BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ DUY LINH
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
XUÂN QUỲNH, PHAN THỊ THANH NHÀN, LÂM THỊ MỸ DẠ LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014
HÀ NỘI, 2014
Hà Nội, 2014 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Nam – ngƣời
thầy đã hƣớng dẫn tận tình và cho tôi những gợi ý quý báu trong quá trình
thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn thuộc chuyên
ngành Lý luận văn học, phòng Sau đại học, Ban giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2 đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Xin gửi tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp gần xa – những ngƣời luôn bên
cạnh giúp đỡ, động viên tôi những tình cảm yêu thƣơng nhất!
Tháng 6 năm 2014
Tác giả Hà Duy Linh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Mục đích nghiên cứu. 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. 9
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
7. Cấu trúc luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA
XUÂN QUỲNH, LÂM THỊ MỸ DẠ, PHAN THỊ THANH NHÀN 12
1.1. Lý thuyết về cái tôi trữ tình trong thơ 12
1.1.1. Khái niệm cái tôi 12
1.1.2. Khái niệm cái tôi trữ tình 14
1.2. Hành trình sáng tạo của Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn 21
CHƢƠNG 2: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
XUÂN QUỲNH,LÂM THỊ MỸ DẠ, PHAN THỊ THANH NHÀN 26
2.1. Cái tôi trữ tình trong những cảm xúc công dân 26
2.1.1. Với Tổ quốc và nhân dân 26
2.1.2. Với chiến tranh và kẻ thù 42
2.2. Cái tôi trữ tình trong những cảm xúc đời thƣờng 48
2.2.1. Cái tôi trong tình yêu đôi lứa 48
2.2.1.1. Một trái tim táo bạo, mạnh mẽ, nồng nàn đắm say. Khao khát yêu
thƣơng, hạnh phúc và luôn sẵn sàng hy sinh dâng hiến cho tình yêu 48
2.2.1.2. Tâm hồn phụ nữ đầy khắc khoải lo âu và trăn trở 59
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Xã hội phong kiến xƣa đầy những bất công, những hủ tục lạc hậu khiến cho
những ngƣời phụ nữ bị coi thƣờng, hắt hủi. Vậy mà trong hoàn cảnh đó vẫn có
những nhà thơ nữ với những tác phẩm bộc lộ đƣợc vẻ đẹp tâm hồn nhƣ Hồ Xuân
Hƣơng, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan. Đến thời kỳ đất nƣớc ta diễn ra
cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt với đầy những khó khăn thì nền văn học nƣớc
nhà cũng đón nhận nhiều nhà thơ nữ trƣởng thành trong đó phải kể đến những cái
tên nhƣ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ. Ba tác giả này đƣợc
coi là ba trụ cột của thơ nữ thời kỳ chống Mỹ. Thơ của các chị dù viết về cuộc chiến
tranh khốc liệt, về những khó khăn, thiếu thốn vật chất trong cuộc sống hằng ngày
hay về tình yêu và khát khao hạnh phúc đời thƣờng thì chúng ta đều thấy hiện lên
những phẩm chất đáng quý.
Lựa chọn đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ thơ Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ
Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn” cho luận văn của mình, chúng tôi xuất phát từ những
lý do sau:
Một là, tâm hồn là một thế giới rất phức tạp, nói đến tâm hồn là nói đến thế
giới bên trong, thế giới nội tâm không dễ gì nắm bắt đƣợc. Nó không nhƣ hình thức
bên ngoài mà ta dễ nhận ra và đánh giá nhƣng tâm hồn chính là kim chỉ nam cho
mọi hành động của con ngƣời.
Hai là, ngƣời phụ nữ Việt Nam có tâm hồn cao đẹp và rất đáng đƣợc ca
ngợi. Họ chung thủy, đảm đang, tháo vát, nhân hậu và rất nhạy cảm. Khi tìm hiểu
về thơ nữ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ chúng tôi thấy ba tác giả Xuân Quỳnh,
Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ có nhiều điểm chung. Các chị cùng sống
trong một thời kỳ lịch sử đất nƣớc có chiến tranh, có sự tƣơng đồng về hoàn cảnh
gia đình, cuộc sống khó khăn vất vả của bản thân. Trong thơ của các chị chúng tôi
thấy những khát vọng, những hi sinh, cả những lo âu trăn trở. Và trong hoàn cảnh
2
và vốn sống của mình. Đặc biệt ở mảng thơ tình, chị đã góp một tiếng nói quan
trọng thể hiện khát vọng yêu, khát vọng hạnh phúc muôn đời của phụ nữ. Đặng
Tƣơng Nhƣ đã có lần phát biểu: “Đọc thơ tình Phan Thị Thanh Nhàn thấy hiện lên
một phụ nữ yêu hết mình với một tình yêu không đòi hỏi đền đáp, bao giờ cũng lặng
lẽ hiến dâng, một tình yêu luôn giày vò, khắc khoải nhƣng không bao giờ phản
kháng và oán trách”.
Khi nhắc đến thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, ngay từ những năm đế quốc Mỹ đang
ném bom rất dữ dội ở Miền Bắc, bạn đọc nghe tin ở Quảng Bình cất lên những vần
thơ của một nhà thơ nữ trẻ, rất trẻ, đó là Mỹ Dạ, với những bài thơ làm rung động
tình cảm của rất nhiều nhà thơ cũng nhƣ bạn đọc. Qua những câu thơ, những bài thơ
ấy ngƣời ta thấy một tâm hồn rất hiền, rất xanh, trong sáng, với một tình yêu mơ
mộng để chống lại sự hủy diệt của bom đạn. Từ đó Mỹ Dạ đã thành một nhà thơ nữ
của cuộc kháng chiến chống Mỹ và sau này khi “Tập đề tặng một giấc mơ” xuất
hiện chúng ta thấy chị là một nhà thơ vừa có sự hồn nhiên của cây cỏ, đất trời, đồng
thời có nhiều suy nghĩ về cuộc đời ngƣời phụ nữ trong cuộc sống hiện nay, vói cuộc
đời riêng không phải là dễ dàng.
“Đọc thơ Lâm Thị Mỹ Dạ‟‟ của tác giả Vũ Quần Phƣơng có đoạn viết:
“Nhiều nét đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên và tâm hồn con ngƣời hiện diện trong thơ
chiến tranh của Mỹ Dạ. Thơ mang tính hƣớng nội và mang những nét của bản sắc
tâm hồn ngƣời viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai
thác, cách lọc tìm chất thơ trong đời sống ”
Trong “Vài dòng về Lâm Thị Mỹ Dạ”, Phan Thị Thanh Nhàn viết: Với tôi,
Mỹ Dạ ở trong thơ cũng nhƣ ngoài đời đều có gì đó rất tinh tế, rất sâu sắc. Tôi nghĩ
Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn có chất hồn nhiên, tinh tế nhƣng lại sâu đằm ở bên trong, tức
là có hồn thơ, rất nữ tính”.
Ba là, cái tôi trữ tình đƣợc thể hiện qua những vần thơ, những trang thơ là
tiếng nói của cõi lòng, của cảm xúc nhạy cảm của thi sĩ. Đó là tiếng nói sôi nổi trẻ
trung đầy ắp những trải nghiệm về con ngƣời, cuộc sống. Viết về tình yêu ta thấy rất
4
của trái tim xúc động, da diết chân thực. Nếu xem tình cảm sâu lắng chân thực nhƣ
một phẩm chất quan trọng của thơ tình thì chính thơ tình của các tác giả nữ dễ ƣu
trội hơn về phƣơng diện này‟‟. Quả thật nhƣ vậy bởi giữa những bài ca kháng chiến
hào sảng của cả dân tộc lúc này ta tìm thấy một “Phan Thị Thanh Nhàn dịu nhẹ,
duyên dáng mà kín đáo. Một Xuân Quỳnh giàu cảm xúc, sôi nổi mà dịu êm. Một Ý
Nhi giai đoạn này đã bộc lộ là một nhà thơ có nhiều suy nghĩ về cuộc sống và ta
còn gặp một Lâm Thị Mỹ Dạ giàu sáng tạo trong sáng, táo bạo, có nhiều tứ thơ lạ
nhƣng vẫn đầy nữ tính”.
Trong số những nhà thơ nữ thời kỳ chống Mỹ thì Xuân Quỳnh - Lâm Thị Mỹ
Dạ - Phan Thị Thanh Nhàn là ba gƣơng mặt tiêu biểu, thu hút đƣợc sự quan tâm của
giới nghiên cứu và phê bình văn học.
Về Xuân Quỳnh, có thể khẳng định cho đến nay chị đã có một vị trí chắc
chắn trong làng thơ. Các công trình nghiên cứu về thơ chị gồm có: “Xuân Quỳnh -
Lƣu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp” của tuyển tập nhiều tác giả; “Xuân Quỳnh
thơ với lời bình” của Vũ Thị Kim Xuyến; “Thơ Xuân Quỳnh” của Chu Văn Sơn;
“Cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh” của Lƣu Khánh Thơ Ngoài ra tác giả Đông Mai
còn có một cuốn sách tƣởng nhớ về thi sĩ khi chị qua đời: “Xuân Quỳnh một nửa
cuộc đời tôi”.
Bằng những cách tiếp cận khác nhau, những quan điểm khác nhau trƣớc một
vấn đề nào đó, các nhà nghiên cứu đã trình bày trong các bài viết của mình một
phong cách thơ Xuân Quỳnh với những vẻ đẹp phong phú, đa dạng. Ngay từ những
ngày đầu, tác giả Chu Nga đã nói về sắc biếc ở chồi thơ mới nhú này. Mƣợn tên tập
thơ đầu tay của Xuân Quỳnh (Chồi biếc) ngƣời viết muốn nhấn mạnh chất tƣơi trẻ,
hồn nhiên của một chồi thơ sắc biếc.
GS. Hà Minh Đức nhận định: “Nghĩ đến ƣu điểm của lực lƣợng thơ thẻ, tôi
muốn nói đến Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh Xuân Quỳnh đã đến với
thơ bằng tình yêu tha thiết của tuổi trẻ, lòng gắn bó với nghề nghiệp ( ) từ cái
riêng đi vào cái chung thơ Xuân Quỳnh dần trở nên phong phú và có bản sắc hơn.
6
Năm 1988, khi tập thơ mới „„Hái tuổi em đầy tay” ra đời, cây bút phê bình
Hồ Thế Hà đã đặc biệt quan tâm đến hiện tƣợng thơ Mỹ Dạ, đã chỉ ra hƣớng đi mới
của nữ sĩ: “chính là sự quay về gấp gáp và quyết liệt hơn với nhu cầu khám phá
những giá trị vĩnh hằng của con ngƣời và cuộc sống. Hành trình ấy chân thật, dữ
dội nhƣng đầy trách nhiệm đến nỗi nhà thơ phải trải lòng mình, trải hết vui buồn,
tốt xấu của chính mình để từ đó nhìn ra tha nhân, tâm tình cùng tha nhân” [28,35].
Từ đó ông thẳng thắn ghi nhận những thành công mới của thơ Mỹ Dạ: “Với hành
trình này, Lâm Thị Mỹ Dạ đã thành công trong cách thể hiện những vấn đề đời tƣ
với một giọng thơ lạ, cấu trúc nhiều tầng lớp, làm hiện lên những liên tƣởng, ý
tƣởng sâu sắc” [28,37]. Vũ Quần Phƣơng từng khẳng định nét riêng trong thơ Lâm
Thị Mỹ Dạ với “tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai thác, cách lọc
tìm chất thơ trong đời sống” tạo nên “một phẩm chất trữ tình khá thuần khiết”
[66,1]. Càng ở những chặng đƣờng sau, xu hƣớng cách tân của Mỹ Dạ càng đƣợc
đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt là sự đổi mới thi pháp:“lấy chính mình làm đối tƣợng
và dám vực dậy những ƣớc mơ tro vùi” [29,34]. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu đã
chỉ ra những nét đặc trƣng, sự vận động cùng những đóng góp của Mỹ Dạ cho thơ
Việt đồng thời không né tránh chỉ ra những hạn ché. Do đó, tìm hiểu về cái tôi trữ
tình trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ để nhận ra những nét riêng giữa dòng chung của hồn
thơ đặc sắc này.
Phan Thị Thanh Nhàn là cây bút cùng thời với Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ
Dạ, Ý Nhi, Dƣ Thị Hoàn Ngay từ những thập niên 60 khi tập thơ Hƣơng thầm ra
đời, đông đảo bạn đọc đã tiếp nhận và đón nhận Thanh Nhàn với tƣ cách là nữ thi sĩ
thơ tình và tuổi trẻ. Có rất nhiều bài đánh giá, nghiên cứu, phê bình về thơ chủa chị.
Tác giả Thiếu Mai với “Một nét thơ đáng yêu” đã nêu bật đặc điểm thơ của Phan
Thị Thanh Nhàn: “Dịu nhẹ, duyên dáng mà kín đáo, không chỉ khác so với các nhà
thơ nam giới mà ngay cả với các nhà thơ nữ cũng không thể lẫn. Đọc là mến ngay.
Và nhớ ngay”. Lời mở đầu của tập thơ Thơ với tuổi thơ, Vũ Quần Phƣơng đã viết
“Thanh Nhàn viết bằng những kỷ niệm ấu thơ và bằng chính những chất liệu của
cuộc sống thƣờng nhật. Bà không tìm thơ xa xôi, cũng không kiễng lên với những
8
những phụ nữ đầy nghị lực vƣợt lên những khó khăn của cuộc sống, thể hiện một
tâm hồn cao đẹp đó là vẻ đẹp của ngƣời phụ nữ Việt Nam .
Luận văn mong muốn mang lại hiệu quả giáo dục cho ngƣời đọc. Góp phần
tìm hiểu một cách chủ động, khách quan hệ thống cái tôi trữ tình trong thơ của ba
gƣơng mặt nữ sĩ tiêu biểu thời chống Mỹ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Từ đề tài trên, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu, khám phá vẻ đẹp tâm hồn
ngƣời phụ nữ qua hình tƣợng cái tôi trữ tình trong thơ nữ thời chống Mỹ (Xuân
Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ)
Mỗi một bài thơ đều bắt nguồn từ cảm xúc mạnh mẽ, thôi thúc cùng với sự
nhạy cảm của thi sĩ. Do đó nhiệm vụ của luận văn là đi sâu vào tìm hiểu vẻ đẹp tâm
hồn đƣợc thể hiện qua cái tôi trữ tình của mỗi tác giả.
4 2. Hình tƣợng cái tôi trữ tình tất yếu phải đƣợc thể hiện bằng văn bản ngôn từ.
Vậy nhiệm vụ thứ hai của luận văn đặt ra để giải quyết là: nghiên cứu những
phƣơng thức, phƣơng tiện biểu đạt, đặc sắc trong thơ của ba nhà thơ nữ tiêu biểu
cho các nhà thơ nữ thời kỳ chống Mỹ.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Thơ Xuân Quỳnh: Các tác phẩm chính:
- Chồi biếc (trong tập Tơ tằm - Chồi biếc, in chung với Cẩm Lai): 1963
- Hoa dọc chiến hào: 1968
- Gió Lào cát trắng : 1974
- Lời ru trên mặt đất: 1978
- Sân ga chiều em đi: 1984
- Tự hát: 1984
- Hoa cỏ may: 1989
10
Thơ Phan Thị Thanh Nhàn: Các tác phẩm chính:
- Hƣơng thầm: 1973
- Chân dung ngƣời chiến thắng: 1977
Chương 3 : Những hình thức thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Xuân
Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ.
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ QUÁ TRÌNH
SÁNG TẠO CỦA XUÂN QUỲNH, LÂM THỊ MỸ DẠ,
PHAN THỊ THANH NHÀN
1.1. Lý thuyết về cái tôi trữ tình trong thơ
1.1.1. Khái niệm cái tôi
Về thực chất, cái tôi là một khái niệm triết học. Các nhà triết học duy tâm là
tƣợng của nghệ thuật.
Trong phân tâm học, cái tôi là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại
và chịu ảnh hƣởng của tác động xã hội. Theo Phơ - rớt, cái tôi cùng với nó và cái
siêu tôi là ba miền của tâm thức. Cái tôi đƣợc hình thành ngay từ khi con ngƣời sinh
ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Cái tôi học cách cƣ xử sao cho kiểm soát
đƣợc những ham muốn vô thức không đƣợc xã hội chấp nhận. Cái tôi có vai trò
trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách,
xã hội.
Tiếp sau đó các nhà tâm lý học cũng đề cập tới khái niệm cái tôi khi xây dựng
các học thuyết về nhân cách. Tuy sự lý giải về nhân cách cũng nhƣ cấu trúc nhân
cách khác nhau nhƣng nhìn chung họ đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản cấu thành phần
ý thức của nhân cách con ngƣời.
Trong triết lý Phật giáo, cái tôi chính là ngã, là cái tôi đƣợc thiết thuyết với
một thể tính trƣờng tồn, không bị ảnh hƣởng của tụ tán, sinh tử. Quan niệm của Phật
giáo cũng nhƣ các tôn giáo khác nhƣ Nho giáo, Cơ đốc giáo đều hƣớng con ngƣời
đến đấng tối cao, quên đi cái tôi của mình. Song, để đạt đƣợc điều đó, tôn giáo đòi
hỏi mỗi cá nhân phải có một nghị lực phi thƣờng để vƣợt qua chính mình. Để chế
ngự cái tôi, vƣợt qua cái tôi, quên đi cái tôi, suy cho cùng lại phải thực sự nhận biết
tƣờng tận về cái tôi. Chính vì vậy mà chủ trƣơng diệt ngã, vô ngã, xoá cái tôi cá
nhân, tôn giáo cũng đã gián tiếp thừa nhận cái tôi tồn tại trong mỗi cá nhân. Duy có
điều, quá trình sống của con ngƣời là quá trình khẳng định cái tôi thì tôn giáo lại đi
ngƣợc lại – xoá bỏ cái tôi.
14
Triết học Mác - Lê Nin xác định: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con
ngƣời, của cá tính con ngƣời có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản
thân mình. Chỉ có con ngƣời độc lập, kiểm soát những hành vi của mình và có khả
năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình” (Dẫn theo Lê Lƣu
Oanh, thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).
Nhƣ vậy cái tôi thực chất là khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính phổ
sự phát triển của lịch sử văn học dân tộc. Trở về với thể loại văn học cổ xa văn học
dân gian cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca là cái tôi tìm thấy tiếng nói chung của
tập thể. Cái tôi ở đây không bộc lộ nhƣ một cá nhân riêng biệt mà chìm đi, biểu hiện
cái tôi xã hội, cái tôi của tập thể. Cảm hứng của các tác giả dân gian bắt nguồn từ
nhu cầu đƣợc chia sẽ, giao hòa và đồng vọng trong những cảnh ngộ tƣơng đồng.
Nhân vật trữ tình trong văn học dân gian chủ yếu là những ngƣời lao động, họ có
thể là những ngƣời đang dãi nắng dầm mƣa “trên đồng cạn, dƣới đồng sâu”, là
ngƣời đang nhọc nhằn lên đồng xuống truông và không gian họ xuất hiện cũng gắn
liền không gian lao động sản xuất: Bến nƣớc, con đò, bãi dâu, đồng cỏ, vƣờn
chè Cái tôi trữ tình dân gian về cơ bản là cái tôi phi cá thể hóa, hình thức của loại
hình văn học là diễn xƣớng và truyền miệng, thời gian và không gian mang tính ƣớc
lệ làm cho thời gian cá thể hóa của cái tôi tác giả mờ nhạt hẳn đi. Không gian có thể
thay đổi, chẳng hạn từ địa danh này sang địa danh khác vì thế làm mất đi cá tính cụ
thể của một hoàn cảnh cụ thể, diện mạo duy nhất của cái tôi dân gian là cái chung.
Sang đến cái tôi trữ tình trong thơ cổ điển chúng ta thấy có rất nhiều quan
điểm theo truyền thống bản chất con ngƣời bắt nguồn từ mối quan hệ cộng đồng,
làng xã và cá nhân không thể tách rời mối quan hệ ấy. Văn học chủ yếu phát ngôn
trên tính cách siêu cá nhân với những vấn đề của gia đình, dòng tộc, giai cấp, dân
tộc. Điều này tạo nên kiểu nhà thơ cổ điển, phi ngã. Chẳng hạn, Nguyễn Trãi thể
hiện lòng yêu nƣớc thƣơng đời qua hình tƣợng cây tùng. Cây tùng là biểu tƣợng cho
những phẩm chất chuẩn mực đƣợc xác định của ngƣời quân tử. Trong văn học trung
đại ý thức về cá nhân cá tính có xuất hiện nhƣng tồn tại trong những quy tắc luật lệ
khuôn mẫu mà ta gọi là tính quy phạm. Cái tôi trữ tình chủ yếu là cái tôi vũ trụ. Mỗi
sự việc hình ảnh đều mang ý nghĩa triết lý về quan hệ giữa con ngƣời và vũ trụ.
16
Phạm trù chính là tình cảnh, cảnh tình, cảnh sự, nhất là trong sự tƣơng thân, tƣơng
hỗ với thiên nhiên, vũ trụ. Các nhà thơ luôn đi tìm sự hài hoà giữa cái hữu hạn và vô
cùng, giữa nhất thời và vĩnh cửu, quá khứ và thực tại, thực hƣ, động tĩnh. Con ngƣời
không tách mình khỏi vũ trụ mà từ những bí ẩn của vũ trụ con ngƣời gián tiếp bộc
đƣợc những suy nghĩ, thái độ, tƣ tƣởng, của nhà thơ trƣớc cuộc đời. Và cái tôi trữ
tình cũng góp phần hình thành phong cách nghệ thuật của riêng tác giả.
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện bản chất cá nhân trong cảm thụ trữ tình đối với
đời sống, là trung tâm chi phối các nguyên tắc tổ chức nên một thế giới nghệ thuật
độc đáo. Cái tôi trữ tình là cái tôi nghệ thuật, nó phải tuân theo những nguyên tắc
đặc thù của nghệ thuật. Mặt khác cái tôi trữ tình thuộc về lĩnh vực thơ ca, nó lại tự
phân biệt mình với các thể loại kịch, tự sự bằng nội dung và cách biểu hiện của
nó. Do vậy mà giáo sƣ Hà Minh Đức khẳng định: “Trong thơ vấn đề chủ thể cái tôi
trữ tình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng”.
Tác phẩm nghệ thuật với tƣ cách là sản phẩm của hoạt động nghệ thuật, là
kết quả của cái tôi nghệ thuật - một kết quả của cái tôi đời sống. Do đặc thù từng
loại hình nghệ thuật mà cái tôi nghệ thuật này bộc lộ trực tiếp hay gián tiếp. Trong
tác phẩm tự sự, cái tôi nghệ thuật bộc lộ gián tiếp qua những hình tƣợng khách
quan. Trong tác phẩm kịch, tác giả hoàn toàn giấu mình. Trong tác phẩm trữ tình,
cái tôi nghệ thuật bộc lộ một cách trực tiếp. Thơ là một thể loại mà ở đó tác giả trực
tiếp thể hiện mình thông qua thế giới nội tâm của chính mình. Cái tôi cùng với thế
giới tri giác bằng cảm giác, cảm xúc và ấn tƣợng bộc lộ một cách hoàn toàn công
khai hơn bất cứ thể loại nào. Theo GS. Mã Giang Lân: “Sáng tạo thơ là một hành
động chủ quan, cái chủ quan tồn tại và trở thành trung tâm quy tụ mọi yếu tố khác
nhƣ cảm hứng, tƣ tƣởng, hình ảnh, giọng điệu, lời thơ Cái chủ quan đƣợc biểu
hiện cụ thể bằng cái tôi trong thơ” (Tìm hiểu thơ, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2000).
Tóm lại, cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ
tình. Bản chất chủ quan của thể loại trữ tình thể hiện ở nguyên tắc tiếp nhận và tái
hiện đời sống thông qua toàn bộ nhân cách chủ thể trữ tình.
Trong cuốn Mỹ học Hêghen quan niệm thơ trữ tình là sự biểu hiện và cảm
thụ của chủ thể. Ông nói: “Cần phải khẳng định một chủ thể cụ thể - nhà thơ nhƣ là
18
điểm tập trung và nội dung đích thực của thơ trữ tình”. Giáo sƣ Trần Đình Sử trong
Thi pháp thơ Tố Hữu nhận định: “Ở thơ trữ tình, cá nhân là trung tâm quan niệm
nội cảm đều tồn tại dƣới một hình thức nào đó. Hình thức đầu tiên của nó là ngôn
ngữ. Nhà thơ tƣ duy bằng ngôn ngữ. Thơ có cấu trúc cô đọng, hàm súc vì vậy ngôn
ngữ thơ phải chứa đựng nhiều thông báo. Một câu, một chữ có thể gợi lên nhiều lớp
nghĩa.
Thơ phân biệt với văn xuôi, kịch ngay từ hình dáng bài thơ, câu thơ, đoạn
thơ, kết cấu, nhịp điệu, liên tƣởng và cả ở hình tƣợng của nó. Vấn đề cốt lõi của
kịch là xung đột nên nó lựa chọ hình thức đối thoại, lập luận để đi đến các kết quả
cụ thể. Văn xuôi tập trung phản ánh hiện thực với mọi biến động tinh vi của nó nên
câu văn có thể ngắn dài, cụ thể, tỉ mỉ hoặc biểu tƣợng. Trong cuốn Thơ trữ tình Việt
Nam 1975 - 1990 tác giả Lê Lƣu Oanh đã đi đến kết luận: “Cái tôi trữ tình tồn tại
hai cách hiểu: về nghĩa hẹp cái tôi trữ tình là hình tƣợng cái tôi cá nhân cụ thể, cái
tôi tác giả tiểu sử với những nét rất riêng tƣ, là một loại nhân vật trữ tình đặc biệt
khi tác giả miêu tả, kể chuyện, biểu hiện về chính mình. Về nghĩa rộng, cái tôi trữ
tình là nội dung, đối tƣợng, phẩm chất của trữ tình. Quan điểm này coi cái tôi trữ
tình nhƣ một khái niệm phổ quát, phân biệt thơ trữ tình với các thể loại khác”
[65,57].
Bản chất của cái tôi trữ tình đƣợc bộc lộ rất rõ. Theo Hêghen: “Trữ tình là
thoát ly thế giới thực tại để nhờ tƣởng tƣợng tạo thành một thế giới mới làm cho thế
giới này biểu hiện sinh động cái chân thực nội cảm. Gọi cái tôi trữ tình là một thế
giới nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này là một chỉnh thể thống nhất, có ngôn ngữ
và quy luật riêng, chịu sự quy định của những quan niệm nghệ thuật riêng, phụ
thuộc vào lịch sử thời đại và lịch sử cá nhân” [27,9].
Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ.
Cái tôi trữ tình luôn tìm thấy một ý nghĩa tinh thần trong hình tƣợng cuộc sống.
Tình yêu là chuyện cuộc đời nhƣng mỗi nhà thơ lại phát hiện ở đó một ý nghĩa thẩm
mỹ không lặp lại. Đối với Xuân Quỳnh khát vọng tình yêu đã trở thành niềm nhức
nhối, lo âu, dự cảm, thành nỗi cay đắng và cô đơn. Với Mỹ Dạ, tình yêu luôn mang
trong mình nỗi khát khao đƣợc hi sinh, bù đắp hết mình vì ngƣời yêu; đó là một tình