ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỚI THỊ HỒNG
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN,
ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
2. Lịch sử vấn đề. 5
2.1. Tác giả Dư Thị Hoàn. 5
2.1.2. Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến. 8
2.1.3. Tác giả Hoàng Việt Hằng 10
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
3.1. Đối tượng nghiên cứu. 12
3.1.2. Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến luận văn khảo sát tập trung ở ba tập thơ:
12
3.1.3. Tác giả Hoàng Việt Hằng chúng tôi tập trung khảo sát qua hai tập thơ:
12
3.2. Phạm vi nghiên cứu. 12
4.Mục đích nghiên cứu. 12
5.Phương pháp nghiên cứu. 13
6.Bố cục của luận văn. 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH – SỰ HÌNH THÀNH
CÁ TÍNH SÁNG TẠO TRONG THƠ DƯ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN,
HOÀNG VIỆT HẰNG. 14
1.1.Khái niệm về “cái tôi”, “cái tôi trữ tình” và biểu hiện của cái tôi trữ tình
trong thơ ca truyền thống. 14
1.1.1.Cái tôi 14
1.1.2.Cái tôi trữ tình. 16
1.1.3.Các hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong văn học. 18
1.1.3.1.Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian. 19
1.1.3.2.Cái tôi trữ tình trong văn học cổ điển. 19
1.1.3.3.Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn 20
1.1.3.4.Cái tôi trữ tình trong thơ cách mạng. 21
1.2.Sự hình thành cá tính sáng tạo trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam
Luyến, Hoàng Việt Hằng. 21
1.2.1.Đặc điểm chung của thơ nữ Việt Nam sau năm 1986 21
3.2.2. Ngôn ngữ giản dị đời thường. 106
3.3. Giọng điệu 111
3.3.1. Giọng điệu lo âu, hoài niệm, trăn trở. 111
3.3.2. Giọng điệu trữ tình suy tư, trầm lắng. 118
3.3.3. Giọng điệu nồng nàn, ấm áp. 123
PHẦN KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với dòng chảy của thời gian, những gì của ngày hôm nay rồi sẽ dần trở
thành quá khứ của ngày sau. Cuộc sống vĩnh hằng vẫn lưu chuyển trong từng
khoảnh khắc của không gian và thời gian. Còn con người luôn mong ước được sống
hết mình cho từng giây, từng phút của đời người. Trọn vẹn với những ước mơ,
những yêu thương nồng nhiệt và cả những hờn tủi, đau đớn hay hạnh phúc đời
mình,Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng đã trải lòng qua các
trang thơ và lưu dấu ấn trong nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Cái tôi trữ tình là một trong những khái niệm triết học cổ nhất, đánh dấu ý
thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình, từ đó nhận ra mình là một
con người khác với tự nhiên, một cá thể độc lập khác với người khác. Cái tôi trữ
tình thể hiện một cách nhận thức, cảm xúc đối với thế giới, con người thông qua
lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ
tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang tính thẩm mỹ, nhằm
truyền đạt đến người đọc. Cái tôi trữ tình chính là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn
bản trữ tình. Chính vì vậy, nghiên cứu cái tôi trữ tình là để thấy cái tôi nhà thơ đã
được nghệ thuật hóa trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ, một thành
của nó.
2. Lịch sử vấn đề.
Trong nền văn học dân tộc thơ nữ luôn có bước tiến song hành , nó không
tách rời xu hướng phát triển của thơ ca dân tộc. Sự đóng góp của các nhà thơ nữ
thời kỳ đổi mới đã tạo nên những tiếng nói mới mẻ cho nền thơ ca hiện đại của dân
tộc. Nó trở thành đối tượng nghiên cứu của giới phê bình văn học. Qua khảo sát ,
thống kế chúng tôi đã tìm thấy nhiều bài viết liên quan tới đề tài. Nhìn vào những bài
viết này chúng tôi có thể khẳng định là cho đến nay những công trình, nghiên cứu,
tìm hiểu về các nhà thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng… đều
thống nhất, đánh giá, thơ các chị là tiếng nói chân thành tha thiết của trái tim phụ nữ,
những trăn trở suy tư của một kiếp người.
2.1. Tác giả Dư Thị Hoàn.
Dư Thị Hoàn là một trong những cây bút nữ tiêu biểu trong giai đoạn đổi mới
của văn học. Người ta viết khá nhiều về chị, nhưng chủ yếu dưới dạng những nhận
xét khái quát những đặc điểm cơ bản hoặc có tính giới thiệu, bình phẩm chứ chưa
nghiên cứu một cách có hệ thổng. Vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
đến cái tôi trữ tình đầy triết lý, chiêm cảm cùng đời tư thế sự phức tạp của thơ chị.
Tuy nhiên phải kế đến phải kể đến những công trình, những bài nghiên cứu có tính
chất khái lược về thơ chị. Tiêu biểu là các tác giả:Bùi Công Hùng, Hồ Thế Hà, Lưu
Khánh Thơ, Nguyễn Thụy Kha, Lê Lưu Oanh, Phong Lê, Bích Thu, Nguyễn Đằng
Điệp….
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất ở quan điểm thơ thời kỳ đổi mới
hướng vào cái tôi cá nhân, khẳng định con người cá nhân, cá tính thể hiện rõ trong
thơ Dư Thị Hoàn. Nhiều tác giả có những nhận xét, đánh giá chung về vị trí và đặc
điểm thơ Dư Thị Hoàn. Theo Bùi Công Hùng, “Dư Thị Hoàn thể hiện tâm tình của
một người phụ nữ người Việt gốc Hoa trong Lối nhỏ” [11, tr.294]. Với Lưu Khánh
Thơ, “Bài Tan vỡ của Dư Thị Hoàn cũng đã hơn một lần bị lên án nhắc nhở. Đến
nay, khía cạnh này được nhìn nhận đúng mức hơn. Có lẽ một phần do cách biểu hiện
của từng nhà thơ, phần nữa là do tâm lý và thị hiếu của người đọc ngày càng đa
dạng và hiện đại hơn” [29, tr.20]. Còn Hồ Thế Hà cho rằng, “Với tấm lòng bao dung,
những cảm xúc dễ dãi vay mượn ở người khác một cách giả tạo. Thơ chị là tiếng lòng
của chị được thể hiện một cách nghệ thuật” [11, tr.74].
Luận văn thạc sĩ Tình yêu trong thơ nữ Việt Nam từ 1986 đến nay nhìn từ cá
tính sáng tạo mang đặc điểm giới của tác giả Trần Thị Thu Hằng (năm 2006) có nhận
xét: “Dư Thị Hoàn đến với tình yêu bằng một giọng thơ mạnh mẽ, đầy cá tính. Xuất
hiện trên thi đàn chưa nhiều nhưng chị đã sớm khẳng định được chỗ đứng trong lòng
độc giả bằng những khám phá sáng tạo của mình. Chị đã tạo cho mình một lối đi riêng
dẫu không mấy bằng phẳng, dễ dàng. Thơ chị viết về tình yêu và những biến thái thăng
trầm của cuộc đời. Trong trang viết của chị có rất ít niềm vui mà thấm đẫm những nỗi
buồn trước nhân tình thế thái. Đó là nỗi đau mà chỉ trái tim nhạy cảm mới cảm nhận
được. Thơ chị là tiếng nói sẻ chia trước những nghịch lý, những bi kịch tình yêu của
người phụ nữ. Vẻ đẹp tâm hồn, lòng nhân ái của chị đã thổi vào những vần thơ rất gần
gũi, rất đời thường nhưng dễ được độc giả tiếp nhận” [13, tr.57].
Luận văn thạc sĩ Đặc trưng nghệ thuật thơ tự do của Lê Thị Mây, Dư Thị
Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên của tác giả Văn Thị Kiều Vương (năm 2010) cũng khẳng
định: “Thơ Dư Thị Hoàn là nỗi ám ảnh không nguôi về thận phận của những kiếp
người trong cõi nhân sinh. Đó là thân phận long đong của chính mình, của người phụ
nữ bạc mệnh, số phận bất hạnh, hẩm hiu, thiệt thòi của những kiếp người nhỏ bé trong
xã hội thông qua một loạt những hình ảnh thơ có tính biểu tượng cao” [31, tr.83].
Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nhà thơ Dư Thị
Hoàn, chúng tôi thấy rằng các tài liệu này đã chỉ ra nhiều điều lý thú và mới mẻ về Dư
Thị Hoàn, đặc biệt là về mảng thơ tình yêu. Các ý kiến tuy diễn đạt khác nhau nhưng
không đối lập nhau mà khá thống nhất trong xu hướng khẳng định vẻ đẹp và tài năng
của thơ Dư Thị Hoàn. Đó là những ý kiến vô cùng quý giá mà người viết có được để
làm tiền đề và mở đường trong việc triển khai các nội dung của đề tài luận văn này.
2.2. Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến.
Với Đoàn Thị Lam Luyến - chị đã khẳng định được một thế đứng trên thi đàn
văn học hiện đại. Với hàng loạt các tập thơ được xuất bản và đạt giải thưởng uy tín
của hội nhà văn. Thơ chị được độc giả đón nhận một cách khá nồng nhiệt, thế nên,
không hề quá lời khi ta nói rằng người đàn bà “dại yêu” là một hình tượng nổi bật
một trái tim thương yêu trong một đời sống pha tạp còn đầy những bất trắc. Tác giả
Ánh Xuân cũng giống như Lê Thị Mây nhận thấy rằng : Nếu như ở “Chồng chị
chồng em” là tâm trạng muôn thuở của thân phận người đàn bà, nhưng là một người
đàn bà hiện đại thản nhiên nhặt bã trầu về têm thì ở “Châm khói” là tâm trạng và
nỗi niềm của thân phận người đàn bà dở dang, nhỡ nhàng với những cung bậc khác
nhau: Cô đơn đến tận cùng, nuối tiếc, một cái cười diễu cợt… Và ở đó là lời ca của
một trái tim cháy bỏng yêu thương.
Đọc những dòng thơ tình yêu của Đoàn Thị Lam Luyến, tác giả Vũ Nho trên
báo Văn nghệ số tháng 5 – 2003 ở bài viết ngắn với tiêu đề “Đoàn Thị Lam Luyến -
Người yêu đến nát cuộc đời cho thơ” lại cảm nhận về thơ Lam Luyến: Với Lam
Luyến tình yêu như là cội nguồn, lại cũng là động lực nuôi dưỡng thúc đẩy cảm
hứng sáng tạo, và cũng là sông lớn, là biển cả, là ốc đảo, là miền đất hứa cho trái
tim hạn hán của Lam Luyến hướng về. Theo Vũ Nho thì dường như thơ của Lam
luyến trào dâng từ một tình yêu mãnh liệt của một trái tim cuồng nhiệt hiếm thấy ở
những cây bút nữ vốn thiên về ngọt ngào, duyên dáng và dịu dàng e ấp. Cô gái họ
Đoàn đòi hỏi yêu là cuồng nhiệt, yêu là phải cháy bùng ngọn lửa mê say, yêu là
phải hết mình.
Lam Luyến đã góp một tiếng nói quan trọng vào khát vọng yêu, khát vọng
hạnh phúc muôn đời của phụ nữ. Cùng bàn về vấn đề này, Phan Thị Thanh Nhàn
trong bài viết “Lam Luyến càng yêu càng gặp tình hờ” (Vnexpress – ngày
26/11/2008) khẳng định: Lam Luyến dám bộc bạch mọi nỗi niềm riêng tư của chị.
Những dòng thơ của chị làm người đọc nao lòng. Theo tác giả Thái Doãn Hiểu (Tạp
chí Sông Hương số 205 tháng 3 /2006) Lam Luyến là nhân vật độc đáo nổi lọan
tình yêu trong thơ. Lam Luyến lận đận nên khát yêu, vồ vập yêu, dại yêu, xây hạnh
phúc như “làm nhà trên lưng cá voi”, nàng dữ dằn châm khói, tuyên chiến với tình
yêu. Đúng là đọc thơ Lam Luyến chúng tôi thấy thơ chị luôn hướng về một thế giới
hoàn mỹ. Và chất thơ của chị lặng lẽ nhả hương trong bóng tối đời mình.
Tuy các bài viết chưa bao quát hết sự nghiệp thơ Đoàn Thị Lam Luyến,
nhưng ý kiến của những người đi trước đã là những gợi ý quý báu và định hướng
cho chúng tôi trong khi thực hiện bản luận văn của mình.
những câu thơ vỗ về kiếp người nổi nênh”.
Hoàng Việt Hằng xuất hiện trên văn đàn cách đây vài chục năm, trước hết
bằng văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn). Tuy Hòa sau đọc tản văn của Hoàng Việt
Hằng đã viết “ Văn xuôi của Hoàng Việt Hằng có gì lạ? Thứ nhất, chị có bề dày hoạt
động văn học để tạm đủ tư liệu viết về chân dung nghệ sĩ. Thứ hai, lối cảm lối nghĩ
của một nhà thơ mang lại vẻ đẹp riêng cho thể loại tùy bút hoặc tản mạn”. Chị đã có
4 tập văn xuôi xuất bản, nhưng hình như thơ mới là dòng chảy da diết nhất từ tâm
hồn chị. Đặc biệt với tập “Vệt trăng và cánh cửa” của chị đã đạt giải thưởng Hội nhà
văn Hà Nội. Phạm Hồ Thu đã chia sẻ sau khi tập thơ đạt giải thưởng “Vệt trăng và
cánh cửa là tập thơ thứ 5 của chị, cho biết một năng lực sáng tạo khá dồi dào, dẫu
bạn bè biết Hoàng Việt Hằng là một cá tính, không mấy ồn ào. Và điều này cũng làm
nên nét đẹp riêng của thơ chị”. Đó quả là một thành công đối với một người đàn bà
mang nghiệp cầm bút.
Những ý kiến trên tuy chưa trực tiếp đi sâu tìm hiểu, phân tích đánh giá về nghệ
thuật của thơ Hoàng Việt Hằng nhưng phần nào đã chỉ ra được tầm quan trọng và ý
nghĩa của thế giới nghệ thuật trong thơ của chị. Nhạy cảm với những vất vả,lam lũ,
nghèo khó của những phận người, nên Hoàng Việt Hằng đã có những vệt thơ riêng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Do luận văn nghiên cứu về ba tác giả nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một
vài tập thơ tiêu biểu thể hiện rõ cái tôi trữ tình của từng tác giả. Cụ thể như sau:
3.1.1.Tác giả Dư Thị Hoàn luận văn khảo sát ở hai tập thơ tiêu biểu:
1. Lối nhỏ (Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng xuất bản, 1988)
2. Du nữ ngâm (Tập thơ đăng mạng Internet)
3.1.2. Tác giả Đoàn Thị Lam Luyến luận văn khảo sát tập trung ở ba tập thơ:
1. Lỡ một thì con gái (1989)
2. Chồng chị chồng em (1991).
3. Dại yêu (2000).
3.1.3. Tác giả Hoàng Việt Hằng chúng tôi tập trung khảo sát qua hai tập thơ:
1. Một mình khâu những lặng im
Chương 3: Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến,
Hoàng Việt Hằng nhìn từ phương diện nghệ thuật.
PHẦN NỘI DUNG
của chính nhận thức. Đồng thời Kant cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhận thức
của cái tôi: “Tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó
mà ở trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi”.
Heghen (1770 – 1831) một mặt xem cái tôi như là sự tha hóa của “ý thức
tuyết đối”, một mặt nhấn mạnh vai trò tuyệt đối của cái tôi: cái tôi như là trung tâm
tồn tại, cái tôi có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện
thực.
Becxong (1858 – 1941) đã chú ý đến cái tôi thuần túy trong ý thức khi nhấn
mạnh đến đời sống bên trong cá nhân. Theo ông, trong con người có hai cái tôi: đó
là cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu. Trong đó, cái tôi bề mặt là các quan hệ của con
người đối với xã hội. Cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức. Đó mới chính là
đối tượng của nghệ thuật.
Các quan điểm duy tâm về cái tôi khẳng định: cái tôi là phương diện trung
tâm tinh thần con người, là cốt lõi của ý thức có khả năng chi phối hoạt động và là
sự khẳng định nhân cách con người trong thế giới. Tuy nhiên, các quan điểm trên đã
tách cái tôi khỏi con người xã hội sinh động, chưa nhìn thấy cơ sở lịch sử cụ thể và
tính tích cực của cái tôi.
Đối lập với quan điểm trên, triết học Mác đã xác định giá trị con người cá
nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ
xã hội. Theo Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩa như là một bộ mặt xã hội của con người,
như là kết quả của việc xã hội hóa cá thể con người và cá nhân cũng tìm thấy mình
trong xã hội. Lý tưởng giải phóng cá nhân của triết học Mác là tự do cho mỗi cái tôi
cá nhân trong tự do của tất cả mọi người. Đồng thời vai trò của cái tôi cũng được
khẳng định: “cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có
quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình”.
Như vậy, quan niệm cái tôi trong triết học đã đóng một vai trò rất quan trọng
trong việc nhận thức bản thể của con người, đồng thời nó cũng có mối liên hệ chi
phối, quen thuộc với cái tôi trữ tình trong thơ ca các thời đại.
1.1.2. Cái tôi trữ tình.
Lermôntôp có lần nói về tác phẩm của mình, một bài thơ trữ tình rằng:
yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xem như là một phương tiện bộc lộ
nội dung của tác phẩm,là một yếu tố của thế giới nghệ thuật do tác phẩm tạo ra. Ở
những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo, dấu ấn của chủ thể còn in đậm trong
từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ, bài thơ…
Mối quan hệ giữa chủ thể với hình tượng nhân vật trữ tình, là những hình
thức biểu hiện của chủ thể với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm thơ trữ
tình. Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua các yếu tố: chủ thể và cái tôi, cá tôi
của nhà thơ và cái tôi trữ tình trong tác phẩm. Chủ thể là một phạm trù được xem
xét trong mối quan hệ với khách thể, là phạm trù đối lập với khách thể ở tính tích
cực, thể hiện ở ý thức, ý chí và khả năng nhận thức, chiếm lĩnh hiện thực khách
quan. Cái tôi là yếu tố của chủ thể làm cho chủ thể ý thức được chính mình, là chức
năng tự nhận thức của chủ thế.
Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình
trong thơ. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát
trong toàn bộ sáng tác. Những sự kiện, hành động, tâm tình và ký ức trong cuộc đời
riêng cũng in đậm nét trong thơ. Cái tôi của nhà thơ có lúc thể hiện trực tiếp qua
những cảnh ngộ riêng, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín. Cái tôi của nhà
thơ còn hiện diện qua các cách nhìn, cách nghĩ, qua tình cảm thái độ trước thế giới.
Tuy nhiên, cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất. Cái
tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ
thuộc phạm trù nghệ thuật. Cái tôi trữ tình là cái cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật
hóa và trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ trữ tình, là một thành tố
trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Như vậy, trong mối quan hệ với nội dung và hình thức trữ tình thì cái tôi trữ
tình được quan niệm như hệ quy chiếu chủ quan, góp phần quy định các yếu tố
trong cấu trúc thể loại. Vì vậy cần xác định: cơ sở chủ quan của nội dung và hình
thức trữ tình với những biểu hiện của nó để từ đó khái quát được chức năng của cái
tôi trữ tình như một yếu tố trung tâm của thể loại. Theo Lê Lưu Oanh thì “cái tôi trữ
tình có thể được nghiên cứu ở ba cấp độ: tác phẩm, tác giả, thời đại. Mỗi cấp độ là
một giới hạn về lượng và chất của cái tôi trữ tình”
tộc. Chính yếu tố đó đã hình thành nên kiểu nhà thơ cổ điển “phi ngã”.
Trong văn học Trung đại ý thức về cá nhân cá tính có xuất hiện nhưng tồn tại
trong những quy tắc luật lệ khuôn mẫu mà ta gọi đó là tính quy phạm. Cái tôi trữ
tình chủ yếu là cái tôi vũ trụ, cái tôi cá tính đã khách thể hóa vũ trụ. Mỗi sự việc,
mỗi khung cảnh đều mang một ý nghĩa triết lý về quan hệ giữa con người và vũ trụ.
Do không tách mình khỏi vũ trụ, để từ những bí ẩn của vũ trụ gián tiếp bộc lộ
những bí ẩn của tâm hồn, vì thế biểu hiện tình cảm xã hội là gián tiếp, kín đáo. Cái
nhà thơ luôn đi tìm là sự hài hòa giữa cái hữu hạn và cái vô cùng, giữa nhất thời và
vĩnh cửu, giữa quá khứ và thực tại, giữa cái thực và cái hư, giữa cái động và cái
tĩnh.
Nhưng đã là thơ trữ tình thì không thể gọi là hoàn toàn “phi ngã”, cho dù
trong thơ chỉ có “mây, gió, trăng, hoa” Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương,
Tản Đà …đều đã tự xưng tên mình trong một số bài thơ. Nhưng do quan niệm về
cái cá nhân và ý thức về cái bản ngã chưa mạnh mẽ nên cái tôi trữ tình còn ẩn khuất
sau những nhân vật trữ tình khác. Các nhà thơ thời kỳ phong kiến không trực tiếp
viết về cái tôi như thời kỳ thơ lãng mạn.
1.1.3.3. Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn
Thơ Mới ra đời, cái tôi trữ tình giành lấy vị trí trung tâm trong mọi bài thơ,
bản chất của thơ lãng mạn là tiếng nói cá nhân. Kiểu nhà thơ lãng mạn song hành
với sự tự ý thức của cá nhân như là một cá thể độc đáo, riêng biệt, nó không chống
lại cái nhìn duy lý của chủ nghĩ cổ điển. Cái tôi cũng có khi là cái tôi cá nhân tự
biểu hiện, khép kín và cô đơn. Cách cảm, cách nghĩ, sự biểu hiện của thế giới và
con người đều là những yếu tố đặc thù tạo nên chất thơ của văn chương lãng mạn.
Các tác giả đã lấy cái tôi làm vị trí trung tâm để cảm nhận, và làm nguyên tắc cho
thế giới quan.
Thơ lãng mạn là thơ của tâm hồn, đưa nó thoát ra khỏi tính quy phạm và để
nó bộc lộ hết mình, “tâm hồn tiếp xúc trực tiếp với ngoại giới”. Tâm hồn đã trở
thành trung tâm phản ánh và có lẽ thế nên nó không ưa cõi thực tầm thường mà
thích những cái gì cá biệt khác thường, cái phi thường. Cái tôi trữ tình vượt lên trên
hoàn cảnh bằng những tưởng tượng khác thường, bằng mộng ảo, hoài niệm, tôn
Tiếp nối dòng chảy của lịch sử văn học, văn học Việt Nam sau thời kỳ Đổi
mới (1986) đến nay có những đổi thay đáng kể. Có thể thấy rất rõ là sự thay đổi
trong quan niệm nghệ thuật, thay đổi trong quan niệm về chức năng, nhiệm vụ và
phương pháp sáng tác văn học. Đó là sự thay đổi từ chức năng phản ánh tuyên
truyền trong văn học Cách mạng giai đoạn trước đó chuyển sang phản ánh con
người đời thường, con người cá nhân. Cái tôi cá nhân được tôn trọng và có vị trí
bình đẳng với cái ta. Bên cạnh đó, sự thay đổi trong tư duy sáng tác cũng là điều
đáng lưu ý, tư duy sáng tác từ hướng ngoại bắt đầu chú ý đến hướng nội. Văn học
thời kỳ này đề cập mạnh mẽ đến quan niệm về sự cách tân, hiện đại hóa. Lúc này,
văn học nói chung và thơ nói riêng được thể hiện dưới nhiều hình thức biểu hiện.
Có thể thấy rằng, chưa bao giờ thơ được “cởi trói” và có dịp thể hiện con người cá
nhân rầm rộ như bây giờ. Vì vậy, để hiểu hơn về quan niệm của các nhà thơ nữ nói
chung và Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng nói riêng, chúng ta
phải đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm của thơ họ.
Thơ là tiếng nói tâm hồn, tình cảm. Thơ là tiếng lòng và cùng với văn hóa
của nhà thơ làm nên giọng hay phong cách riêng. Đặc biệt với người phụ nữ, trái
tim của họ luôn nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc sống, nên những nỗi buồn
vui, trăn trở, suy tư của họ đều được thể hiện qua thơ. Thời kỳ đổi mới, quan điểm
“cởi trói” trong văn học nghệ thuật đã tác động đến tư duy, ý thức sáng tạo của các
nhà thơ, trong đó có các nhà thơ nữ.
Trong bầu không khí dân chủ của đời sống văn học từ sau 1986, thơ nhanh
chóng nhập cuộc với cuộc sống đa diện, đa chiều và phong phú của thời đại mới. Để
phù hợp với yêu cầu của đời sống, cảm hứng thơ không bị bó hẹp trong một phạm vi
đề tài nào mà ngược lại biên độ phản ánh của thơ ngày càng được mở ra theo nhiều
chiều kích mới, đa dạng và phong phú hơn. Thơ đi vào ngõ ngách của đời sống, cả
những vấn đề trước đây chưa được thơ quan tâm hoặc cấm kỵ, nay đã được khai thác.
Như vậy, có thể từ sau 1975, đề tài thơ đã được mở rộng trên nhiều bình diện, đặc
biệt từ sau 1986 khi vấn đề con người đã được quan tâm một cách chính đáng thì thơ
càng đi sâu vào khai thác đề tài đời tư, thế sự, trong đó có thơ của các nhà thơ nữ.
Nhận xét về các cây bút nữ, Bích Thu cho rằng: “Văn chương của phái đẹp hôm nay
cũng được đem bán mua, đổi chác, trái tim cũng trở nên cằn khô, cạn kiệt: “Thật
khủng khiếp khi lời yêu thương cạn kiệt/ Khi người ta cứ vô cảm sự đời/ Trước vẻ
đẹp của ánh trăng, ngọn cỏ/ Trước nỗi buồn da diết cũng dửng dưng” (Khoảng
cách – Hoàng Kim Dung).
Tình yêu luôn đồng hành với đau khổ và “những vết thương do tình yêu gây ra
dù không làm cho người ta chết, cũng không bao giờ chữa khỏi được” (Bairon). Vì
thế, thơ tình của các nhà thơ nữ hôm nay còn là nơi để họ giãi bày những nỗi đau của