua mảng lớn những bài thơ về
tình yêu.
(1) Vũ Thanh Việt, Thơ mới lãng mạn những lời bình, NXBVHTT, H 2000, trang 73
(2) Vũ Thanh Việt, Thơ mới lãng mạn những lời bình, NXBVHTT, H 2000, trang 74
2
Vấn đề này đã có nhiều ngời nghiên cứu. Tuy nhiên ở đây chúng tôi đi sâu vào cái tôi
trữ tình với những phong cách thẩm mĩ hoàn toàn hiện đại.
Xuân Diệu là nhà thơ lớn với những tác phẩm đợc đa vào chơng trình phổ thông. Tìm
hiểu thêm về cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu là để nắm chắc, bồi dỡng thêm nhiều kiến
thức bổ ích của chơng trình đại học làm cơ sở phục vụ cho tơng lai giảng dạy của chúng tôi.
II- Lịch sử vấn đề:
Xung quanh khái niệm cái tôi trữ tình có nhiều ý kiến bàn luận:
Vũ Tiến Long: Nửa thế kỷ thơ Việt khái quát đợc quy luật vận động của thơ trữ
tình Việt Nam nửa thế kỷ qua. Khái quát bộ mặt của thơ Việt Nam với kiểu cái tôi trữ tình
mới ca ngợi cuộc sống và sự hoà nhập cuộc sống.
Lê Lu Oanh: Cái tôi trữ tình qua một số hình tợng thơ 1975-1990. Khái quát bản
chất chủ quan của thể loại trữ tình và khái niệm cái tôi trữ tình.
Riêng thơ mới thì không thể không kể đến công trình nghiên cứu của Hoài Thanh
Hoài Chân Thi nhân Việt Nam. Theo Hoàn Thanh Hoài Chân thì một trong những
đóng góp của Thơ mới đó là cái tôi.
Ngày thứ nhất... chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam nó thật lỡ ngỡ. Và từ đây cái tôi
đợc nhắc đến với nhiều dáng vẻ (Hà Minh Đức).
Lê Đình Ky cũng khẳng định Thơ mới là thơ của cái tôi . Riêng về tác gia Xuân
Diệu thì có một số bài viết nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ ông của một số tác giả
nh Lê Quang Hng, Lu Khánh Thơ.
Các công trình, các bài viết nghiên cứu về tôi trữ tình nói chung và phơng thức biẻu
VI- Cấu trúc của tiểu luận:
Phù hợp với lôgíc khoa học của vấn đề đặt ra cấu trúc của luận văn ngoài phần mở
đầu và kết luận, nội dung chính đợc triển khai qua ba chơng.
Ch ơng I :
Giới thuyết về cái tôi trữ tình và sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong Thơ mới.
1.1- Khái niệm cái tôi trữ tình
1.2- Sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong Thơ mới.
1.3- Giới thiệu chung về sự đóng góp của Xuân Diệu với phong trào Thơ mới.
Ch ơng II:
Các sắc thái của nhận về cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
2.1- Xuân Diệu Một cái tôi tích cực, thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống.
2.2- Xuân Diệu Hồn thơ cô đơn ngay chính giữa cuộc đời.
4
Ch ơng III :
Các hình thức thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
3.1- Cái tôi trữ tình nhậ p thân vào đối tợng phản ánh
3.2- Cái tôi đợc biến hóa qua nhiều hình ảnh
3.3- Sự đồng nhất của cái tôi trữ tình với thiên nhiên.
5
B- Phần nội dung
Ch ơng I:
Về khái niệm cái tôi trữ tình và cái tôi trữ tình trong Thơ mới.
1.1- Khái niệm cái tôi và cái tôi trữ tình:
1.1.1- Cái tôi:
Cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của
con ngời về bản thể tồn tại của mình. Từ đó nhận ra mình là một con ngời khác với tự nhiên
là một cá thể độc lập, khác với ngời khác.
Nội hàm khái niệm cái tôi rất rộng. Có một số quan niệm của triết học về cái tôi, có
liên quan trực tiếp hoặc gần gủi đối với việc tìm hiểu đối với cái tôi trữ tình.
Triết học duy tâm:
1.1-2- Cái tôi trữ tình:
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con
ngời thông qua việc tổ chức các phơng tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần độc
đáo mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt tinh thần đến ngời đọc.
Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội tụ theo quy
luật nghệ thuật bao gồm cả ba phơng tiện: Bản chất chủ quan cá nhân, đây là mối liên hệ
giữa tác giả với cái tôi trữ tình đợc thể hiện trong tác phẩm; bản chất xã hội của cái tôi trữ
tình là mối quan hệ của cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng; Bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ
tình là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản.
Cả ba phơng tiện: Cá nhân, xã hội, thẩm mỹ đều nằm trong hình thức thể loại trữ tình.
Cái tôi trữ tình khác về chất so với cái tôi nhà thơ - Đó là sự khác nhau giữa cuộc đời
và nghệ thuật, giữa chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực giữa nguyên mẫu và điển
hình, Giữa gốc rễ và những Cánh lá nảy nở, sinh động của nó- cái tôi trữ tình không
7
hoặc cái tôi đợc khách thể hóa, đợc thăng hoa trong nghệ thuật Thứ củi nào cháy lên thứ
lửa ấy.
Cái tôi trữ tình có quan hệ chặt chẽ với cái tôi nhà thơ nhng từ cái tôi nhà thơ đến cái
tôi trữ tình còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.
1.1.3- Các phơng thức biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ ca.
Lịch sử phát triển thơ ca là lịch sử phát triển cái tôi trữ tình và đời sống. Cái tôi trữ
tình là một hiện tợng lịch sử nên nó có những hình thái lịch sử.
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội, thời đại, lịch sử của cá thể.
í thức về cái tôi trữ tình trong lịch sử văn học cũng có sự khác nhau.
a. Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian.
Trở về với thể loại văn học cổ xa văn học dân gian cái tôi trữ tình trong ca dao,
dân ca là cái tôi tìm thấy tiếng nói chung của tập thể. Cái tôi ở đây không bộc lộ nh một cá
nhân riêng biệt mà cơ thể chìm đi, biểu hiện cái tôi xã hội, cái tôi của tập thể.
Cảm hứng của các tác giả dân gian bắt nguồn từ nhu cầu đợc chia sẽ, giao hởng và
đồng vọng trong những cảnh ngộ tơng đồng. Nhân vật trữ tình trong văn học dân gian chủ
yếu là những ngời lao động, họ có thể là những ngời đang dãi nắng dầm ma Trên đồng cạn,
Quát...con ngời đã đối diện với chính mình, nói về mình.
c. Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn:
Bản chất của thơ lãng mạn là tiếng nói của cái tôi cá nhân. Kiểu nhà thơ lãng mạn
song hành với sự tự ý thức cá nhân nh là một cá thể độc đáo riêng biệt, nó không chống lại
cái nhìn duy lý của chủ nghĩa cổ điểm, cái tôi cũng có khi là cá nhân tự biểu hiện, khép kín
và cô đơn. Chất lãng mạn trong thơ lãng mạn nằm ở cách cảm, cách nghĩ, sự biểu hiện thế
giới và con ngời một cách đặc thù. Đó chính là cái tôi nằm ở trung tâm cảm nhận làm
nguyên tắc thế giới quan.
9
Thơ lãng mạn là thơ của tâm hồn, tâm hồn ấy đã thoát ra khỏi tính quy phạm và nó đã
bộc lộ hết mình để Tâm hồn tiếp xúc trực tiếp với ngoại giới đồng thời thơ lãng mạncũng
lấy tâm hồn làm trung tâm, nó không a cái thực tầm thờng mà thích những tởng tợng khác
thờng, bằng mộng ảo, hoài niệm hoặc bằng tôn giáo, lịc sử, truyền thuyết chỉ với mục đích
là tự khẳng định mình, khẳng định sự tự do của mình. Tuy thế, đã là một ngời tự do thì sẽ
tồn tại những mặt mạnh vừa có sự kiêu hãnh nhng cũng không tránh khỏi sự yếu đuối bơ vơ,
cô đơn, buồn sầu, làm cho tâm hồn ấy vừa phong phú, phức tạp và cũng rất tinh tế trong
sáng nghệ thuật.
d. Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng:
Gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, với yêu cầu lịch sử, văn học lúc này đặt vấn đề dân
tộc lên trên hết vì thế theo dòng lịch sử, cái tôi trữ tình bộc lộ chủ yếu trên các vấn đề dân
tộc, lịch sử.
Các nhà thơ cách mạng luôn đứng trong những sự kiện lớn của đất nớc, với t thế dân
tộc, lịch sử, thời đại, giai cấp. Họ hiện diện với trách nhiệm trớc cuộc đời hiện tại, khẳng
định niềm tin vào tơng lai của dân tộc. Cái tôi lúc này mang một sinh khí rất mạnh mẽ và
kiêu hãnh. Đây là giai đoạn các nhà thơ từ bỏ cái tôi cá nhân để riêng t hoà vào cái chung
dân tộc.
Thơ cách mạng là thơ của cái tôi mới, cái tôi cộng đồng. Chủ thể không còn là cái tôi
riêng mà là một phạm trù đa thức đó là một cá nhân không lặp lại hoặc là một nhóm ngời
cùng chung ý chí, nguyện vọng có thể là toàn bộ xã hội nói chung. Trong cái tôi mỗi ngời
có cả một hệ thống cái tôi khác nhau, trong quá trình tự nhận thức trớc cuộc sống, cái tôi
thì thoát ly đa đến nỗi buồn, nỗi cô đơn và ngày càng có xu hớng xây cao tháp ngà nghệ
thuật. Trên thực tế, Thơ mới đã tìm đợc nhiều con đờng thoát ly: Vào cõi tiên (Thế Lữ),
11
vào tình yêu (Xuân Diệu), về đồng quê ( Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ...), vào tôn
giáo ( Hàm Mặc Tử), vào vũ trụ ( Huy cận).
Cũng trong thời kỳ này văn học có nhu cầu đổi mới theo hớng hiện đại hoá. Một số
nhà thơ đã thấy sự khủng hoảng tiêu điều của thi đàn với loại thơ nhìn mất sinh khí
( Thơ Đờng cuối mùa), họ dũng cảm đổi mới thơ ca của mình ( Tản Đà, Trần Tuấn Khải),
Nhng đó chỉ là những cố gắng lẻ tẻ và phải đến Thơ mới, thì mới có cuộc cách mạng trong
thơ ca để chuyển từ thơ trung đại sang thơ hiện đại, từ thơ điệu ngâm sang thơ điệu nói và
cái ta phi ngã đã dần nhờng chỗ cho cái tôi cá nhân thơ mới.
1.3 Giới thiệu chung về sự đóng góp của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới.
Xuân Diệu (1916 - 1985) là một tác giả lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học
Việt Nam hiện đại. Hơn nửa thế kỷ cần biết ông đã để lại cho đời một di sản văn học đồ sộ
với nhiều thể loại khác nhau ....tác phẩm của ông đợc bạn đọc nhiều thế hệ đón nhận và yêu
thích, nhiều tác phẩm đợc chọn để giảng dạy trong nhà trờng. Từ trớc đến nay việc nghiên
cứu tìm hiểu tác giả Xuân Diệu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn Xuân Diệu đã lọt vào mắt xanh của những
ngời có tên tuổi và uy tín trong giới văn nghệ sỹ. Mặc dù cách nhìn nhận và đánh giá của
các tác giả có những điểm khác nhau nhng nhìn chung các bài viết đều thống nhất đánh giá
cao vai trò và vị trí hàng đầu của Xuân Diệu đối với phong trào Thơ mới.
Trong bài viết đầu tiên giới thiệu Xuân Diệu năm 1937, Thế Lữ ngời đi tiên phong
của phong trào thơ mới đã có những nhận xét chuẩn xác, biểu hiện sự trân trọng đối với một
tài năng của đất nớc thơ của ông không phải là văn chơng nữa, đó là lời nói, là tiếng reo
vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong những
âm thanh...Xuân Diệu, nhà thi sẽ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng.
Bài viết về Xuân Diệu trong thi nhân Việt Nam ( 1942) của Hoài Thanh cho rằng thơ
Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào cha từng có, là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ
mới.....
12
với đời nhng cuộc đời đáp lại ông bằng sự thờ ơ, lạnh lẽo.
Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu nhng càng đi sâu
càng thấy lạnh (Hoài Thanh).
Là ngời tiêu biểu đầy đủ nhất cho cái tôi thơ mới Xuân Diệu là ngời có ý thức Đi
tìm bề sâu Nhất và đồng thời là ngời cảm nhận nhanh và rõ nhất trớc sự lãnh lẽo đó.
Đến Xuân Diệu, tâm trạng cô đơn không còn âm thế mà nó đặc biệt sâu sắc, thấm
thía đến tận xơng tuỷ:
Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt buốt xơng da.
Cái tôi đã đào tới tận đáy của nó, nó bỗng cảm thấy tất cả sự nhỏ bé, trơ trọi của nó
trong một thế giới bao la xa lạ cuối cùng nó gặp chính nó:
Chớ để riêng em phải gặp lòng em.
Có thể nhận định rằng, đến xuân diệu, Thơ mới đã lên tới đỉnh cao và bắt đầu đi vào
khủng hoảng, bế tắc.
Xuân Diệu là ngời có vai trò to lớn trong việc cách tân đối với thơ ca Việt Nam khi
đó Xuân Diệu là ngời đem đến cho thi ca nhiều cái mới nhất (Vũ Ngọc Phan). Cái mới
ấy diễn đạt bằng một gọng điệu, một ngôn ngữ nồng nàn, trẻ trung cha từng có.
Đồng thời do ảnh hởng của chủ nghĩa tợng trng Pháp để đi sâu vào cái huyền diệu
bên trong của cái tôi cho nên Xuân Diệu có những rung cảm hết sức tinh tế.
Quy luật thăng trầm cùng bi kịch của cuộc đời cái tôi. Thơ mới đợc thể hiện khá đầy
đủ trong sáng tác của Xuân Diệu, vị đại diện u tú nhất cho thời đại thơ ca. Cùng chung nỗi
đau lớn của những thân phận nô lệ trong xã hội đó nhng mỗi nhà thơ lãng mạn có một cách
chạy trốn riêng Xuân Diệu là ngời chấp nhận nỗi đau một cách rất độc đáo và nhân văn
với một khát vọng sống nồng cháy và bền bỉ.
Tôi kẻ đa ràng bấu mặt trời
14
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay chín móng bán vào đời.
Ch ơng II
các sắc thái cảm nhận về cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
mà lại còn quyến luyến cõi trần(Thế Lữ)
Không muốn đi mãi mãi ở vờn trần
Thân hoá rễ để hút mùa dới đất.
Ông luôn ví mình nh cây kim bé nhỏ mà vạn vật là muôn đá nam châm, Xuân Diệu
luôn ớc ao sự hoà hợp khăng khít với thế giới thiên nhiên, vầng trăng, cây cỏ, hoa lá....với
mọi ngời, nhất là những ngời đang trẻ tuổi, trẻ lòng. Không ít nhà thơ mới có những lần cảm
thấy thú vị khi trầm mình trong nỗi cô đơn. Xuân Diệu rất lo sợ sự lẻ loi, sợ thờ ơ lạnh nhạt.
Vì thế, trong các nhà thơ, khao khát thực hiện bằng thơ cái nhu cầu đối thoại giao tiếp nh
Xuân Diệu, ông bộc bạch lòng ham muốn, bộc lộ nỗi hốt hoảng trớc sự chảy trôi của thời
gian.
Ông khẩn thiết kêu gọi mọi ngời hãy bận tâm, siêng năng mà sống, mà yêu cho toàn
vẹn tuổi xuân hiếm hoi của ta và những vần thơ si mê, đầy cuốn hút ấy là những cái bỏng l-
ỡi hay những cái đau răng và đã uống tham lam vào suốt mặt trời, đã ăn hàm hở vào trái
mùa xuân:
Tôi kẻ đa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay chín móng bám vào đời.
( H vô)
Hay:
16